MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Cháy rừng là một thảm họa thiên tai gây tổn thất to lớn, nhanh chóng về kinh tế
và môi trường sinh thái. Nó tiêu diệt gần như toàn bộ các giống loài trong vùng bị
cháy, thải vào khí quyển khối lượng lớn khói bụi cùng với những khí gây hiệu ứng nhà
kính như CO, CO
2
, NO v.v… Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng làm gia
tăng quá trình biến đổi khí hậu trái đất và các thiên tai hiện nay. Ảnh hưởng của nó
không những tác động đến một quốc gia mà còn ảnh hưởng đến khu vực và toàn cầu.
Trong vài thập kỷ gần đây, biến đổi khí hậu với những đợt nắng nóng kéo dài, bất
thường đã làm cho cháy rừng trở thành thảm họa ngày càng nghiêm trọng. Mặc dù
công tác phòng cháy, chữa cháy rừng ngày càng hiện đại nhưng cháy rừng vẫn không
ngừng xảy ra, thậm chí ngay cả ở những nước phát triển nhất. Đấu tranh với cháy rừng
đang được xem là một trong những nhiệm vụ cấp bách của thế giới để bảo vệ các
nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sống.
Ở Việt Nam mỗi năm xảy ra hàng trăm vụ cháy thiêu hủy hàng ngàn ha rừng, gây
thiệt hại lên đến hàng trăm tỷ đồng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường sinh thái,…
Theo báo cáo của Cục Kiểm Lâm từ năm 2005 - 2012, ở nước ta xảy ra 6.412 vụ cháy
rừng, gây thiệt hại 42.607 ha, hàng năm Nhà nước phải giành một nguồn kinh phí khá
lớn cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) (chỉ tính riêng năm 2005, Cà
Mau đã chi 6,5 tỷ đồng, Kiên Giang 2,4 tỷ đồng, Lâm Đồng 6 tỷ đồng, Gia Lai 1,4 tỷ
đồng,…) [1], [6], [7]. Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có nhiều vụ cháy rừng
gây nhiều tổn thất lớn về kinh tế, môi trường. Năm 2002, Vụ cháy rừng Tràm ở Vườn
Quốc Gia U Minh Thượng và U Minh Hạ làm thiệt hại trên 5.200 ha rừng, chi phí cho
công tác chữa cháy lên tới 7 - 8 tỷ đồng; năm 2007, tỉnh Yên Bái cháy 643 ha rừng, Lai
Châu cháy 230 ha,… Chỉ tính riêng đến tháng 3 năm 2007, cả nước bị cháy 512 ha,
trong đó có 237 ha rừng trồng phòng hộ. Hiện nay, nước ta có hơn 333.000 ha rừng dễ
cháy và rất dễ cháy thuộc 114 vùng trọng điểm, trong đó có 35.000 ha là rừng trồng [7].
Rừng là một nguồn tài nguyên quan trọng đối với Việt Nam cũng như bất cứ
quốc gia nào trên thế giới, là nguồn sống của người dân và có vai trò quan trọng đối
tăng trước tình hình biến đổi khí hậu khác thường, nguy cơ xảy ra cháy rừng tại các
khu vực rừng giáp ranh giữa các huyện trong tỉnh và tỉnh Lai Châu là rất cao, hiệu quả
của công tác PCCCR chưa cao, do đó đã gây thiệt hại nhiều về tài nguyên rừng, kinh tế
và môi trường. Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài: “Nghiên cứu và đề xuất một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng cháy và chữa cháy rừng tại huyện Sa Pa, tỉnh
Lào Cai” đặt ra là rất cần thiết, vừa có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
2
2. Mục tiêu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Nâng cao hiệu quả công tác PCCCR ở huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, góp phần
quản lý tài nguyên rừng bền vững.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được thực trạng công tác PCCCR trên địa bàn huyện Sa Pa; phân
tích được ưu, nhược điểm và bài học kinh nghiệm trong PCCCR.
- Đề xuất được một số giải pháp nâng cao hiệu quả PCCCR ở huyện Sa Pa,
tỉnh Lào Cai.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học:
- Làm rõ được đặc điểm tài nguyên rừng và vật liệu cháy tại huyện Sa Pa, tỉnh
Lào Cai.
- Xác định được một số luận cứ khoa học (các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã
hội) cho việc đề xuất các giải pháp PCCCR tại huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề xuất được các giải pháp PCCCR cho huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, trong đó
xác định được các công việc ưu tiên và các giải pháp làm giảm nguy cơ cháy rừng.
4. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai.
- Cháy rừng là một hiện tượng diễn ra phức tạp dưới ảnh hưởng tổng hợp của
nhiều nhân tố. Nghiên cứu PCCCR có nhiều nội dung, đòi hỏi đầu tư công sức và
kinh phí lớn. Trong khuôn khổ luận văn này với những hạn chế nhất định về thời
động lâm nghiệp. Có thể chia 5 lĩnh vực chính của nghiên cứu PCCCR: bản chất
của cháy rừng, phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng, các công trình PCCCR,
phương pháp chữa cháy rừng, và phương tiện chữa cháy rừng.
1.1.1.1. Nghiên cứu về bản chất của cháy rừng
Các kết quả nghiên cứu đã khẳng định rằng, cháy rừng là hiện tượng ôxy hóa
các vật liệu hữu cơ do rừng tạo ra ở nhiệt độ cao, nó xảy ra khi có mặt đồng thời của
3 thành tố là nguồn nhiệt, ôxy và vật liệu cháy. Tùy thuộc vào đặc điểm của các yếu
tố nêu trên, cháy rừng có thể được hình thành, phát triển hay bị ngăn chặn hoặc suy
4
yếu đi (Brown A.A,1979; Chandler C., Cheney P., Thomas P., Trabaud L., Wiliams
D., 1983) [22], [23]. Vì vậy, về bản chất những biện pháp phòng cháy rừng chính là
những biện pháp tác động vào 3 yếu tố trên theo chiều hướng ngăn chặn và giảm
thiểu quá trình cháy.
Các nhà khoa học phân biệt 3 loại cháy rừng như sau:
(1) - Cháy dưới tán cây hay cháy mặt đất rừng: là trường hợp chỉ cháy một
phần hay toàn bộ lớp cây bụi, cỏ khô và cành rơi lá rụng trên mặt đất;
(2) - Cháy tán rừng: là trường hợp lửa lan tràn nhanh từ tán cây này sang tán
cây khác;
(3) - Cháy ngầm: là trường hợp xảy ra khi lửa lan tràn chậm, âm ỉ dưới mặt
đất, trong lớp thảm mục dày hoặc than bùn. Trong một đám cháy rừng có thể xảy ra
một hoặc đồng thời hai ba loại cháy trên và tùy theo loại cháy rừng mà người ta đưa
ra những biện pháp phòng và chữa cháy khác nhau (Brown A.A,1979; Gronquist R.,
Juvelius M., Heikkila T., 1993; Mc Arthur A.G., Luke R.H.,1986; Timo V.
Heikkila; Roy Gronquist; Mike Jurvelius, 2007) [22], [25], [28], [31].
Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra 3 yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự
hình thành và phát triển của cháy rừng là thời tiết, loại rừng và hoạt động kinh tế -
xã hội của con người. Thời tiết đặc biệt là lượng mưa (L
m
), nhiệt độ không khí (T
kk
), số ngày không mưa và lượng bão hòa (L
bh
),… Cũng có sự khác biệt nhất định
khi sử dụng các yếu tố khí tượng để DBNCCR; chẳng hạn: ở Thụy Điển và một số
nước ở bán đảo Scandinavia sử dụng độ ẩm không khí thấp nhất và nhiệt độ không
khí cao nhất trong ngày; trong khi đó, ở Nga và một số nước khác lại dùng nhiệt độ
không khí và độ ẩm không khí lúc 13 giờ (Brown A.A, 1979) [22]. Năm 1920, hệ
thống cháy rừng ở Mỹ được đưa ra sử dụng và cho đến nay, nó đã được cải tiến
tương đối hoàn chỉnh. Hệ thống này, căn cứ chủ yếu vào mối quan hệ giữa nhiệt độ
không khí, độ ẩm không khí và độ ẩm vật liệu cháy để dự báo khả năng cháy rừng
cho các loại vật liệu cháy khác nhau trên cơ sở phân loại vật liệu cháy ra các nhóm
chính và kết hợp quan sát điều kiện khí tượng, địa hình, độ ẩm vật liệu cháy từ đó
đưa ra mô hình dự báo khả năng xuất hiện cháy rừng và quy mô đám cháy (Brown
A.A, 1979) [22]. Trong những năm gần đây, ở Trung Quốc đã nghiên cứu phương
pháp cho điểm các nhân tố ảnh hưởng đến NCCR, trong đó có cả những yếu tố kinh
tế - xã hội và NCCR được tính theo tổng số điểm của các yếu tố (Asian
Biodiversity, 2001) [20]. Mặc dù, có những nét giống nhau nhưng đến nay, vẫn
không có phương pháp DBNCCR chung cho cả thế giới mà ở mỗi quốc gia, thậm
chí ở mỗi địa phương người ta vẫn nghiên cứu xây dựng phương pháp riêng. Ngoài
ra, vẫn còn rất ít phương pháp DBNCCR có tính đến nhân tố kinh tế - xã hội và loại
rừng. Đây có thể là một trong những nguyên nhân chính làm giảm hiệu quả và hiệu
lực của phòng cháy rừng (PCR) ngay cả ở những nước phát triển.
1.1.1.3. Nghiên cứu về công trình phòng cháy rừng
Kết quả nghiên cứu của thế giới đã khẳng định hiệu quả của các loại băng cản
lửa, các vành đai cây xanh và hệ thống kênh mương ngăn cản cháy rừng (Gronquist
R., Juvelius M., Heikkila T., 1993) [25]. Người ta đã nghiên cứu tập đoàn cây trồng
trên băng cản lửa, trồng rừng hỗn giao và giữ nước ở hồ đập để làm giảm nguy cơ
cháy rừng. Từ những năm đầu thế kỷ XX, nhiều chuyên gia về lửa rừng ở một số
6
nước Châu Âu đã nghiên cứu và bước đầu đưa ra những ý kiến về xây dựng các
đề xuất ý kiến đốt rừng có kế hoạch nhằm giảm nguy cơ cháy, tăng sản lượng gỗ và
chim thú. Năm 1968, Morris đã cho thấy, việc đốt cỏ gà Cynodon dadyion vào cuối
7
mùa đông, đầu mùa xuân có tác dụng như bón phân làm tăng sản lượng sinh khối.
Từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX đến nay, có một số nước đi đầu trong lĩnh vực lửa
rừng của thế giới như: Australia, Mỹ, Nga, Canada, Indonexia, Thái Lan,… đã có
nhiều nghiên cứu và đưa ra được những quy trình đốt trước cho các khu rừng trồng
thuần loài có nguy cơ cháy cao. Biện pháp đốt trước có điều khiển đã được sử dụng
tương đối phổ biến và được coi là biện pháp quan trọng trong công tác quản lý lửa
rừng ở những nước này. Năm 1993, có một số tác giả người Phần Lan đã đưa ra các
vấn đề về khối lượng, độ ẩm vật liệu cháy, thời tiết, diện tích, địa hình và các vấn đề
về kinh phí, tổ chức lực lượng một cách khá toàn diện trong đốt trước có điều khiển
cho các vùng rừng trọng điểm cháy dựa trên nghiên cứu về đặc điểm nguồn vật liệu
cháy và việc đốt thử trên những diện tích rộng lớn (Gronquist R., Juvelius M.,
Heikkila T., 1993) [25].
(3)- Dùng chất dập cháy để giảm nhiệt lượng của đám cháy hoặc ngăn cách
vật liệu cháy với ôxy không khí (nước, đất, cát, hóa chất dập cháy v.v…).
Nhìn chung, các nghiên cứu về vấn đề này, thường được tiến hành nhiều ở các
nước đang phát triển, như: Đức, Mỹ, Nga, Úc, Canada, Trung Quốc,… Còn các
nước đang phát triển trong đó có Việt Nam chủ yếu là nghiên cứu, áp dụng những
công trình này, để phù hợp với điều kiện mỗi nước. Vì vậy, cần có những nghiên
cứu thực tế áp dụng cho công tác PCCCR ở mỗi quốc gia và mỗi địa phương.
1.1.1.5. Nghiên cứu về phương tiện phòng cháy và chữa cháy rừng
Những năm gần đây các phương tiện phòng cháy, chữa cháy rừng được quan
tâm nghiên cứu, đặc biệt là phương tiện dự báo, phát hiện đám cháy, thông tin về
cháy rừng và phương tiện dập lửa trong các đám cháy.
Các phương pháp dự báo đã được mô hình hóa và xây dựng thành những phần
mềm làm giảm nhẹ công việc và tăng độ chính xác của công tác dự báo. Việc ứng
dụng viễn thám và công nghệ GIS đã cho phép phân tích dược những diễn biến thời
tiết, dự báo nhanh chóng và chính xác khă năng xuất hiện cháy rừng và phát hiện
Đê, Lê Đăng Giảng, Phạm Ngọc Hưng, 1988) [8]. Đây là phương pháp đơn giản,
cấp nguy hiểm của cháy rừng được xác định theo giá trị khí tượng tổng hợp (P)
bằng tổng của tích số giữa nhiệt độ và độ chênh lệch bão hòa của không khí lúc 13
giờ hàng ngày kể từ ngày cuối cùng có lượng mưa dưới 3mm. Theo kết quả nghiên
cứu Phạm Ngọc Hưng (1988) [11] cho thấy, phương pháp của V.G. Nesterop có độ
chính xác cao hơn nếu tính giá trị P kể từ ngày cuối cùng có lượng mưa dưới 5mm.
Ngoài ra, trên cơ sở phát hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa số ngày khô hạn liên tục
(H) (số ngày liên tục có lượng mưa dưới 5mm) với chỉ số P, tác giả Phạm Ngọc
9
Hưng, (2004) [13] đã đưa ra phương pháp DBNCCR theo số ngày khô hạn liên tục.
Ông căn cứ vào số ngày khô hạn liên tục cho các mùa khí hậu trong năm xây dựng
một bảng tra cấp nguy hiểm cháy rừng. Tuy nhiên, khi nghiên cứu về tính thích hợp
của một số phương pháp DBNCCR ở miền Bắc Việt Nam, tác giả Bế Minh Châu
(2001) [4] đã khẳng định phương pháp DBNCCR theo chỉ tiêu P và H có độ chính
xác thấp ở những vùng có sự luân phiên thường xuyên của các khối không khí biển
và lục địa hoặc vào các thời gian chuyển mùa. Trong những trường hợp này, thì
mức độ lên hệ của chỉ tiêu tổng hợp P và chỉ số ngày khô hạn liên tục H với độ ẩm
vật liệu cháy dưới tán rừng và tần suất xuất hiện của cháy rừng rất thấp. Từ 1989 -
1991, dự án tăng cường khả năng phòng cháy, chữa cháy rừng cho Việt Nam của
UNDP, Cooper. A. N, (1991) [24] đã nghiên cứu, soạn thảo phương pháp DBNCCR
theo chỉ tiêu khí tượng tổng hợp P của V. G. Nesterop nhưng thêm yếu tố gió; chỉ
tiêu P của V. G. Nesterop sẽ được nhân với hệ số là: 1.0, 1.5, 2.0 và 3.0, nếu tốc độ
gió tương ứng là: 0 - 4, 5 - 15, 16 - 25 và trên 25 km/giờ. Tuy nhiên, đến nay chỉ
tiêu vẫn đang ở trong giai đoạn thử nghiệm.
Võ Đình Tiến (1995) [18] đã đưa ra phương pháp DBNCCR cho từng tháng
tại Bình Thuận theo 6 yếu tố: nhiệt độ không khí trung bình, lượng mưa trung bình,
độ ẩm không khí, tốc độ gió, số vụ cháy rừng, lượng người vào rừng (tất cả đều lấy
giá trị trung bình). Tác giả đã xác định được cấp nguy hiểm với cháy rừng cho từng
tháng trong cả mùa cháy. Đây là chỉ tiêu có tính đến cả yếu tố thời tiết và yếu tố
kinh tế - xã hội liên quan đến nguy cơ cháy rừng (NCCR). Tuy nhiên, vì căn cứ vào
chuyển,…) để làm băng. Trong những trường hợp này, đường băng thường chỉ xây
dựng dọc theo hai bên đường bằng một hoặc hai vành đai cây xanh cản lửa, có bề
rộng từ 6 - 10m. Những loài cây được giới thiệu đưa vào trồng thành băng hoặc đai
xanh cản lửa tại nhiều địa phương ở nước ta như sau:
- Cây Tống quá sủ (Alnus nepalensis): Ưa khí hậu á nhiệt đới, thường trồng ở
vùng núi cao dọc theo biên giới Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng.
- Cây Dứa bà (Agave americara): Chịu nước quanh năm, có khả năng ngăn
cháy lan mặt đất, có thể trồng rộng rãi nhiều nơi, như: Lâm Đồng, Quảng Ninh,…
- Cây Vối thuốc răng cưa (Schima superb Gardn. et Champ): Cây cao, thân
thẳng, mọc nhanh tiên phong trên đồi trọc hoặc tái sinh sau nương rẫy,… phân bố
nhiều ở miền Đông Bắc, cây có tác dụng ngăn lửa tốt cho rừng thông.
- Cây Me rừng (Phyllanthus emblica L): Loại cây bụi, thân chứa nhiều nước,
mọc nhiều ở vùng đồi núi trọc nên có thể chọn làm đai vản lửa ở nơi đồi trọc.
11
- Cây Thẩu tấu (Aporosa microcalyx Hassk): Cây bụi hoặc cây nhỏ, mọc phổ
biến ở đồi trọc, bãi hoang, nới rừng nghèo kiệt, phân bố vừng Bắc Bộ và Trung Bộ.
- Cây Đỏ ngọn (Cratoxylon pruuolium Dyer): Cây cao cỡ 6 - 10m, vỏ khi già
xốp có nhiều vảy, có khả năng phòng cháy, cây thường gặp ở các tỉnh Lạng Sơn, Hà
Bắc, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh
- Cây Dâu da đất (Baceaerea sapida Mull - Arg.): Là loại cây nhỡ, mọc rải rác
trong rừng thứ sinh tập trung ở vùng trung du Bắc Bộ và Trung Bộ.
- Cây Keo tai tượng (Acacia mangium Wild): Là loài cây có thể trồng ở hầu
hết khắp nơi trên nhiều loại đất; cây có tán khép kín, thường trồng ở đồi núi ở các
tỉnh Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng
Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Đắc Lắc, Kon Tum, Gia Lai,…
và có khả năng tạo ra đai xanh khép kín nhiều tầng, tẩng trên là Keo tai tượng, tầng
dưới là 1 số ít cây bụi thường xanh, tạo nên môi trường râm ẩm, có khả năng ngăn
ngừa lửa cháy lan từ ngoài vào rừng và ngăn cháy lướt trên ngọn cây rừng.
- Một số loài cây trồng trên kênh mương tạo băng cản lửa ở rừng tràm vùng
đồng bằng sông Cửu Long bao gồm: Dứa (thơm), Dừa nước (Nypa fruticans Wurb),
các loài khác. Theo kết quả nghiên cứu Trần Nguyên Giảng (1985) [10] thí nghiệm
trồng rừng hỗn giao trên đối tượng đất trống, trọc sau khí phá rừng để trồng cây
lương thực, đất phát triển trên nền đá vôi; thực bì gồm cỏ là xen cỏ tranh, lau, găng
gai,… Tác giả đã trồng Keo tai tượng và Keo lá tràm với mật độ 3.300 cây/ha làm
áo che phủ; khi keo được 2 tuổi, tác giả đã đưa vào trồng 10 loài cây lá rộng bản địa
là: Lát hoa, Sấu, Nhội, Giổi, Kim giao, Trám trắng, Gội trắng, Muồng đỏ, Lim xẹt
và giữa hai hàng keo theo phương pháp hỗn giao các loài theo hàng, cự ly 2m x 2m.
Trong thời gian qua, các loài cây bản địa được trồng nhiều và đã được nhiều tác giả
chú ý nghiên cứu đến; cụ thể: Nguyễn Bá Chất (1994) [3] nghiên cứu cơ cấu cây
trồng và xây dựng quy trình hướng dẫn kỹ thuật trồng cho một số loài cây chủ yếu
phục vụ Chương trình 327/CT-CP, sau đó là Dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng của
Chính phủ. Trong thời gian qua, nhiều tác giả đã nghiên cứu và thử nghiệm trồng
rừng hỗn giao ở nhiều vùng bằng nhiều loài cây với phương thức trồng khác nhau.
Tuy nhiên, các kết quả vẫn còn tản mạn, chưa được đúc kết, đánh giá và chưa được
áp dụng vào thực tiễn sản xuất; mặt khác, việc tìm chọn cấu trúc, loài cây, phương
thức trồng và thời điểm hỗn giao cũng rất phức tạp. Việc gây tạo rừng hỗn giao là
mong muốn của nhiều nhà lâm học đã và đang nỗ lực nghiên cứu thí nghiệm tạo ra
các lâm phần hài hòa, ổn định, bền vững về sinh thái và có giá trị cao về kinh tế.
13
(2) - Đốt trước vật liệu cháy là biện pháp làm giảm nguồn vật liệu cháy trong
rừng bằng cách chủ động đốt những vật liệu dễ cháy trong các khu rừng có nguy cơ
cháy cao vào thời gian trước mùa khô, nhưng có sự điều khiển của con người để
không gây cháy rừng và hạn chế tới mức thấp nhất những ảnh hưởng bất lợi của lửa
gây ra. Tuy nhiên, biện pháp này cho tới nay vẫn chưa được áp dụng phổ biến rộng
rãi ở nước ta. Việc tiến hành đốt trước khá phức tạp, đòi hỏi phải có nhiều kinh
nghiệm và phải được chuẩn bị chu đáo cả về lực lượng, phương tiện dập lửa (Bế
Minh Châu, Phùng Văn Khoa (2002)) [5].
Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu thử
nghiệm về biện pháp đốt trước nhằm giảm khối lượng vật liệu cháy. Cụ thể: Phó
Đức Đỉnh (1996) [9] đã thử nghiệm đốt trước vậy liệu cháy dưới tán rừng thông non
các tác giả cho đối tượng rừng thông ở Tây Nguyên và rừng Tràm ở vùng Tứ giác
Long Xuyên là tiêu biểu nhất. Tuy nhiên, các tác giả vẫn chưa định lượng được hiệu
quả của đốt trước vật liệu cháy để giảm nguy cơ cháy rừng cũng như lượng hóa các
tác động của đốt trước vật liệu cháy đến hoàn cảnh sinh thái và năng suất rừng
trồng. Vì vậy, tính thuyết phục của biện pháp đốt trước vật liệu cháy rừng chưa cao.
1.1.3. Nhận xét về vấn đề nghiên cứu
Tổng quan các vấn đề từ lý luận, thực tiễn và nghiên cứu liên quan đến PCR
ngoài nước và trong nước cho thấy:
- Trên thế giới nghiên cứu về PCCCR được bắt đầu từ thế kỷ XX. Các kết quả
nghiên cứu về bản chất của cháy rừng cũng chỉ ra 3 yếu tố quan trọng nhất ảnh
hưởng đến sự hình thành và phát triển cháy rừng là thời tiết, loại rừng và hoạt động
kinh tế - xã hội của con người đồng thời cũng khẳng định rằng, chưa có một yếu tố
nào khác ngoài ba yếu tố trên. Về các kết quả nghiên cứu về DBNCCR đều khẳng
định mối liên hệ chặt chẽ giữa điều kiện thời tiết với độ ẩm vật liệu cháy có khả
năng xuất hiện cháy rừng. Hầu hết các phương pháp DBNCCR đều tính đến đặc
điểm diễn biến hàng ngày của các yếu tố khí tượng. Đến nay, vẫn chưa có phương
pháp dự báo chung cho cả thế giới. Đối với các công trình PCR hiện nay, vẫn chưa
đưa ra được phương pháp xác định tiêu chuẩn kỹ thuật cho các công trình PCR. Các
biện pháp KTLSPCR trong thời gian qua, cũng chủ yếu làm giảm nguồn vật liệu
cháy bằng các biện pháp trồng rừng hỗn giao và làm giảm nguồn vật liệu cháy
bằng đốt trước.
- Trong nước nghiên cứu về PCR bắt đầu từ năm 1981, có nhiều phương pháp
DBNCCR khác nhau, trong đó vẫn chưa tính đến đặc điểm của các trạng thái rừng,
đặc điểm tiểu khí hậu và những yếu tố kinh tế - xã hội có liên quan ảnh hưởng tới
15
cháy rừng ở địa phương. Đối với các công trình PCR hiện nay, còn rất ít nghiên cứu
về hiệu lực các công trình cũng như phương pháp PCR. Song các công trình này,
được xây dựng dựa vào tài liệu nước ngoài là chính. Đối với các biện pháp
KTLSPCR có nhiều mô hình trồng rừng hỗn giao giữa các loài cây trồng và có thể
xem ba công trình thử nghiệm đốt trước vật liệu cháy rừng là tiêu biểu nhất. Tuy
- Phía Tây giáp huyện Tân Uyên, Tam Đường - tỉnh Lai Châu.
Huyện Sa Pa có 18 xã, thị trấn, trong đó thị trấn Sa Sa là trung tâm huyện lỵ,
nằm trên trục Quốc lộ 4D từ Lào Cai đi Lai Châu, cách thành phố Lào Cai 35 km về
phía Tây Nam.
1.2.1.2. Địa hình
16
Sa Pa có địa hình phức tạp, hiểm trở chia cắt mạnh thành nhiều hệ dông, khe
lớn nhỏ, độ dốc đất có rừng rất lớn từ 25 - 60
0
. Độ cao trung bình so với mặt nước
biển khoảng 1.600m, ảnh hưởng trực tiếp tới công tác PCCCR, huy động lực chữa
cháy rừng gặp nhiều khó khăn.
1.2.1.3. Khí hậu
Khí hậu Sa Pa mang đặc trưng chung của khí hậu khu vực Hoàng Liên Sơn,
hầu như quanh năm duy trì tình trạng ẩm ướt. Mùa đông thường mưa dai dẳng
nhiều ngày. Nhiệt độ trung bình là 15,2
o
C. Lượng mưa trung bình là 7,5 mm. Trong
năm, có 6 tháng khô hạn từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Độ ẩm trung bình là
87.6 %, độ ẩm năm thấp nhất bình quân là 49,6 %. Số giờ nắng trung bình là 3,8
giờ, số giờ nắng năm cao nhất bình quân là 9,4 giờ. Trong mùa khô hanh thường
kèm theo sương muối, mưa tuyết, mưa đá và gió Ô Quý Hồ là nhân tố chính gây
chết thực bì hàng loạt, khô nỏ rất dễ xảy ra cháy rừng. (Nguồn: Trung tâm khí
tượng thủy văn Sa Pa năm 2012).
1.2.1.4. Thủy văn
Sa Pa có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mưa lớn, địa hình phân cắt mạnh tạo ra
mạng lưới sông suối khá dày, bình quân khoảng 0,7-1,0 km/km
2
, có dạng cành cây và
vuông góc, hệ thống sông suối nhỏ và chủ yếu xâm thực sâu. Với hai hệ thống suối
- Về Động vật: Có hệ động vật phong phú và da dạng cao, theo thống kê có
555 loài động vật có xương sống, trong đó có 60 loài động vật quý hiếm ghi trong
sách đỏ Việt Nam (1992); 33 loài trong danh lục đỏ IUCN/2004; 05 loài chim đặc
hữu cho Việt Nam và 25 loài chim khác đặc hữu cho vùng núi cao Hoàng liên sơn.
- Về thực vật: Hệ thực vật Phan Si Păng mang đặc trưng các yếu tố thực vật Á
nhiệt đới và ôn đới của ba luồng thực vật đó là: Vân Nam-Hymalaya; Bắc Việt
Nam-Nam Trung Hoa và luồng thực vật Ấn Độ-Malaysia. Bước đầu đã thống kê
được 2.343 loài thực vật có mạch thuộc 1.020 chi và 256 họ; có số loài thực vật đặc
hữu, quí hiếm có 149 trên tổng số 2.343 loài, chiếm 25% số loài thực vật đặc hữu
của Việt Nam; số loài thực vật quí hiếm trong sách đỏ Việt Nam là 133 loài; sách
đỏ thế giới là 34 loài. Những loài thực vật quí hiếm đặc trưng đó là: Pơ Mu, Bách
xanh, Thông đỏ, Vân sam Hoàng liên, Đinh, Dẻ Tùng, Sến, Vù Hương, Chò Chỉ,
Lát Hoa, Tam Thất, Đẳng Sâm, Đỗ Trọng
- Diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp 50.596,79 ha, đất có rừng 46.059,69
ha, đất trống là 4.537,1 ha, trong đó rừng đặc dụng 20.976 ha, rừng phòng hộ
19.126,47 ha, rừng sản xuất 10.494,11 ha, tỷ lệ che phủ rừng đến 31/12/2012 đạt
67%: Rừng đặc dụng: Rừng đặc dụng trên địa bàn huyện Sa Pa thuộc Vườn quốc
gia Hoàng Liên quản lý, diện tích rừng tự nhiên 20.400,86 ha; Rừng phòng hộ:
Rừng phòng hộ thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ huyện quản lý, diện tích rừng tự
18
nhiên 15.174,4 ha; Rừng sản xuất: 6.875,46 ha. Diện tích rừng sản xuất chủ yếu là
rừng bảo vệ của cộng đồng thôn bản, diện tích rừng tự nhiên 4.218,84 ha;
19
1.2.2. Đặc điểm dân sinh kinh tế - xã hội
1.2.2.1. Tình hình dân số, lao động, thành phần dân tộc và phân bố dân cư
Dân số toàn huyện Sa Pa tính đến năm 2012 là 57.152 người, 10.975 hộ, trong
đó Nữ 28.223 người chiếm 49,38% tổng số dân. Dân số thành thị là 9.715
người/2.715 hộ, chiếm 17%.
Lực lượng lao động toàn huyện 29.875 người, chiếm 52,27 %, trong đó thành
thị là 6.012 người, nông thôn 23.863 người. Nhìn chung lực lượng lao động phân bố
ngân sách đứng thứ 2 của tỉnh (sau thành phố Lào Cai). Cơ cấu kinh tế đang chuyển
dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng dịch vụ, công nghiệp và giảm dần tỷ trọng nông,
lâm nghiệp và thuỷ sản. Với lợi thế lớn nhất của huyện Sa Pa là tiềm năng phát triển
kinh tế du lịch, nguồn thu từ dịch vụ du lịch đã đóng góp chủ yếu vào sự tăng
trưởng kinh tế của huyện. Bên cạnh đó tài nguyên đất màu mỡ, thích hợp với phát
triển trồng rau, hoa cao cấp và cây ăn quả.
Tính đến cuối năm 2012 thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn huyện Sa
Pa là 6,5 triệu đồng/người/năm. Nguồn thu nhập chính từ sản xuất nông lâm nghiệp,
lâm sản phụ dưới tán rừng là thảo quả và từ các dịch vụ du lịch. Trình độ dân trí của
một bộ phận dân cư còn thấp nhất là ở phụ nữ, trẻ em nhiều người còn chưa biết
tiếng phổ thông, chưa hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
Tập quán canh tác nông lâm nghiệp còn lạc hậu, đồng bào vẫn còn dùng lửa đốt dọn
thực bì để làm nương rẫy gây cháy lan nên ảnh hưởng lớn tới công tác PCCCR.
1.2.2.3. Hệ thống giao thông
Hiện nay huyện Sa Pa có các tuyến đường bộ Quốc lộ 4D chạy từ thành phố
Lào Cai qua huyện Sa Pa đi Lai Châu, đoạn qua địa bàn huyện dài 35 km đã được
đầu tư nâng cấp; Tỉnh lộ 155 đoạn qua địa bàn huyện xuất phát từ ngã ba Ô Quí Hồ
đến Tả Giàng Phình dài 20 km, đi Bản Xèo Bát Xát; Các tuyến huyện lộ: Từ Thị
trấn Sa Pa đi các xã vùng hạ huyện đã được nâng cấp đổ bê tông và giải nhựa. Hệ
thống mạng lưới giao thông từ các xã đi các thôn bản đang được sửa sang và mở
theo chương trình xây dựng nông thôn mới. Nhìn chung, hệ thống giao thông trên
địa bàn huyện được phân bố tương đối hợp lý, các xã đều có đường ô tô đến trung
tâm xã. Tuy nhiên một số xã, thôn bản đi lại khó khăn nhất là vào những ngày mưa.
1.2.2.4. Y tế
Trên địa bàn huyện có 01 Bệnh viện (105 giường bệnh); 05 Phòng khám đa
khoa (50 giường bệnh); 18/18 xã thị trấn đều có trạm Y tế xã (90 giường bệnh).
Hàng năm huyện đều làm tốt công tác chăm sóc sức khỏa cho nhân dân, công tác y
tế dự phòng và phòng chống các tệ nạn xã hội nên không có dịch bệnh xảy ra diện
rộng trên địa bàn. Có 5,6 % xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế.
21
PCCCR.
22
- Hàng năm vào thời điểm sau tết Nguyên đán đồng bào dân tộc ở các xã đốt
nương làm rẫy. Trong khi thời điểm này thời tiết nắng nóng, khô hanh kéo dài, gió
to nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao.
- Trên địa bàn toàn huyện Sa Pa nhìn chung tình hình kinh tế - xã hội đã có
bước phát triển, trường học, trạm xá, đường giao thông, thuỷ lợi, cấp nước sinh hoạt
đã được đầu tư xây dựng, tu sửa. Tình hình sản xuất nông lâm nghiệp các chỉ tiêu
đều tăng vượt kế hoạch, tỷ lệ hộ nghèo giảm, tỷ lệ người lao động có việc làm tăng,
thu nhập của người dân tăng, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi.
- Tình hình kinh tế xã hội phát triển làm cho áp lực đối với rừng giảm. Tuy
nhiên, đặc thù của Sa Pa chủ yếu dân tộc thiểu số, giao thông đi lại tới các thôn, bản
còn khó khăn, trình độ dân trí của một bộ phận dân cư còn hạn chế. Tập quán canh
tác nông lâm nghiệp còn lạc hậu vẫn phổ biến đốt phát dọn thực bì để làm nương
rẫy gây cháy lan nên ảnh hưởng lớn tới công tác PCCCR. Việc khai thác sử dụng
lâm sản, săn bắn động vật, chăn thả gia súc còn bừa bãi, tuỳ tiện ảnh hưởng tới chất
lượng rừng. Sa Pa là huyện du lịch, hàng năm du khách đến với Sa Pa rất lớn các
hoạt động du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học, dã ngoại ảnh hưởng tới rừng và
công tác PCCCR. Một số chính quyền cơ sở xã còn chưa nhận thức được tầm quan
trọng của công tác PCCCR nên còn chủ quan, lơ là không chỉ đạo sát sao, chưa coi
trọng tính phòng ngừa trong công tác PCCCR. Việc chuyển đổi mục đích sử dụng
đất của các công trình thuỷ điện làm giảm một phần diện tích đất sản xuất nông
nghiệp của nhân dân, làm giảm đáng kể sản lượng lương thực tạo áp lực lớn đối với
rừng và đất lâm nghiệp do phát sinh nhu cầu khai phá đất sản xuất nương rẫy, ảnh
hưởng trực tiếp đến công tác quản lý bảo vệ rừng và PCCCR.
23
Chương 2
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng và đặc điểm vật liệu cháy tại huyện Sa
nghiên cứu đề tài sẽ tiếp cận theo các trạng thái rừng cụ thể.
Tuy nhiên, cho đến nay vì ảnh hưởng xã hội đến cháy rừng là vấn đề tương
đối phức tạp và ít được nghiên cứu, các yếu tố này đang có sự thay đổi không
ngừng dưới ảnh hưởng của di cư tự do, của việc thực hiện các chương trình và dự
án phát triển, và sự tuyên truyền giáo dục của Nhà nước. Vì vậy, trong đề tài này
việc nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế - xã hội được xem như một nhóm
yếu tố tham khảo khi đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả phòng cháy chữa cháy
rừng trên địa bàn huyện.
Các bước nghiên cứu cụ thể của đề tài được thể hiện qua sơ đồ 2.1 dưới đây:
Hình 2.1. Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài
Do thời gian nghiên cứu của đề tài ngắn, địa bàn nghiên cứu rộng với nhiều
tính đặc thù khác nhau, vì vậy cách tiếp cận chủ yếu của đề tài là kế thừa các thông
tin, số liệu đã có.
25
Thu thập các thông tin, số liệu
đã có
Khảo sát sơ bộ khu vực nghiên
cứu, lựa chọn địa điểm điều tra
Hiện trạng rừng tại
khu vực nghiên
cứu
Thực trạng công tác
PCCCR những năm
qua
Các yếu tố tự nhiên,
kinh tế - xã hội ảnh
hưởng đến cháy rừng
Phân tích SWOT và bài học kinh
nghiệm
Đề xuất giải pháp PCCCR