1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cây củ mài (Dioscorea persimilis Prainet Burkill), thuộc họ Củ nâu
(Dioscoreaceae) là một trong những loài thực vật thân leo nằm trong danh mục
nhóm lâm sản ngoài gỗ (Nguyễn Hồng Quân, 2006 ) 15. Ngoài ra trong dân
gian cây củ mài còn được biết đến với nhiều cái tên khác nhau như: khoai mài,
sơn dược, mằn chèn, mán dịn, co mằn kép (tiếng dân tộc Thái), mằn ôn (tiếng
dân tộc Nùng), hìa dòi (tiếng dân tộc Dao), gờ lờn (tiếng dân tộc K'dong) củ mài
sau khi chế biến được gọi là hoài sơn. Cây củ mài là loài cây có rễ củ lớn, chứa
nhiều tinh bột, có vị ngọt, ngoài ra các lá non và thân non cây củ mài cũng được
sử dụng như một loại rau rừng (Võ Văn Chi, 1998) 5. Do có vị ngọt và tính
mát, mùi vị rất đặc trưng nên từ nhiều năm nay củ mài được chế biến thành
những mặt hàng thực phẩm đặc sản (bánh củ mài, chè củ mài ) tại một số vùng
miền núi như Chùa Hương, Đền Hùng, Phú Thọ.
Cây củ mài ngoài vai trò chính là nguồn cung cấp lương thực, trong dân
gian củ mài còn được con người nghiên cứu và biết đến với vai trò là một vị
thuốc nằm trong danh mục Dược điển Việt Nam (Đỗ Huy Bích, 2004) 1, (Đỗ
Tất Lợi, 2003) 13.
Khu rừng đặc dụng Copia, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La nằm tại khu
vực miền núi phía Tây Bắc, có diện tích 19467,7 ha, với sự đa dạng về hệ thống
thực vật. Ngoài những lâm sản trực tiếp từ rừng như: gỗ, củi, động vật rừng…thì
khu vực này còn có sự phân bố của nhiều loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị, như củ
mài, dây bò khai, sa nhân tím, trám đen. Đây là khu vực có nhiều dân tộc cùng
sinh sống như dân tộc Thái, Hơ’Mông, Xá, Kinh tuy nhiên chủ yếu là cộng đồng
dân tộc Thái là có số lượng đông nhất (với 10.538 nhân khẩu, chiếm 51,7% tổng
dân số toàn khu rừng đặc dụng). Các dân tộc tại đây đã gắn bó từ nhiều đời với
rừng, rừng chính là nguồn nguyên liệu cung cấp trực tiếp hay gián tiếp các nguồn
sống chính của người dân ở đây, họ có một kiến thức bản địa phong phú về sử
doanh lâm sản ngoài gỗ‖.
3
Trong ―Đề án về bảo tồn và phát triển lâm sản ngoài gỗ giai đoạn 2006-
2020‖ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm (2006) 3. Với nội dung ưu
tiên phát triển các lâm sản ngoài gỗ trong đó việc nhân giống và gây trồng cây củ
mài được xây dựng ở cả khu vực đồng bằng và miền núi phái Bắc, nhằm tăng
thêm thu nhập cho người nông dân đồng thời góp phần bảo tồn các loài lâm sản
ngoài gỗ và bảo về môi trường rừng.
Cây củ mài được người dân địa phương biết đến và sử dụng từ rất lâu đời,
tuy nhiên một hiện trạng ở khu vực nghiên cứu là chưa có một phương pháp hay
một mô hình nghiên cứu nào về loài cây này tại khu vực, người dân khai thác cây
củ mài từ tự nhiên, với mục đích làm thực phẩm ăn ngoài là chính còn thu hoạch
về làm thuốc chỉ chiếm một số lượng ít. Việc nghiên cứu gây trồng củ mài còn
chưa được chú ý đúng mức chỉ mang tính tự phát và thu hái tự nhiên. Vì vậy,
không có những biện pháp nhân giống để gây trồng cũng như bảo tồn, phát triển
thì loài cây này sẽ ngày càng bị suy thoái, đồng thời cũng góp phần làm tăng
thêm thu nhập kinh tế cho nhân dân địa phương.
Việc nghiên cứu các phương pháp bảo tồn và phát triển lâm sản ngoài gỗ
nói chung và củ mài nói riêng là một trong những vấn đề thu hút được mối quan
tâm của nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Hướng nghiên cứu bảo tồn
loài cây này tại địa phương cũng phù hợp với định hướng về phát triển các loại
lâm sản ngoài gỗ theo chủ trương của nước ta.
Với mục tiêu đó, nhằm tìm hiểu đặc điểm phân bố tự nhiên của củ mài và
nghiên cứu phương pháp nhân giống, chăm sóc, nhằm góp phần vào bảo tồn và
gìn giữ sự đa dạng thảm thực vật, đồng thời nâng cao thu nhập kinh tế cho người
dân khu vực Tây Bắc giảm bớt sự lệ thuộc vào rừng. Tôi tiến hành thực hiện đề
tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái của cây củ mài và khả năng nhân
giống bằng hom củ trong giai đoạn vườn ươm tại rừng đặc dụng Copia,
huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La” .
5
CHƢƠNG I
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Tổng quan tài liệu về nghiên cứu và sử dụng cây củ mài
1.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây củ mài ở Việt Nam
*) Nghiên cứu về đặc điểm hình thái giải phẫu cây củ mài
Trong cuốn sách ―Cây thuốc và vị làm thuốc Việt Nam‖ Đỗ Tất Lợi đã mô
tả về đặc điểm hình thái cây củ mài (Đỗ Tất Lợi, 2004) 13. Cây củ mài là loài
dây leo sống lâu năm trong rừng nhiệt đới có thân nhẵn, hơi góc cạnh, màu hồng
đỏ. Rễ ăn sâu hơi phình phía gốc, vỏ ngoài màu nâu xám, thịt mềm màu trắng. Lá
mọc so le mọc đối hay hình tim dài 10cm, cụm hoa đơn tính. Quả nang, hạt có
mào thích nghi với lối thụ phấn nhờ gió. Năm 2011 sau cuộc thi Chương trình
sáng tạo Việt Nam ―Viet nam Innovation Day 2011- VID, 2011‖ (Traphaco,
2012) 30 công ty cổ phần Traphaco được nhận tài trợ của Ngân hàng thế giới
với đề án ― Xây dựng bộ nhận diện củ mài (Dioscorea persimilis) và vị thuốc
hoài sơn (Tuber Dicoscorea per similis). Hiện nay công ty vẫn đang tiến hành
nghiên cứu về loài cây củ mài: phương pháp trồng, thu hoạch và chủ yếu là
nghiên cứu phương pháp chế biến củ mài thành những vị thuốc. Trong dự án hợp
tác kỹ thuật ―Dự án nâng cao năng lực nghiên cứu trường Đại học Tây Bắc hợp
tác với tổ chức JACA Nhật Bản‖ có một hợp phần nghiên cứu về ―Giải pháp kỹ
thuật nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cây củ mài tại khu vực đèo Pha Đin tỉnh
Sơn La‖ đang tiến hành nghiên cứu về các đặc điểm hình thái nhận dạng cây củ
mài cũng như nghiên cứu về biện pháp gây trồng loài cây này trên thực địa (Đại
học Tây Bắc, 2012) 27.
Ngoài các nghiên cứu của các tác giả trên còn có nghiên cứu khác về hình
Đa phần các nghiên cứu về gây trồng mới chỉ được nghiên cứu sơ lược về
cách nhân giống và gây trồng sản xuất nhằm phục vụ mục đích sử dụng củ để
làm thuốc, ít có những nghiên cứu về vai trò làm thực phẩm của cây củ mài.
Theo nghiên cứu của ―Trung tâm nghiên cứu khoa học nông vận‖ (Trung
tâm Nghiên cứu khoa học nông vận, 2013) 31 củ mài thích hợp với những nơi
có độ ẩm không khí 82-85%, sinh trưởng mạnh trên các dạng đất rừng còn tương
đối tốt, hàm lượng mùn và đạm khá cao, đất giàu kali dễ tiêu, có thành phần cơ
7
giới thịt - thịt nặng, tầng đất dày, không hoặc ít đá lẫn. Đất gần như đủ ẩm quanh
năm, xốp, thấm nước nhanh, khả năng giữ giữ nước cao, thoát nước tốt, không bị
úng. Nhân giống cây củ mài bằng phương pháp sinh dưỡng: Sử dụng củ con hay
gốc rễ, mật độ trồng: 2x2 m, 2.500 cây/ha. Kích thước hố là 40 x 40 x 40.
Trung tâm ứng dụng khoa học- công nghệ tỉnh Bình Dương (Trung tâm
ứng dụng khoa học- công nghệ tỉnh Bình Dương, 2012) 32 đã tiến hành triển
khai mô hình trồng củ mài trên đất dốc. Theo trung tâm cây củ mài ở giai đoạn
nhỏ, có khả năng chịu bóng, do đó nó có thể tái sinh tự nhiên dưới tán rừng tự
nhiên thứ sinh có độ tán che 0,3-0,5%. Sau đó, nhu cầu ánh sáng tăng dần, trở
thành loài cây có nhu cầu ánh sáng tương đối cao nên cây củ mài phải nhờ các
cây gỗ xung quanh để leo lên tầng trên cua tán rừng, nơi có đầy đủ ánh sáng hơn.
Cây củ mài là loài cây ưa ẩm, không chịu được úng nước và khả năng chịu hạn
kém. Cây có nhu cầu tương đối cao về các chất khoáng dinh dưỡng N, P, K, đặc
biệt là đạm và kali. Theo nghiên cứu của trung tâm cây củ mài được trồng vào
mùa xuân, lúc khí hậu băt đầu ấm và ẩm hơn và sử dụng các đầu rễ củ làm giống
(rễ củ), mật độ trồng: 2x2m – 2500 cây/ha. Cây củ mài được trồng trong hố với
kích thước hố là 40x40x40cm.
Sau khi trồng hai tháng tháng, khu vực trồng cây củ mài thường có nhiều
cỏ mọc, cần tiến hành phát quang, làm cỏ, xới gốc cho cây. Hàng năm chăm sóc
cây củ mài 3 lần vào tháng 4, tháng 7 và tháng 10. Khi cây củ mài dài khoảng 20-
25 cm tiến hành cắm các giá thể leo cho cây củ mài leo lên (cành cây khô, làm
giới với đề án (Traphaco, 2011) 30.
Từ rất lâu đời cây củ mài đã được các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực y học viết
lên những cuốn sách cẩm nang về vai trò của củ mài trong việc chữa bệnh cho con
người. Theo tài liệu y học cổ: Sách Bản thảo cương mục: " hoài sơn ích thận khí, kiện
tỳ vị, cầm tả lî, hóa đờm diện, nhuận bì mao (Lý Thời Trân, 1963) 20.
9
Theo phân tích của Viện Dược liệu Việt Nam (2011) 33 trong rễ củ của cây
củ mài khô có chứa một số thành phần dinh dưỡng như: gluxit 63,25%, protit 6,75%,
lipit 0,45%, chất nhầy 2,0 – 2,8%, dioscin sapotoxin, allantoin, dioscorin và các axit
amin, mucin là một loại protein nhớt và một số chất khác như allantion, cholin,
arginin, men maltose, saponin có nhân sterol. Viên đã có một số nghiên cứu tác dụng
dược lý của củ mài trên cơ thể sống (chuột) thông qua các chỉ tiêu như tăng thân
trọng, tăng sự đồng hóa và tác dụng nội tiết hướng sinh dục….
Theo danh y Đỗ Tất Lợi (2004) 13 chất mucin trong củ mài hòa tan
trong nước ở điều kiện axit và nhiệt độ thích hợp sẽ phân giải thành chất protid
và hydrat carbon. Ở nhiệt độ 45 – 55 độ C, khả năng thủy phân chất đường của
men trong củ mài rất cao, trong axit loãng trong 3 giờ có thể tiêu hóa 5 lần lượng
đường có vai trò rất quan trọng trong việc chữa bệnh tiểu đường ở con người. Củ
mài với công năng kiện tỳ, chỉ tả, bổ phế khí, ích thận, cố tinh, giải độc, được
dùng trong các trường hợp tỳ vị hư nhược, ăn uống kém tiêu, tiêu chảy hoặc trẻ
em bị vàng da, bụng ỏng, mắt mũi nhoèn gỉ mà y học cổ truyền gọi là ―bệnh
cam‖, có thể phối hợp với các vị thuốc kiện tỳ: bạch truật, hoàng kỳ, bạch biển
đậu… hoặc trong trường hợp khí phế hư nhược, đoản hơi, mệt mỏi, ho khan,
phối hợp với đảng sâm, cát cánh, bách bộ Còn dùng khi thận hư, mộng tinh, di
tinh, tiểu tiện không cầm, phụ nữ bạch đới, phối hợp với ba kích, kim anh, khiếm
thực…, đái tháo đường, phối hợp với mạch môn, thiên hoa phấn, sinh địa…
Dùng ngoài, trị viêm tuyến vú gây đau đớn: củ mài tươi, rửa sạch, giã nát, đắp
vào chỗ sưng đau, cách dùng vị hoài sơn là rất phong phú và đa dạng.
Đề tài ―Chế biến tinh bột củ mài hỗ trợ điều trị bệnh nhân đái tháo đường
Trong cuốn Từ điển bách khoa về phương thuốc cổ truyền Trung Quốc,
(1997) (bản dịch) 25 đã nêu vai trò của rất nhiều các loại mộc thảo trong lĩnh
vực y học dân gian cũng như y học hiện đại. Cây củ mài được biết đến với các
phương thuốc chữa các bệnh về đường tiêu hóa hoặc kết hợp với các vị thuốc
thảo mộc khác chữa được dùng để chữa bệnh.
Cây củ mài phân bố rất nhiều ở Trung Quốc nhất là những vùng đồi núi hoặc
các vùng ven chân núi. Theo kinh nghiệm dân gian người dân thường đi đào củ mài
về để chế biến thành các món ăn (trộn cơm, nấu canh, làm súp….). Ngoài ra củ mài
(sau khi chế biến được gọi là hoài sơn) còn được sử dụng sấy khô để làm thuốc bắc.
11
Nhật Bản: Một số trường đại học ở Nhật đã nghiên cứu và phân loại các
cây trong họ Củ Nâu. Các sản phẩm đó cũng đã được đưa vào sử dụng trong cuộc
sống. Nghiên cứu về thời gian ngủ nghỉ và tác động của các hóa chất sinh trưởng.
Ảnh hưởng của điều kiện dinh dưỡng tới sự sinh trưởng và phát triển của cây củ
mài (Onjo M., 2003)26.
Người dân Nhật Bản sử dụng củ mài để làm thực phẩm ăn tươi phục vụ
cho đời sống ẩm thực như lấy chất nhầy, trộn thêm các thức ăn khác: tương,
trứng sống, cơm… Ngoài ra củ mài còn được chế biến làm sạch đóng gói và bảo
quản lạnh thành các sản phẩm để bán trong các siêu thị, nhà hàng.
Hình 1.2: Củ mài tại Nhật Bản (Siêu thị tại thành phố Isahaya ngày 30/10/2012)
Từ những nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam cho thấy những nghiên
cứu mới chỉ tập trung chủ yếu vào nghiên cứu tác dụng của cây củ mài vào lĩnh
vực y học, chứ chưa đi sâu vào những nghiên cứu cơ bản về loài cây này, nghiên
cứu mới chỉ mang tính mô phỏng về hình thái. Hiện nay ở Việt Nam có rất ít các
công trình nghiên cứu chuyên sâu về phương pháp nhân giống từ hom và
phương thức gây trồng loài cây này, đặc biệt tại khu vực nghiên cứu.
1.3. Tình hình nghiên cứu kiến thức bản địa ở Việt Nam
Việt Nam với diện tích 3/4 là đồi núi, với cơ cấu sản xuất nông nghiệp
nghị phương pháp điều tra về cơ bản vẫn áp dụng PRA và RRA, tuy nhiên cần
tăng cường quan sát nhiều hơn khi phỏng vấn.
Ở Việt Nam có rất nhiều cộng đồng có các luật tục liên quan đến quản lý
bảo tồn các nguồn tài nguyên. Theo Ngô Đức Thịnh (2001) [17] thì luật tục là
một hình thức của kiến thức bản địa. Nó được hình thành trong quá trình lịch sử
lâu dài, qua kinh nghiệm ứng xử với môi trường và xã hội. Chính vì vậy, các luật
13
tục này thường chứa đựng một kho tàng tri thức vô cùng phong phú của các tộc
người về môi trường tự nhiên và tài nguyên nơi mà họ sinh sống. Luật tục xác
định các quan hệ sở hữu đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên, những tri thức dân
gian về quản lý bảo vệ nguồn tài nguyên
Ngoài ra, kiến thức bản địa luôn gắn với văn hoá của từng cộng đồng,
từng địa phương. Do vậy, nếu kiến thức bản địa được đánh giá đúng và được tôn
trọng sẽ góp phần bảo tồn văn hoá truyền thống của các dân tộc Việt Nam.
Hiểu được tầm quan trọng của tri thức bản địa, trong đời sống bà con các
dân tộc, đặc biệt là bà con dân tộc thiểu số miền núi, cho đến nay đã có rất nhiều
chương trình lớn có gắn kết nghiên cứu về kiến thức bản địa ở hầu khắp các địa
phương. Một số nghiên cứu của các tác giả chủ yếu về tìm hiểu những luật tục và
những kinh nghiệm của một số cộng đồng dân tộc thiểu số, điều tra đánh giá và
kiến thức bản địa trong việc sử dụng, quản lý tài nguyên thiên nhiên (về lâm sản
ngoài gỗ, sử dụng gỗ củi, cây thuốc, bảo vệ rừng, hệ thống canh tác…).
Phương pháp nghiên cứu: lựa chọn đối tượng nghiên cứu, phỏng vấn,
phân tích SWOT, các dạng ma trận, sơ đồ, biểu đồ (VENN, Chappati…), tư
liệu hoá các thông tin thu được (Lê Trọng Cúc,1996) [7], (Ngô Đức Thịnh,
2001)[17].
Có thể thấy, việc nghiên cứu sâu rộng về vấn đề kiến thức bản địa ở Việt
Nam hiện nay còn hạn chế. Các nghiên cứu mới chỉ được tiến hành lồng ghép
trong các dự án, chương trình khác hoặc là những nghiên cứu nhỏ lẻ ở từng đề tài
của các cá nhân. Phạm vi nghiên cứu chỉ chủ yếu trong những kiến thức nông
15
CHƢƠNG II
THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Thời gian nghiên cứu
- Từ tháng 3-4 tiến hành nghiên cứu nhân giống củ mài trong vườn ươm
tại Trung tâm thực nghiệm Nông – Lâm trường Đại học Tây Bắc.
- Tháng 5-6 nghiên cứu khảo sát, nghiên cứu ngoài thực địa
2.2. Địa điểm nghiên cứu
Rừng đặc dụng Copia huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
Hình 2.1: Bản đồ địa lí rừng đặc dụng Copia
2.2.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý:
Ngày 11/11/2002, UBND tỉnh Sơn La có quyết định: Số 3440/2002 QĐ –
UBND về việc thành lập BQL bảo tồn thiên nhiên Côpia thuộc chi cục kiểm lâm
Sơn La; và ngày 14/7/2008, UBND tỉnh Sơn La có quyết định: Số 1723/2008 QĐ
– UBND về việc đổi tên Ban quản lí bảo tồn thiên nhiên Côpia thành Ban quản lí
rừng đặc dụng Côpia
16
Rừng đặc dụng Copia nằm phía Tây Bắc tỉnh Sơn La, cách Thị xã Sơn La
54 km và cách thị trấn huyện Thuận Châu 20 km, thuộc địa phận của huyện
hình thành nên những vòng cung, lấy đường giông chính gồm nhiều đỉnh núi có độ
cao trên 1500m. Độ cao so với mức nước biển biến động từ 500 m, 600 m đến 1.800
m, nơi cao nhất là đỉnh Pu Sam Sẩu 1.821 m và đỉnh Copia 1.816,8 m.
Địa hình khu vực nghiên cứu chia cắt mạnh do các dông núi phụ, các khe
suối chạy từ trên các đỉnh cao xuống, tạo thành thung lũng sâu, sườn núi dốc, độ
17
dốc trung bình 25
0
đến 30
0
nhiều nơi có độ dốc trên 35
0
. Hệ giông chính đã tạo
nên 2 phần của khu bảo tồn có đặc điểm địa hình và hướng giông núi chạy có sự
khác nhau. Tạo cho rừng đặc dụng Copia có hai vùng Tây Bắc và Đông Nam của
hướng giông chính từ phía Tây Nam chạy Đông Bắc.
Nhìn chung địa hình khu nghiên cứu thuộc loại địa hình vùng núi cao, có
độ chênh cao trên 1000m, càng đi về phía trung tâm khu nghiên cứu càng cao và
độ dốc càng lớn, nhiều núi cao, thung lũng sâu, sườn núi dốc.
- Thổ nhưỡng:
Với quá trình hình thành đất và địa chất trong khu rừng đặc dụng Copia và kết
quả điều tra khảo sát của các chuyên gia lập địa, ở Copia bước đầu tìm hiểu có thể
phân ra các loại đất chính sau: (Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La, 2002) [22].
Đất mùn vàng xám: phân bố từ độ cao 1500 – 2000m so với mặt nước
biển . Đất tầng A thường có độ dày trên 1m, độ dốc khá lớn >35
0
, độ phì của đất
còn khá cao.
Đất Feralit mùn có màu vàng gạch cua nhạt trên độ cao 1000m – 1500m
tập trung từ tháng 6 đến tháng 8 (chiếm 70% cả năm). Lượng mưa trung bình lớn
tập trung trong 2 tháng nên thời gian này khu vực hay bị lũ quét và sạt lở đất do
mưa lũ. Còn ngoài tháng 6- 8 hàng năm thì khu vực thường hay gặp hạn hán và
nước cung cấp phục vụ cho người dân cũng rất ít. Sản xuất nông nghiệp cũng gặp
rất nhiều những khó khăn và thời gian này cũng hay xảy ra các vụ cháy rừng do
khí hậu khô.
Nhiệt độ: Nhiệt độ tối cao bình quân 32
0
C; Nhiệt độ tối thấp bình quân
14
0
C; Nhiệt độ trung bình cả năm 19
0
C. Ẩm độ tối cao 90%; Ẩm độ tối thấp
70%; Ẩm độ trung bình 85%. Do khu vực này có ẩm độ cao và nhiệt độ trung
bình thấp 19
0
C nên hàng năm vào mùa rét thừ tháng 11-2 dương lịch năm sau
thường có khí hậu lạnh hơn so với Thuận Châu. Thậm chí nhiều năm còn xuất
hiện sương muối và nhiệt độ có thể xuống 0
0
C ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và
hiệu quả về kinh tế của người dân địa phương.
Khu vực này chịu ảnh hưởng gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 2
năm sau, làm cho nhiệt độ hạ thấp về đêm, gây nên các hiện tượng thời tiết
(Sương muối và băng giá) thường xuất hiện vào cuối tháng 12 và đầu tháng 1 gây
thiệt hại rất lớn cho cây trồng, ảnh hưởng tới sức khoẻ người dân các cộng đồng và
vật nuôi. Không những thế các vùng này cũng bị ảnh hưởng rất mạnh bởi gió Lào
(gió Tây Nam) nóng và khô hanh vào khoảng tháng 3 và tháng 4, thời gian này các
cộng đồng dân tộc ở đây cũng tiến hành phát nương đốt rẫy dẫn đến nguy cơ cháy
Nguồn : (Đài Khí tượng thủy văn tỉnh Sơn La, 2012) [9].
- Tài nguyên động vật:
20
Là một khu vực tỉnh miền núi phía Bắc, diện tích rừng còn rộng và vẫn
còn mang tính tự nhiên nên Khu rừng đặc dụng Copia có hệ thống tài nguyên
động vật rất đa dạng và phong phú: Khu hệ động vật khu đặc dụng Copia qua
các tài liệu đã thống kê được 307 loài thuộc 90 họ và 25 bộ.
Bảng 2.1: Thành phần động vật tại rừng đặc dụng Copia
STT
Lớp
Bộ
Họ
Loài
Số
lượng
Tỷ lệ
%
Số
lượng
Tỷ lệ
%
Số
lượng
Tỷ lệ
%
1
Thú (Manmalia)
Tổng cộng
25
100
90
100
307
100
Nguồn: (Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật , 2009) [24
Tuy nhiên, tài nguyên động vật của khu rừng đặc dụng Copia hiện nay đang
suy giảm nghiêm trọng và đang đứng trước nguy cơ cao bởi nạn săn bắn diễn ra
thường xuyên. Trong khi đó, rừng đặc dụng chưa có chương trình, dự án hoặc
những nghiên cứu lớn nào về bảo tồn và phát triển các loài động vật tại nơi đây.
- Thành phần thực vật:
Qua điều tra bước đầu đã thống kê được trong khu rừng đặc dụng Copia
có khoảng 639 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 156 họ, 424 chi của 5 ngành
thực vật bậc cao có mạch.
Bảng 2.2: Thành phần thực vật khu rừng đặc dụng Copia
Ngành thực vật
Số họ TV
Số chi TV
Số loài TV
Thông đất (Lycopodiophyta)
2
3
4
Mộc tặc (Equisetophyta)
1
1
1
Dương xỉ (Polypodiophyta)
thuận tiện. Đây cũng là một nguyên nhân khách quan làm suy giảm hệ thống
động vật, thực vật.
- Các kiểu thảm thực vật:
Bảng 2.3: Các kiểu thảm thực vật ở rừng đặc dụng Copia
TT
Kiểu thảm thực vật
Phân bố theo
độ cao
1
Rừng kín thường xanh mưa nhiệt đới
< 700m
2
Rừng kín lá rộng thường xanh mưa á nhiệt đới núi thấp
700 – 1700m
3
Rừng kín hỗn giao cây lá rộng và lá kim, ẩm, á nhiệt đới núi thấp
≥ 1700m
Nguồn: (Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sơn La , 2002) [6
+) Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới núi thấp:
Nguồn gốc của các thảm thực vật này là rừng kín thường xanh ẩm nhiệt
đới núi thấp nhưng do bị tác động bởi nhiều hình thức phục vụ nhu cầu đòi hỏi
của các cộng đồng dân tộc ở đây. Kiểu rừng này thường gặp ở những khu vực địa
hình ít khó khăn, người dân dễ xâm nhập, hoặc ở gần làng bản của các dân tộc.
+) Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới
phục hồi sau nương rẫy:
22
Thảm thực vật: tre, giang, sặt, nứa xen cây gỗ thường gặp ven theo suối
Hua Lương, suối Đen và một số khe suối cạn khác,… mặc dù diện tích phân bố
không lớn nhưng chúng có vai trò nhất định tham gia và tồn tại trong Khu bảo
cứu nhằm giảm thiểu sự tác động của cộng đồng dân cư địa phương tác động đến
hệ sinh thái rừng.
Thông qua những đặc điểm về điều kiện tự nhiên của khu rừng đặc
dụng Copia chúng ta có thể rút ra một số nhận xét về những thuận lợi và
khó khăn như sau:
+) Thuận lợi:
Khu rừng đặc dụng Copia có diện tích rất rộng 19467,7 ha trong số đó
nhiều diện tích đất vẫn còn chưa được đưa vào sán xuất. Điều kiện khí hậu, địa
hình và đất đai phù hợp với với phát triển nông – lâm kết hợp. Ví dụ : trồng cây
dưới tán rừng hay tận dụng núi đá trồng cây lâm sản ngoài gỗ (cây củ mài, cây bò
khai ). Sự đa dạng về hệ thống thực vật và động vật: phục vụ cho những nghiên
cứu chuyên sâu. Đây là khu vực có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái.
+) Khó khăn:
Địa hình chia cắt mạnh bởi các dãy núi khó khăn cho giao thông đi lại, đất
dốc dễ bị rửa trôi khó khăn trong sản xuất nông nghiệp. Hàng năm sự rửa trôi
diễn ra rất mạnh, lượng đất bạc màu tăng lên. Đây cũng là một vấn đề nhức nhối
của cán bộ kiểm lâm quản lý Rừng khu đặc dụng về việc phá rừng mở rộng đất
canh tác nông nghiệp của người dân địa phương. Mặt khác do địa hình rộng lớn
khó khăn trong công tác bảo vệ, khoanh nuôi các loài động thực vật rừng. Sự
phân bố về khí hậu, lượng mưa trong năm không đều gây ra những khó khăn cho
sản xuất nông – lâm nghiệp của dân cư trong vùng.
2.2.2. Đặc điểm điều kiện xã hội
- Đặc điểm dân cư:
Khu vực rừng đặc dụng Copia có cộng đồng dân cư sinh sống đông với nhiều
các dân tộc cùng sinh sống trong đó người dân tộc Thái chiếm tỷ lệ cao nhất.
Tổng số nhân khẩu trong khu vực là: 20.373 người. 24
Bảng 2.4: Cơ cấu thành phần dân tộc tại khu rừng đặc dụng Copia
TT
Tên xã
Sô bản
Số hộ
Số nhân khẩu
1
Chiềng Bôm
17
1009
5.315
2
Co Mạ
22
668
4.372
3
Long Hẹ
19
414
2.759
4
Nậm Lầu
26
807
5.717
5
Púng Tra
12
377
2.589
Sản xuất lâm nghiệp: Còn nặng về lệ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên, nên
việc khai thác sử dụng lâm sản không có kế hoạch, tự phát, sử dụng vào mục đích
làm nhà, chuồng trại chăn nuôi và đồ gia dụng. Trong khai thác lâm sản còn lãng
phí nhiều do chưa hiểu biết về lợi ích lâu dài và tác dụng đa dạng của rừng nên
chưa chú ý trong lợi dụng lâm sản và phát triển rừng, nên làm cho diện tích rừng
ngày càng thu hẹp, số lượng và chất lượng giảm dần dẫn đến giảm số loài động
thực vật trong khu rùng đặc dụng.
Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Nhà nước, của tỉnh Sơn
La, UBND huyện Thuận Châu, đặc biệt là hạt kiểm lâm huyện Thuận Châu, Ban
quản lí rừng đặc dụng Copia các hoạt động bảo vệ rừng nói riêng và phát triển lâm
nghiệp nói chung đã được thực hiện như khoanh nuôi bảo vệ rừng, trồng rừng.
+) Sinh hoạt văn hóa và phong tục của địa phương:
Trong khu rừng đặc dụng Copia có số lượng đông nhất là dân tộc Thái đen
và ít nhất là dân tộc Khơ Mú. Nhưng các dân tộc đều có những phong tục tập
quán, hình thức sinh hoạt văn hóa riêng, thể hiện bản sắc dân tộc của mình; dân
tộc Thái ở nhà sàn có cấu trúc tương đối bền, kín đáo; còn dân tộc Kháng, Khơ
Mú cũng ở nhà sàn nhưng cấu trúc đơn giảm, tạm thời; dân tộc H’mông ở nhà đất
trên núi cao, thiết kế thấp nhưng các dân tộc đều mang cái chung là tập trung
thành các bản.