Nghiên cứu ảnh hưởng của độ che sáng và thành phần hỗn hợp ruột bầu đến sự phát triển của cây Đầu lân (Couroupita guianensis Aubl.) thuộc họ Lộc vừng (Lecythidaceae) trong giai đoạn vườn ươm - Pdf 37

CHƢƠNG 1 – MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây xanh – Một phần không thể thiếu tại các thành phố lớn như Tp Hồ Chí
Minh. Cây xanh không chỉ giúp làm giảm ô nhiễm không khí, giảm tiếng
ồn, cho bóng mát, tăng vẻ mỹ quan mà còn có thể giúp tinh thần bớt căng
thẳng và sảng khoái. Trên đường phố, công viên và nhất là trong trang trí
ngoại thất, việc lựa chọn cây xanh phù hợp làm nguyên liệu thiết kế đóng
vai trò quan trọng.
Cây Đầu lân (Couroupita guianensis Aubl.) thuộc họ Lộc vừng
(Lecythidaceae) là loài cây che bóng, có hoa đẹp, nở quanh năm, hương
thơm thanh thoát và có ý nghĩa về tâm linh Phật giáo. Hiện nay, Đầu lân
được trồng rải rác trong một số công viên như Tao Đàn, Bình Quới, Thảo
Cầm Viên… và trồng nhiều ở các chùa Kỳ Quang, Tường Quang, Xá Lợi,
Vĩnh Nghiêm… Ngoài ra, đây cũng là loài cây có quả và lá được dùng làm
dược liệu chữa các bệnh thông thường.
Từ những ưu điểm nêu trên của loài cây này, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu
ảnh hƣởng của độ che sáng và thành phần hỗn hợp ruột bầu đến sự
phát triển của cây Đầu lân (Couroupita guianensis Aubl.) thuộc họ Lộc
vừng (Lecythidaceae) trong giai đoạn vƣờn ƣơm” để nghiên cứu sâu
hơn về quá trình sinh trưởng của cây trong giai đoạn vườn ươm và tiến tới
phát triển loài cây có giá trị trang trí ngoại thất cao và có ý nghĩa Phật giáo
đặc biệt này.

1


1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được các điều kiện thích hợp cho cây con phát triển ở giai đoạn
vườn ươm như:
+ Xác định độ che sáng phù hợp
+ Xác định thành phần hỗn hợp ruột bầu khi gieo ươm

Hướng Đông : Phường Thới An – Quận 12
Hướng Tây : Phường Tân Chánh Hiệp – Quận 12 và xã Thới Tam Môn – Hóc
Môn
Hướng Nam : Phường Tân Chánh Hiệp và phường Tân Thới Hiệp – Quận 12
Hướng Bắc : Xã Đông Thạnh – Huyện Hóc Môn.
b. Địa hình, địa mạo:
Hiệp Thành thuộc vùng đồng bằng Nam bộ, mang 2 dạng địa hình : thấp và
cao.
- Địa hình thấp : tương đối thấp và bằng phẳng, độ cao trung bình từ 0,6
– 0,8 m.
- Địa hình cao : độ cao trung bình là 4,5 – 5 m.
Vì vậy, Hiệp Thành có khả năng phát triển cả về canh tác nông nghiệp cũng
như thuận lợi cho xây dựng cơ sở hạ tầng – kỹ thuật.
c. Khí hậu:
- Nằm trong vùng cận xích đạo, nhiệt đới gió mùa của nước ta nên Hiệp
Thành mang nét đặc trưng của khí hậu Đông Nam Bộ có 2 mùa rõ rệt : mùa
khô và mùa mưa.

3


+ Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4, chiếm 10% lượng mưa cả năm.
+ Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 11, số ngày mưa khoảng
132 ngày, lượng mưa bình quân là 1980 mm/ năm, chiếm 90% lượng mưa cả
năm.
- Nhiệt độ bình quân là 290C, độ ẩm không khí trung bình 61%.
- Hai hướng gió chủ đạo là Đông Nam và Tây Bắc, với vận tốc trung bình 2,5
m/s.
d. Thủy văn :
Phường Hiệp Thành được bao bọc về hướng Tây Bắc bởi kênh Trần Quang


Diện

Tỷ lệ

tích (ha)

(%)

ACd

Dystric Acrisols

Đất xám bạc màu

208,99

38,53

ACf

Ferric Acrisols

Đất nâu vàng trên phù sa cổ

207,16

38,20

ACh

Ở đây, người dân chủ yếu sử dụng nguồn nước ngầm với mực nước giếng
đào sâu từ 8 - 10m. Nhìn chung, chất lượng nước tương đối tốt nên đại đa
số hộ dân trong phường đều sử dụng hầu hết là giếng khoan, chỉ một số ít
hộ dùng giếng đào phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.

6


2.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.2.1. Vai trò của một số nhân tố sinh thái đối với cây gỗ non trong giai
đoạn vƣờn ƣơm
a. Ánh sáng
Theo Kimmins (1998) [40], ánh sáng là nguồn năng lượng cần cho quang hợp
của thực vật. Ánh sáng có ảnh hưởng căn bản đến sự phân phối lượng tăng
trưởng mới giữa các bộ phận của cây gỗ. Khi được che bóng, tăng trưởng
chiều cao của cây gỗ non diễn ra nhanh, nhưng đường kính nhỏ, sức sống yếu
và thường bị đổ ngã khi gặp gió lớn. Trái lại, khi gặp điều kiện chiếu sáng
mạnh, tăng trưởng chiều cao của cây gỗ non diễn ra chậm, nhưng đường kính
lớn, thân cây cứng và nhiều cành. Nói chung, việc che bóng giúp cây con
tránh được những tác động cực đoan của môi trường, làm giảm khả năng
thoát hơi nước, đồng thời làm giảm nhiệt độ của cây và của hỗn hợp ruột bầu.
Sự sống sót ban đầu của cây con ở điều kiện đất trồng rừng cũng phụ
thuộc vào việc điều chỉnh ánh sáng trong giai đoạn vườn ươm. Những cây con
sinh trưởng với cường độ ánh sáng thấp sẽ hình thành các lá chịu bóng. Nếu
bất ngờ đưa chúng ra ngoài ánh sáng và kèm theo điều kiện ẩm độ, nhiệt độ
thay đổi, chúng sẽ bị ức chế bởi ánh sáng mạnh. Điều này có thể làm cho cây
con bị tử vong hoặc giảm tăng trưởng cho đến khi các lá chịu bóng được thay
thế bằng các lá ưa sang, Nguyễn Tuấn Bình (2002) [5], Vũ Thị Lan (2007)
[18]
Chế độ ánh sáng được coi là thích hợp cho cây con ở vườn ươm khi nó tạo ra

chất khoáng, nhưng cấu trúc đất nặng, khó thấm nước và thoát nước cũng ảnh
hưởng xấu đến sinh trưởng và chất lượng cây con.

8


Thành phần hỗn hợp ruột bầu bao gồm đất, phân bón (hữu cơ, vô cơ) và chất
phụ gia để đảm bảo điều kiện lý hóa tính của ruột bầu. Đất được chọn làm
ruột bầu. Đất được chọn làm ruột bầu thịt nhẹ, pH trung tính, không mang
mầm mống sâu bệnh hại, (Vũ Thị Lan, 2007) [18], (Trương Thị Cẩm Nhung,
2010) [22].
Cây con sinh trưởng và phát triển tốt, vấn đề bổ sung thêm chất khoáng và cải
thiện tính chất của ruột bầu bằng cách bón phân là rất cần thiết. Trong giai
đoạn vươm ươm, những nhân tố được đặt biệt quan tâm là đạm, lân, kali và
các chất phụ gia (Nguyễn Xuân Quát, 1985) [23]
d) Kích thước bầu
Kích thước bầu là chỉ tiêu phản ánh khoảng không gian sinh sống của cây
con. Mỗi loài cây khác nhau đòi hỏi một khoảng không gian để sinh trưởng,
phát triển tốt (Nguyễn Minh Đường, 1985) [9]. Kích thước bầu chi phối
không chỉ hàm lượng dinh dưỡng nhiều hay ít, mà còn đến ánh sáng và nước,
hình dạng và tình trạng phát triển của hệ rễ và thân cây (Nguyễn Xuân Quát,
1985) [23]. Kích thước bầu còn ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế và kĩ thuật
trồng rừng. Kích thước bầu quá lớn sẽ gây bất lợi cho việc vận chuyển cây
con tới nơi trồng rừng, tốn nhiều hỗn hợp ruột bầu…; do đó chi phí trồng
rừng cao (Nguyễn Văn Thêm, 2002 và 2003) [30], [31]. Kích thước bầu quá
nhỏ dẫn đến thu hẹp không gian sinh sống, làm giảm hàm lượng dinh dưỡng,
ánh sáng, nước; kết quả cũng ảnh hưởng đến chất lượng cây con. Vì thế, trong
giai đoạn vườn ươm kích thước bầu được nhiều tác giả quan tâm (Nguyễn
Tuấn Bình, 2002) [5].
Kích thước bầu cần đảm bảo một số yêu cầu sau đây: (1) giữ cây đứng vững,


10


Tương tự Hoàng Công Đãng (2000) [8] đã thực hiện với loài Bần chua ở giai
đoạn vườn ươm.
Khi bố trí thí nghiệm về ảnh hưởng của độ tàn che, Nguyễn Xuân Quát (1985)
[23] và Hoàng Công Đãng (2000) [8] đã phân chia 5 mức che ánh sáng:
không che (đối chứng), che 25%, 50%, 75%, 100%. Để thăm dò phản ứng của
cây con với phân bón, Nguyễn Xuân Quát (1985) [23] và Hoàng Công Đãng
(2000) [8] đã bón lót super lân, clorua kali, sunphat amôn với tỷ lệ từ 0 – 6%
so với trọng lượng ruột bầu. Đối với phân hữu cơ, các tác giả thường sử dụng
phân chuồng (phân trâu, phân bò và phân heo) với liều lượng từ 0 – 25% so
với trọng lượng bầu. Một số nghiên cứu cũng hướng vào xem xét phản ứng
của cây gỗ non với nước. Tuy vậy, đây là một vấn đề khó, bởi vì hiện nay còn
thiếu những điều kiện nghiên cứu cần thiết (Nguyễn Xuân Quát, 1985) [23].
Từ năm 1980 – 1985, Nguyễn Minh Đường [9] và nhiều tác giả khác cũng có
những nghiên cứu chi tiết về gieo ươm và trồng rừng sao dầu ở rừng miền
Đông Nam Bộ.
Năm 1997, Nguyễn Thị Mừng [20] đã nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ che
bóng đến sinh trưởng của cây Cẩm lai (Dalbergia bariaensis Pierre) trong
giai đoạn vườn ươm. Kết quả nghiên cứu đã chứng tỏ rằng, ở giai đoạn từ 1 –
4 tháng tuổi, mức độ che bóng 50 – 100% (tốt nhất 75%) đảm bảo cho Cẩm
lai có hàm lượng diệp lục a,b và tổng số cao hơn, sinh khối, sinh trưởng chiều
cao đều lớn hơn so với đối chứng (không che bóng). Nhưng đến tháng thứ 6,
các chỉ tiêu trên lại đạt cao nhất ở tỷ lệ che bóng 50%.
Khi nghiên cứu về gieo ươm Dầu song nàng (Dipterocarpus dyeri Pierre),
Nguyễn Tuấn Bình (2002) [5] nhận thấy độ tàn che 25% - 50% là thích hợp
cho sinh trưởng của Dầu song nàng 12 tháng tuổi. Kết quả nghiên cứu về cây
Huỳnh liên (Tecoma stans (L.) H.B.K.) trong giai đoạn 6 tháng tuổi cũng cho

12


Cây Đầu lân phổ biến trong khu rừng tân nhiệt đới, đặc biệt là ở lưu vực
sông Amazon. Đầu lân có nguồn gốc ở Guyana (Nam Mỹ). Ngày nay cây
này có thể tìm thấy ở Ấn Độ, miền nam dãy núi Hy Mã Lạp, và về sau
được trồng nhiều nơi ở Nam Á và Đông Nam Á. Đây còn là loại cây trồng
đường phố khá phổ biến tại Thái Lan, Singapore…
b. Ở Việt Nam
Cây Đầu lân được người trong giới cây cảnh Việt Nam gọi bằng nhiều tên
khác nhau như: Cây Sala, cây Hàm rồng, cây Vô ưu, cây Ngọc kỳ lân. Cây
được trồng trong các công viên và chùa chiềng. Trần Hợp đã mô tả Đầu
lân về hình thái, phân bố và công dụng trong “Cây cảnh, hoa Việt Nam”
xuất bản năm 2000 [10], “Cây xanh và cây cảnh Sài Gòn” [12] và “Tài
nguyên cây gỗ Việt Nam” [11] xuất bản năm 2002.

13


CHƢƠNG 3 – PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Cơ sở khoa học:
Sinh trưởng và phát triển của cây luôn chịu ảnh hưởng tổng hợp của nhiều
nhân tố sinh thái. Trong điều kiện vườn ươm, nhân tố chủ đạo thường là ánh
sáng (hay độ tàn che), nước, thành phần hỗn hợp ruột bầu (dinh dưỡng), kích
thước bầu (hay mật độ gieo ươm), độ sâu lấp đất… Mặt khác, theo quy luật
giới hạn sinh thái của Shelford, 1913 (dẫn theo Nguyễn Tuấn Bình) [5], mỗi
giai đoạn sống của cây chỉ thích ứng với một biên độ tác động nhất định của
nhân tố sinh thái. Trong biên độ sinh thái của một loài, có một khoảng xác
định của nhân tố sinh thái mà tại đó cho phép cây sinh trưởng tốt nhất. Vì thế,
trong nghiên cứu một mặt phải xác định được biên độ thích ứng của cây con

- Phương tiện hỗ trợ:
+ Máy ảnh kỹ thuật số (Casio 10.1 pixels): dùng để chụp và lưu lại các
hình ảnh của cây Đầu lân trong gieo ươm và các hình ảnh khác trong quá
trình thực hiện luận văn.
+ Thước thẳng, thước kẹp palme, cân để đo kích thước, khối lượng của
quả, lá và thân cây con.

3.4. Các phƣơng pháp tiến hành thí nghiệm
3.4.1. Thu thập và ngâm hạt để gieo
Sau khi thu quả ngoài tự nhiên, cạo bỏ bớt phần thịt ở phía ngoài, tách
riêng lấy hạt để gieo ươm. Nhằm kích thích cho hạt nảy mầm, dùng
phương pháp phổ biến là ngâm hạt trong nước khoảng 6 – 8h. Sau đó là
gieo hạt vào bầu.

15


3.4.2. Bố trí thí nghiệm trong vƣờn ƣơm
a. Nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng đến sinh trưởng cây con
 Thiết kế thí nghiệm:
- Hạt được gieo vào bầu, hỗn hợp đất bầu gồm đất và phân hữu cơ trộn
theo tỷ lệ đất thịt nhẹ 90% + phân hỗn hợp 10%.
- Bầu được xếp vào 4 lô thí nghiệm ở vườn ươm, mỗi lô gồm 100 bầu
với chế độ tưới nước và chăm sóc giống nhau nhưng ở 4 điều kiện che
sáng khác nhau:
+ Lô 1 (che sáng 75%): dùng lưới 75 phủ lên giàn để 25% ánh sáng lọt
vào.
+ Lô 2 (che sáng 50%): dùng lưới 50 phủ lên giàn để 50% ánh sáng lọt
vào.
+ Lô 3 (che sáng 25%): dùng lưới 25 phủ lên giàn để 75% ánh sáng lọt

cây (khô và tươi) được đo lặp lại 3 lần bằng cân phân tích với độ
chính xác đến 0,01 gram; lấy kết quả trung bình của 3 lần đo. Tỷ lệ
chất khô / sinh khối tươi được tính theo phần trăm. Phương pháp
tính sinh khối được tiến hành tại phòng thí nghiệm Sinh Hóa, trường
Đại học Sài Gòn.

17


b. Nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần hỗn hợp ruột bầu đến sinh
trưởng cây con
- Thành phần hỗn hợp ruột bầu gieo ươm bao gồm đất + phân chuồng +
xơ dừa + tro trấu được trộn theo tỷ lệ nghiệm thức. Các thành phần hỗn
hợp ruột bầu được trộn đều rồi vô bầu.
- Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên.
- Theo dõi quá trình sinh trưởng và phát triển của cây con sau gieo trong
thời gian 6 tháng.
Bảng 3. Thành phần hỗn hợp ruột bầu
Ký hiệu nghiệm thức

R1 R2 R3 R4

Đất đen (%)

90 90

90

90



R1

R2

R3

R4

Lần lặp 2

R4

R1

R2

R3

Lần lặp 3

R3

R4

R1

R2

 Chỉ tiêu theo dõi: Tương tự với các chỉ tiêu theo dõi ở nghiên cứu ảnh

4.1.1. Trồng cây:
a. Chuẩn bị bầu:
3 tháng đầu, số lượng bầu được sử dụng là 400 bầu. Kích thước bầu 10 x
15cm. Vỏ bầu được làm bằng chất dẻo tổng hợp PE có đục lỗ tròn đường
kính 5mm ở 2 bên và dưới đáy. Thành phần ruột bầu gồm: đất thịt (75%),
đất cát (25%), phân hỗn hợp (10%). Sắp xếp 400 bầu vào 4 lô, mỗi lô rộng
1m5, dài 1m5, tưới nước cho ẩm, lượng nước tưới trung bình10 lít/m2. Mỗi
bầu gieo 1 hạt, dùng que chọc lỗ trong đất bầu sâu khoảng 1cm rồi cho hạt
vào, lấp đất và ém nhẹ.
3 tháng sau, đảo bầu. Số lượng bầu sử dụng là 355 bầu tương ứng với số
lượng cây còn sống. Kích thước 20 x 30cm, không đổi thành phần đất
trong ruột bầu. Mỗi bầu cho đất vào ½ ruột. Sau đó, chuyển toàn bộ đất và
cây từ bầu cũ sang bầu mới, rồi cho thêm đất vào bầu để ém chặt cây.
b. Tiến hành che nắng:
Ba tháng đầu, làm giàn che cao khoảng 50cm, dùng lưới phủ lên 3 lô, bố
trí mỗi lô là 1 độ che phủ khác nhau (75%, 50% và 25%).
Ba tháng sau, vẫn dùng 3 loại lưới trên nhưng làm giàn che cao lên 1m.
c. Chăm sóc – Tưới nước:
Trong 6 tháng thực hiện, hằng ngày, tưới nước bằng vòi sen 2 lần vào 2
buổi: sáng, chiều, mỗi lần 10 lít/lô. Trong quá trình cây phát triển, thường
xuyên làm cỏ và theo dõi sâu bệnh, khi cây có hiện tượng rễ phát triển ra
ngoài bầu thì tiến hành đảo bầu và xén rễ.

20


4.1.2. Kết quả:
a. Về cây mầm:
- Thời gian hạt nảy mầm từ lúc ươm là 10 – 15 ngày, kết thúc nảy mầm
là 15 – 20 ngày.


4

5

6

4 (không che sáng)

76

70

70

70

70

70

3 (che sáng 25%)

99

99

97

97


93

Số cây
120
100
Lô 4
80

Lô 3
Lô 2

60

Lô 1

40
20
0
1

2

3

4

5

6

Lô 2 (50%)

Lô 1 (75%)

1

6,64 ± 1,53

7,16 ± 1,36

8,35 ± 2,12

8,92 ± 1,91

2

10,49 ± 2,12

10,06 ± 2,01

12,75 ± 2,98

12,43 ± 2,12

3

19,47 ± 4,67

15,29 ± 3,23


32,83 ± 8,21

29,82 ± 6,52

23


Bảng 4.3. Gia tăng chiều cao trung bình của cây mỗi tháng
Gia tăng chiều cao trung bình

Tháng

Lô 4 (0%)

Lô 3 (25%)

Lô 2 (50%)

Lô 1 (75%)

1

-

-

-

-


5

9,8

4,39

7,46

4,45

6

10,85

20,05

0,09

2,62

8,94

6,72

4,90

4,18

H (cm)
60

tôi có một số nhận xét sau:
Lô 4 đối chứng (không che sáng), tháng đầu tiên, có chiều cao thấp nhất
(6,64cm). Tháng thứ 2, bắt đầu có sự tăng trưởng khá mạnh, tăng 3,85cm. Bắt

24


đầu từ tháng thứ 3 trở đi, lô 1 luôn có sự tăng trưởng mạnh và chiều cao luôn
dẫn đầu so với 3 lô còn lại.
Lô 3 (25%) có sự tăng trưởng chậm qua từng tháng nhưng ở tháng cuối có sự
tăng trưởng vượt bậc, tăng 20,05cm.
Lô 1, lô 2 có sự tăng trưởng đồng đều qua từng tháng. Riêng ở 2 tháng đầu,
đây là 2 lô có chiều cao trung bình khá cao so với các lô còn lại. Nhưng vào 2
tháng cuối, sự tăng trưởng chiều cao lại không nhiều. Trong đó, có lô 1 đạt
chiều cao thấp nhất (29,82cm).
Như vậy, trong 2 tháng đầu, có thể che sáng cho cây theo mức độ giảm dần để
cây tăng trưởng tốt về chiều cao. Từ tháng thứ 3 trở đi, cây không cần che
sáng.
* Tăng trưởng về đường kính cổ rễ
Bảng 4.4. Đƣờng kính cổ rễ trung bình của cây con mỗi tháng
Tháng

D0 (mm)
Lô 4 (0%)

Lô 3 (25%)

Lô 2 (50%)

Lô 1 (75%)


4

6,80 ± 0,65

6,16 ± 1,35

5,89 ± 1,52

5,29 ± 0,92

5

7,93 ± 1,77

6,55 ± 1,27

6,21 ± 1,42

6,31 ± 1,1

6

11,21 ± 2,91

8,24 ± 2,58

7,03 ± 1,47

6,99 ± 1,56


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status