BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
HỒ THỊ THANH THỦY
NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, HÀNH VI NGUY CƠ
VÀ TÌM KIẾM DỊCH VỤ Y TẾ CỦA BỆNH NHÂN MẮC STI
TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
HÀ NỘI – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
HỒ THỊ THANH THỦY
NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, HÀNH VI NGUY CƠ
VÀ TÌM KIẾM DỊCH VỤ Y TẾ CỦA BỆNH NHÂN MẮC STI
TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG
Chuyên ngành : Da Liễu
Mã số: 60720152
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS PHẠM THỊ LAN
HÀ NỘI – 2014
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AIDS Acquired Immunodeficiency Syndrome – Hội chứng suy giảm
miễn dịch mắc phải
ELISA Enzyme-linked immunosorbent assays – Xét nghiệm miễn
dịch liên kết enzyme
FSW Female Sex Worker – Gái mại dâm
HbsAg Hepatitis B surface antigen – Kháng nguyên bề mặt viêm gan
siêu vi B
HIV Human Immunodeficiency Virus – Virus gây suy giảm miễn
dịch ở người
IDU Injecting Drug User – Người tiêm chích ma túy
MOH Ministry of Health – Bộ Y tế
1.9.4. Nhiễm Chlamydia trachomatis đường sinh dục 15
1.9.5. Bệnh Herpes sinh dục 16
1.9.6. Bệnh sùi mào gà 17
1.9.7. Nhiễm HIV/AIDS [21] 17
CHƯƠNG 2 21
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1. Đối tượng và thời gian nghiên cứu 21
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 21
Chọn những bệnh nhân được chẩn đoán STI tại khoa khám bệnh của BVDLTW. Những
bệnh nhân này được các bác sỹ chuyên khoa chẩn đoán xác định theo căn nguyên dựa
vào lâm sàng và cận lâm sàng 21
- Tiêu chuẩn chọn mẫu 21
-Tiêu chuẩn loại trừ 21
+ Bệnh nhân dưới 16 và trên 60 tuổi 21
2.1.2. Thời gian nghiên cứu 21
2.2. Phương pháp nghiên cứu 21
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu 21
2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 21
2.3. Các biến số và chỉ số trong nghiên cứu 22
2.3.1. Nhóm biến số thông tin chung 23
2.3.2. Nhóm biến số về kiến thức STI 23
2.3.3. Nhóm biến số về hành vi nguy cơ mắc STI 23
2.3.4. Nhóm biến số về các hành vi tìm kiếm dịch vụ y tế: Biến nhị phân gồm hai
giá trị là có tìm kiếm dịch vụ y tế và không tìm kiếm dịch vụ y tế; Biến rời rạc gồm
các dịch vụ y tế mà bệnh nhân lựa chọn 23
2.4. Các sai số có thể mắc trong nghiên cứu 23
2.5. Các biện pháp khống chế sai số 24
2.6. Xử lý số liệu 24
2.7. Đạo đức trong nghiên cứu 24
- Sự tham gia của tất cả các đối tượng vào nghiên cứu này hoàn toàn mang tính tự
Có 30
Không 30
Tổng 30
Bảng 3.16. Hành vi nguy cơ của bạn tình 31
Hành vi nguy cơ của bạn tình 31
Số bệnh nhân 31
Tỷ lệ (%) 31
Nhiều bạn tình 31
Có 31
Không 31
Không rõ 31
Tiêm chích ma túy 31
Có 31
Không 31
Không rõ 31
Tổng 31
3.3. Kiến thức về STI 31
Bảng 3.17. Tỷ lệ trả lời đúng các bệnh STI 31
Các bệnh STI 31
Số người (n) 31
Tỷ lệ (%) 31
Lậu 31
Giang mai 31
Sùi mào gà 31
HIV/AIDS 31
Bệnh khác 31
Tổng 31
3.4. Thói quen tìm kiếm dịch vụ y tế 35
CHƯƠNG 4 38
DỰ KIẾN BÀN LUẬN 38
1
những hiểu biết sai lầm về STI, dẫn đến những hành vi nguy cơ mắc STI, khi
đã bị bệnh rồi thì họ lại lúng túng trong việc tìm kiếm dịch vụ y tế để điều trị.
Việc tìm hiểu kiến thức về STI, hành vi nguy cơ mắc STI, hành vi tìm kiếm
dịch vụ y tế của bệnh nhân mắc STI sẽ cung cấp những thông tin hữu ích cho
các nhà quản lý trong việc lập kế hoạch và đưa ra các hoạt động can thiệp
thích hợp góp phần nâng cao hiệu quả của chương trình phòng chống
STI/HIV/AIDS. Tuy nhiên, ở nước ta có rất ít nghiên cứu đề cập đến các vấn
đề này. Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài“Nghiên cứu kiến thức,
hành vi nguy cơ và tìm kiếm dịch vụ y tế của bệnh nhân mắc STI đến
khám tại bệnh viện Da Liễu Trung Uơng” với các mục tiêu sau:
1. Khảo sát kiến thức về STI của bệnh nhân mắc STI.
2. Mô tả hành vi nguy cơ và tìm kiếm dịch vụ y tế của bệnh nhân
mắc STI.
3. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, hành vi nguy cơ và
tìm kiếm dịch vụ y tế của bệnh nhân mắc STI.
2
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Các thuật ngữ liên quan
Bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD) là bệnh gây nên do các vi
sinh vật lây truyền từ người này qua người khác chủ yếu qua quan hệ tình dục.
Từ trước tới nay có khá nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ nhóm bệnh
này. Đầu tiên thuật ngữ được sử dụng để chỉ các bệnh hoa liễu cổ điển bao
gồm giang mai, lậu, hạ cam, hột xoài và u hạt bẹn hoa liễu.
Trong những năm 70 của thế kỷ 20, ngoài các bệnh cổ điển trên nhiều
bệnh LTQĐTD mới được phát hiện nên thuật ngữ hoa liễu được thay bằng
các bệnh LTQĐTD (Sexually Transmitted Diseases- STD)
Ngày nay, nhờ các tiến bộ về kỹ thuật xét nghiệm nên người ta đã phát
hiện được các tác nhân mới mà trước đây không thể phát hiện được như virus
cách đáng kể bởi vì các vết loét và tổn thương ở sinh dục cho phép các tác
nhân gây bệnh xâm nhập dễ dàng vào cơ thể người bệnh. Ngoài ra, các
viêm nhiễm ở niệu đạo và cổ tử cung cho phép trao đổi hiệu quả hơn các
chất tiết có chứa HIV, làm tăng khả năng lây truyền.
Trên toàn cầu, STI gây ra gánh nặng rất lớn cho nền kinh tế ở các
nước đang phát triển. Mắc STI cũng ảnh hưởng đến năng suất lao động và
chất lượng cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng. Ở hầu hết các
nước đang phát triển, chi phí kinh tế xã hội do STI gây ra là khá lớn và
4
được xếp vào một trong mười nguyên nhân hàng đầu khiến người dân đi
khám tại các cơ sở y tế chưa kể việc rất nhiều bệnh nhân STI không đi
khám chữa bệnh ở các cơ sở y tế. Điều đó gây thiệt hại cho ngân sách y tế
quốc gia và kinh tế của hộ gia đình. Ngoài ra STI còn có thể gây ra các tổn
hại khác về mặt xã hội và bạo lực gia đình [1].
STI là nguyên nhân chính gây vô sinh nhưng có thể ngăn ngừa được, đặc
biệt là ở phụ nữ. Có khoảng 10% đến 40% phụ nữ bị nhiễm chlamydia không
được điều trị gây viêm hố chậu (PID). Tổn thương ống dẫn trứng sau viêm
nhiễm gây vô sinh cho 30-40% các trường hợp vô sinh nữ. Hơn nữa, phụ nữ
mắc PID có nguy cơ chửa ngoài tử cung cao hơn 6 đến 10 lần so với những
người không có PID, và có tới 50% chửa ngoài tử cung được quy cho là do
mắc PID trước đó [1]. Phòng chống PID, sẽ ngăn chặn được phần lớn các
trường hợp tử vong liên quan đến chửa ngoài tử cung. Phòng chống nhiễm
HPV sẽ giảm số lượng phụ nữ chết vì ung thư cổ tử cung, một bệnh ung thư
phổ biến thứ hai ở phụ nữ sau ung thư vú [1].
Ở phụ nữ mang thai, mắc bệnh giang mai sớm không được điều trị thì có
25% thai bị chết lưu và 14% trẻ sơ sinh tử vong. Bệnh lậu không được điều trị
ở phụ nữ mang thai có thể dẫn đến sảy thai, sinh non, và có thể có 10% tử
vong chu sinh. Trẻ sinh ra từ các bà mẹ bị lậu và / hoặc nhiễm Chlamydia sẽ
bị viêm mắt, có thể dẫn đến mù lòa ở khoảng 4.000 trẻ sơ sinh hàng năm trên
toàn thế giới [1]. Tóm lại, khả năng phòng ngừa, giảm tỷ lệ mắc và tử vong
người trong số họ bán dâm cho nam và mua dâm nữ trong khi chỉ có 51% sử
dụng bao cao su [9].
Đô thị hoá và sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường tại Việt Nam đã
có tác động đến di cư và lối sống của người dân, bao gồm tăng nguy cơ
STI/HIV. Có một số lượng đáng kể nam giới di cư từ nông thôn để tìm việc
làm tại các khu vực đô thị, họ có thể trở thành khách hàng của FSW, nghiện
chích ma túy hoặc đồng giới nam. Trong khi chỉ có 8% luôn sử dụng bao cao
su khi quan hệ với FSW [11]. Hơn nữa, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng phụ nữ
với bệnh lây truyền qua đường tình dục từ các vùng nông thôn hoặc vùng sâu
vùng xa thường đi khám chữa bệnh muộn. Như vậy, tiềm ẩn nguy cơ cao lây
lan STI/HIV từ các nhóm nguy cơ cao ra cộng đồng.
Ở nước ta, theo số liệu báo cáo thống kê của BVDLTW về tình hình STI
của tất cả các tỉnh thành trong cả nước thì số bệnh nhân ngày càng tăng. Cụ
thể là, nếu chỉ tính trong 3 năm từ 2006 đến 2008, số bệnh nhân STI tăng từ
202.856 lên tới 297.897. Nhóm tuổi từ 14 - 49 là chủ yếu.
Tuy nhiên, có không ít bệnh nhân STI tự điều trị [12] hoặc tìm đến các cơ
sở y tế tư nhân, hoặc nhà thuốc mà ta không thống kê được [13]. Vì vậy, số
lượng bệnh nhân mắc STI thực sự là cao hơn số đã được thống kê từ các cơ sở
y tế nhà nước. Theo ước tính thì ở Việt Nam hàng năm có khoảng 1 triệu
người mới mắc STI.
Khảo sát tình hình các bệnh lây truyền qua đường tình dục tại Bệnh Viện
Da Liễu Trung Ương từ năm 2006 đến năm 2010 có 20.260 bệnh nhân mắc
các BLTQĐTD chiếm 2,5% tổng số bệnh nhân tại khoa khám bệnh. Trong đó
có 3,5% bệnh nhân mắc bệnh Giang Mai, 6,2% bệnh nhân mắc bệnh Lậu,
18,1% BN bị viêm niệu đạo, 13,7% BN bị viêm âm đạo, 55,2% bệnh nhân bị
sùi mào gà, 2,4% bệnh nhân mắc herpes sinh dục, 0,3% bệnh nhân có viêm
tiểu khung, 0,4% bệnh nhân nhiễm HIV [14].
7
1.3. Căn nguyên các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục
Căn nguyên của các STI là vi khuẩn, virus, đơn bào, nấm, ký sinh
Human papilloma virus
(HPV)
Sùi mào gà, ung thư bộ phận sinh dục
Molluscum contagiosum
virus (MCV)
U mềm lây vùng sinh dục
Human immuno-deficiency Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải
8
Căn nguyên Bệnh/ Hội chứng
virus (HIV) (AIDS)
3. Các tác nhân khác
Trichomonas vaginalis
Viêm bao qui đầu, viêm âm đạo, niệu đạo,
viêm âm hộ
Cái ghẻ Ghẻ
Rận mu Rận mu sinh dục
1.4. Cách lây truyền
Các STI có thể lây qua các phương thức sau [16]: quan hệ tình dục
không bảo vệ; lây truyền từ mẹ sang con trong thời kỳ thai nghén, khi chuyển
dạ, sau khi đẻ, qua sữa mẹ (chỉ đối với HIV); truyền máu hoặc tiếp xúc với
máu và các sản phẩm của máu, tiêm chích và các thủ thuật đâm xuyên qua da
không vô khuẩn.
Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp giao hợp không được bảo
vệ đều dẫn đến hậu quả lây nhiễm STI từ người bệnh sang bạn tình của họ. Sự
nhiễm bệnh còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố sinh học và hành vi.
1.5. Các hành vi có nguy cơ lây truyền STI [16]
- Hành vi của bệnh nhân:
+ Thường xuyên thay đổi bạn tình hoặc có nhiều bạn tình.
+ Quan hệ tình dục với các bạn tình ngẫu nhiên, với gái mại dâm hoặc
khách làng chơi.
- Giang mai bẩm sinh sớm
- Giang mai bẩm sinh muộn
- Viêm kết mạc do lậu, mù mắt.
- Viêm phổi ở trẻ sơ sinh.
1.8.3. Biến chứng thường gặp ở nam giới
- Viêm tinh hoàn.
- Viêm mào tinh hoàn.
- Chít hẹp niệu đạo.
- Vô sinh.
1.8.4. Biến chứng thường gặp ở hai giới
- Viêm quanh gan
- Hội chứng Reiter.
1.9. Đặc điểm lâm sàng một số bệnh LTQĐTD thường gặp
1.9.1. Bệnh giang mai
Là bệnh do xoắn khuẩnTreponema pallidum gây nên, được nhà khoa học
Đức Fritz Schaudinn với cộng sự Ehrich Hoffman tìm ra năm 1905.
Theo thống kê của BVDLTW, từ năm 1976 - 1998 hàng năm trên toàn
quốc có khoảng 10.000 – 15.000 bệnh nhân giang mai được điều trị ở các cơ
sở y tế chuyên khoa. Trong những năm gần đây, bệnh giang mai có chiều
hướng giảm xuống, khoảng 3.000 bệnh nhân/năm.
11
-Biểu hiện lâm sàng: giai đoạn sớm, biểu hiện là loét sinh dục (săng
giang mai). Săng giang mai là vết trợt nông, đỏ như màu thịt tươi, không đau,
không ngứa, không có bờ, giới hạn rõ, đáy rắn, sạch, hình tròn hoặc bầu dục.
Số lượng thường là một chiếc. Vị trí thường ở cơ quan sinh dục, có thể ở
miệng, họng, hậu môn, nơi tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây bệnh. Bao giờ
cũng có viêm hạch kèm theo, hạch ở vùng lân cận, hạch rắn, không đau, di
động, không có mủ, thường có một hạch to hơn hẳn các hạch khác (hạch
chúa).
Giai đoạn muộn hơn tổn thương da có nhiều loại tổn thương, không
động, không sinh nha bào. Vi khuẩn lậu thường thấy trong bạch cầu đa nhân
trung tính (gặp trong bệnh lậu cấp) hoặc ngoài bạch cầu đa nhân trung tính
(lậu mạn). Lậu cầu chỉ có một vật chủ là người và lây truyền chủ yếu qua
quan hệ tình dục.
- Biểu hiện lâm sàng bệnh lậu: ở nam và nữ khác nhau
+ Bệnh lậu ở nam giới: Viêm niệu đạo do lậu có thể biểu hiện lâm sàng
cấp tính hoặc mạn tính. Thời gian ủ bệnh thường từ 2 đến 5 ngày [17]. Mủ
chảy từ trong niệu đạo số lượng nhiều, màu trắng hay vàng xanh, đặc quánh.
Kèm theo bệnh nhân có đái buốt, đái dắt, phù nề và đỏ miệng sáo. Tuy nhiên
có những bệnh nhân biểu hiện lâm sàng không điển hình như ở trên.
+ Bệnh lậu ở nữ giới: Thường không biểu hiện triệu chứng rõ ràng mà
kín đáo, thậm chí không có triệu chứng (50% số trường hợp). Đa số người
bệnh không biết mình bị bệnh nên dễ là nguồn lây cho người khác.
13
Biểu hiện cấp tính ở nữ giới: Có mủ vàng đặc hoặc xanh từ cổ tử cung
chảy ra, cổ tử cung phù nề. Niệu đạo viêm đỏ, có mủ hoặc dịch chảy ra.
Tuy nhiên đa số phụ nữ thường không biểu hiện triệu chứng hoặc triệu
chứng nghèo nàn, có thể đái buốt, tiết dịch âm đạo, khí hư vàng sẫm, đau tức
bụng dưới, đau khi giao hợp.
Biến chứng: Viêm tuyến Skene, tuyến Bartholin, viêm vòi trứng, buồng
trứng và vi hố chậu, có thể gây chửa ngoài tử cung, vô sinh.
+ Lậu mắt ở trẻ sơ sinh do mẹ bị bệnh lậu truyền cho con trong quá trình
sinh đẻ đường dưới. Bệnh thường phát ra 1-3 ngày sau sinh. Kết mạc đỏ, có
mủ vàng đặc, mi mắt sưng nề, dắm vào nhau không mở được. Nếu không
chữa kịp thời sẽ gây mù.
+ Lậu ở các vị trí khác: Có thể gặp lậu ở họng, hậu môn lây truyền do
quan hệ tình dục miệng- sinh dục, sinh dục- hậu môn.
- Chẩn đoán :Bệnh phẩm ở nam giới lấy từ mủ trong niệu đạo, ở nữ giới lấy
từ niệu đạo, cổ tử cung, 2 tuyến Skene, 2 tuyến Bartholin.
+Chẩn đoán bệnh lậu ở nam thường không khó nếu bệnh nhân trong giai
Chlamydia trachomatis týp A, B, Ba, C gây bệnh mắt hột.
Chlamydia trachomatis týp D, E, F, G, H, I, J, K gây viêm niệu đạo,
viêm cổ tử cung, viêm vòi trứng, viêm trực tràng, viêm mào tinh hoàn.
-Biểu hiện lâm sàng [19]:
15
* Ở nam giới: Viêm niệu đạo do C.trachomatis gần giống như bệnh
lậu. Thời gian ủ bệnh từ 7– 21 ngày, bệnh nhân thường có triệu chứng đi tiểu
khó, đái buốt, đái dắt, đau khi đi tiểu nhưng không rầm rộ như lầu. Dịch niệu
đạo màu trắng đục hay màu trong, số lượng vừa phải. Nhiều trường hợp không
có triệu chứng rõ ràng, chỉ thấy tiết ít dịch niệu đạo.
* Ở nữ giới: biểu hiện lâm sàng không rõ ràng, thường là viêm cổ tử
cung và viêm niệu đạo không điển hình (70%), có thể ngứa âm đạo, đi tiểu
khó, có dịch cổ tử cung màu vàng, hoặc xanh, số lượng không nhiều, cổ tử
cung đỏ, phù nề và chạm vào dễ chảy máu.
- Xét nghiệm chẩn đoán C.trachomatis.
Chẩn đoán xác định nhiễm C.trachomatis bằng test nhanh phát hiện
kháng nguyên LPS hoặc PCR.
1.9.5. Bệnh Herpes sinh dục
Herpes sinh dục là một trong những STD, căn nguyên do Herpes
simplex virus(HSV), đa số thuộc týp 2.
- Biểu hiện lâm sàng: Khoảng trên một nửa số bệnh nhân không có triệu
chứng hoặc triệu chứng rất nhẹ.
Khởi đầu bệnh nhân thường cảm thấy đau rát vùng sinh dục sau đó xuất
hiện các mụn nước. Mụn nước nhanh chóng vỡ ra để lại các vết loét nông,
đau và có thể liên kết với nhau thành vết loét lớn, có bờ hình vòng cung. Nếu
bội nhiễm vi khuẩn thì dễ nhầm với vết loét hạ cam.
Hầu hết bệnh nhân có tổn thương ở sinh dục ngoài, đôi khi tổn thương ở
trong niệu đạo gây tiểu khó, đau và có dịch trong, nhầy giống như viêm niệu
đạo không đặc hiệu. Bệnh thường tái phát nhiều lần, liên quan đến chu kỳ
kinh nguyệt, giao hợp, sang chấn tinh thần
+ Sản phẩm của máu hoặc máu toàn phần của người nhiễm HIV.
+ Các dịch tiết, dịch viêm của người nhiễm HIV, qua xây xước da.
-Mẹ sang con:
+ Trong bào thai.
+ Trong thời kỳ chu sinh.
+ Trong thời kỳ cho con bú.
Khi vào cơ thể, HIV làm cho hệ thống miễn dịch của cơ thể không còn
khả năng bảo vệ trước những bệnh mà bình thường không mắc, hoặc có mắc
cũng không nguy hiểm đến tính mạng. Chúng tấn công chủ yếu vào nhóm tế
bào miễn dịch TCD4, một số lượng nhỏ đại thực bào. Trong cơ thể sẽ xảy ra
cuộc chiến ác liệt giữa HIV và hệ thống miễn dịch. Cuộc chiến này chia làm
bốn giai đoạn.
•Giai đoạn I: kéo dài từ 1 đến 3 tuần sau khi HIV đột nhập vào cơ thể.
Đây là giai đoạn nhiễm trùng tiên phát. Trên lâm sàng biểu hiện bằng hội
chứng giả cúm. Trong máu ngoại vi TCD4 giảm về số lượng rất nhanh. Sau 3
tuần các triệu chứng lâm sàng biến mất, số lượng tế bào TCD4 dần trở lại
bình thường.
•Giai đoạn II: đây là giai đoạn không triệu chứng: giai đoạn này chiếm
80% tổng số thời gian kể từ khi nhiễm HIV đến lúc tử vong, ở những nước
đang phát triển giai đoạn này thường là 5 năm, ở những nước phát triển giai
đoạn này là 10 năm (Mulder 1996).
18
Trên lâm sàng không có biểu hiện gì, nhưng trong cơ thể xảy ra cuộc
chiến khốc liệt giữa hệ thống miễn dịch và HIV. Mỗi ngày HIV tiêu diệt một
số lượng tế bào TCD4. Mỗi năm khoảng 50 - 80 tế bào TCD4 bị tiêu diệt. Tới
khi số lượng TCD4 chỉ còn 200 là lúc BN bị AIDS thật sự (Kitahata 1996).
•Giai đoan III:
- Hạch dai dẳng toàn thân; vị trí hạch: vùng cổ, nách.
- Tiêu chảy kéo dài trên 1 tháng.
- Thể trạng bị ảnh hưởng: một ngày BN phải nằm nghỉ tại giường nhưng