Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm c trachomatis trên bệnh nhân có hội chứng tiết dịch niệu đạo, âm đạo đến khám từ tháng 1 năm 2012 đến tháng 3 năm 2012 tại bệnh viện da liễu trung ương - Pdf 18

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Các bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD) trên thế giới
ngày càng gia tăng cùng với sự bùng nổ của đại dịch HIV/AIDS. Theo ước
tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) mỗi ngày có khoảng 1 triệu trường hợp
mắc mới các BLTQĐTD [23], trong đó C. trachomatis là một trong các
nguyên nhân thường gặp nhất gây hội chứng tiết dịch niệu đạo, âm đạo. Một
số nghiên cứu cho thấy nhiễm C. trachomatis chiếm 30-35% các BLTQĐTD.
Nhiễm C. trachomatis có thể dẫn tới các hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt ở
phụ nữ có thể gây nên viêm nhiễm vùng tiểu khung nam giới gây viêm niệu
đạo, tinh hoàn và đe dọa tới sức khỏe sinh sản [19].
Bệnh C. trachomatis đã trở thành một vấn đề y tế công cộng toàn cầu.
Thời gian ủ bệnh khoảng 10-15 ngày. Biểu hiện lâm sàng gồm: tiết dịch niệu
đạo, tiết dịch âm đạo, đái buốt, đái dắt và cảm giác ngứa dọc niệu đạo hoặc
không có triệu chứng, diễn biến âm thầm, đặc biệt ở nữ giới, khoảng 70% phụ
nữ và 50% nam giới nhiễm C. trachomatis không có biểu hiện lâm sàng. Nếu
không được điều trị, các trường hợp này sẽ là nguồn lây bệnh trong cộng đồng.
Nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục và nhiễm HIV/AIDS có mối liên
quan mật thiết với nhau, nhiễm HIV sẽ làm suy giảm miễn dịch là điều kiện
thuận lợi cho các bệnh lây truyền qua đường tình dục như vậy viêm niệu đạo,
cổ tử cung do C. trachomatis sẽ là cửa ngõ cho sự lây truyền HIV/AIDS.
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ở khu vực châu Á Thái Bình
Dương hàng năm có khoảng 90 triệu trường hợp mới nhiễm C. trachomatis. Tỷ lệ
nhiễm vi khuẩn này ở người lớn tại Nam Thái Bình Dương là 73%, Papua New
Guinea là 20%, Nhật Bản 7,0%, Việt Nam 2,3%, Senegan 7,0%.
Ở Việt Nam, theo báo cáo từ các đơn vị da liễu của các tỉnh mỗi năm có
khoảng 200.000 người bị mắc các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục.
2
Một nghiên cứu tại Hà Nội năm 2003 về tỷ lệ nhiễm C. trachomatis cho kết
quả: tân binh 9%, phụ nữ có thai 1,5%, người khám STD 1,5%, gái mại dâm
5,0%. Tuy nhiên con số này thấp hơn nhiều so với thực tế, nguyên nhân cơ

- Tất cả các bộ phận của đường sinh dục đều có thể bị viêm nhiễm.
- Phát hiện sớm và điều trị có thể khỏi hẳn và tránh được biến chứng.
- Điều kiện thuận lợi viêm nhiễm đường sinh dục:
+ Do đặc điểm cấu tạo giải phẫu và hoạt động sinh lý của cơ quan sinh
sản giúp cho mầm bệnh phát triển: môi trường ẩm ướt, kinh nguyệt…
+ Vệ sinh kém khi giao hợp, kinh nguyệt
+ Quan hệ tình dục với nhiều đối tượng khác nhau
+ Thủ thuật sản phụ khoa không đảm bảo vô khuẩn
+ Do bản thân mắc các bệnh đái đường, có thai, dùng thuốc kháng sinh
kéo dài, dùng corticoid…
4
1.1.3. Tác nhân gây bệnh
Tác nhân gây bệnh lây truyền qua đường tình dục rất đa dạng bao gồm:
vi khuẩn, vi rus, nấm, ký sinh trùng, đơn bào.
- Bệnh do vi khuẩn:
+ Hạ cam mềm (Heamophilus ducreyi)
+ Chlamydia (Chlamydia trachomatis)
+ U hạt bẹn (Klebsiella granulomatis)
+ Bệnh lậu (Neisseria gonorrhoeae)
+ Giang mai (Treponema pallidum)
- Bệnh do virus:
+ Viên gan siêu vi B
+ Herpes sinh dục
+ HIV/AIDS
+ Bệnh sùi mào gà
+ U mềm lây
- Bệnh do nấm: Nấm sợi và bào tử
- Bệnh do ký sinh trùng: Rận mu, bệnh ghẻ
- Bệnh do đơn bào: Trùng roi (Trichomonas vaginalis)
Trong giới hạn đề tài này tôi chỉ tiến hành nghiên cứu một căn nguyên

- Triệu chứng lâm sàng.
Các dấu hiệu và triệu chứng của tiết dịch âm đạo bệnh lý (khí hư) : số
lượng ít hoặc nhiều, loãng hoặc đặc, màu trong, đục hoặc màu vàng, mùi hôi
hoặc không hôi. Ngoài ra còn có các triệu chứng khác đi kèm:
+ Ngứa vùng âm hộ, âm đạo.
+ Cảm giác bỏng rát vùng âm hộ, âm đạo.
+ Viêm nề âm hộ.
+ Đau khi giao hợp.
+ Có thể kèm theo đái khó.
6
1.2. BỆNH CHLAMYDIA TRACHOMATIS
1.2.1. Lịch sử
Chlamydia lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1907, do Halberstacdter
và Prowacek mô tả những hạt vùi trong tế bào kết mạc bệnh nhân đau mắt hột,
chúng được đặt tên là Chlamydozoa. Năm 1945 Moskowsky gọi các vật thể này
là Mygagawanlla, Chlamydozoom mắt và sinh dục. Cùng với các phát hiện
tương tự, năm 1950 Zhdanov và Konerblit gọi chúng là rickettsia fomis, còn
Levaditi lại đặt tên chúng là Rakeria. Đến năm 1970 hội nghị quốc tế về mắt
hột ở Mỹ mới thống nhất gọi nhóm vi sinh vật này là Chlamydia theo nghĩa
tiếng la tinh là: “áo choàng”.
C. trachomatis là một vi khuẩn khá đặc biệt vì tương tự như siêu vi
trùng (virus). Nó không có khả năng phát trển bên ngoài tế bào sống. Nó là
một trong ba loài vi khuẩn trong chi Chlamydia, họ Chlamydiaceae, lớp
Chlamydiae, giới Bacteria. Trong đó ba loài trong chi Chlamydia gồm:
- Chlamydia psittasci: gây sốt vẹt.
- Chlamydia trachomatis: gây viêm kết mạc, viêm đường niệu sinh dục.
- Chlamydia pneumonia: gây viêm phổi.
Bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang, người ta đã chia C.
trachomatis thành 15 loại là:
- L1, L2, L3 gây bệnh hột xoài (Nicolai – favre).

đẻ, số trẻ sơ sinh bị suy hô hấp phát hiện nhiễm C. trachomatis bằng nuôi cấy
là 12,9% khi bà mẹ bị nhiễm C. trachomatis.
Nhiễm C. trachomatis mà không được điều trị kịp thời có thể gây hậu
quả nặng nề, đặc biệt đối với phụ nữ. Trong đó nguy hiểm nhất là biến chứng
chửa ngoài tử cung và vô sinh. Tại Bệnh viện bà mẹ trẻ em ở Singapore trong
8
số phụ nữ điều trị hiếm muộn thấy tỷ lệ nhiễm C. trachomatis là 8%, có
33,3% phụ nữ dưới 25 tuổi [25]. Tại Ấn Độ, làm xét nghiệm cho phụ nữ chửa
ngoài tử cung và phụ nữ vô sinh do yếu tố tắc ống dẫn trứng – vòi trứng thấy
tỷ lệ nhiễm C. trachomatis ở nhóm chửa ngoài tử cung là 56%, nhóm vô sinh
là 71%, đây là một tỷ lệ rất cao so với nhóm chứng.
Một báo cáo của Lewis và cộng sự năm 2012 về tỷ lệ nhiễm C.
trachomatis tại cộng đồng ở Úc, thì tỷ lệ nhiễm ở phụ nữ dưới 25 tuổi năm
2005 là 5,0%; Nam giới dưới 30 tuổi là 3,9%. Một thống kê khác tại phòng
khám sức khỏe tình dục gia đình ( phòng khám thanh niên) thì tỷ lệ nhiễm này
là 6,2% cho phụ nữ và 10,2% đối với nam giới [18].
1.2.3. Ở Việt Nam
Vấn đề nhiễm C. trachomatis gần đây đã trở thành vấn đề thời sự được
nhiều người quan tâm nghiên cứu.
Theo Dương Thị Cương, Phan Thị kim Anh, Trần Phương Mai và cộng
sự năm 1994 có 3,5% nhiễm C. trachomatis trên 363 phụ nữ đến khám phụ khoa
tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, trong đó nhóm có triệu chứng tỷ lệ nhiễm C.
trachomatis là 3,7%, nhóm không có triệu chứng tỷ lệ nhiễm là 3,4%.
Theo Diệp Xuân Thanh, từ năm 1997 đến năm 1998 tỷ lệ nhiễm C.
trachomatis trên bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Da liễu Trung ương là
10,98%, trong đó nam là 64%, nữ là 36% [7]. Theo Nguyễn Thị Thanh Huyền
năm 2000 thấy tỷ lệ nhiễm C. trachomatis là 10,5 [2]. Năm 2001, cũng tại đây
Nguyễn Thị Ngọc Yến thấy tỷ lệ nhiễm C. trachomatis trong số các bệnh
nhân bị mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục là 9,5%, và số bệnh nhân
nữ cao hơn số bệnh nhân nam 2 lần [8].

glucose và enzyme tham gia chu trình Krebs không hoàn chỉnh, vì lẽ đó
10
chúng phải sống ký sinh bắt buộc trong tế bào sống, lệ thuộc vào hệ thống
năng lượng của tế bào vật chủ. Đây là đặc điểm giống virus của Chlamydia
trachomatis.
C. trachomatis có các loại kháng nguyên:
- Kháng nguyên giống (genus) là loại kháng nguyên chung của nhiều loại
Chlamydia khác nhau, bản chất là glucolipid, không chịu nhiệt, gắn liền với thân.
- Kháng nguyên loài bản chất là protein, không chịu nhiệt. Kháng thể
tương ứng với nó hiện nay được dùng để chẩn đoán loài, tức là xác định sự có
mặt của kháng thể kháng Chlamydia trachomatis, đây là phản ứng đặc hiệu.
- Ngoài ra còn có các kháng nguyên đặc trưng cho từng typ, bản chất là
protein.
1.3.1.2. Phương thức sinh sản, đặc điểm sống và nuôi cấy
C. trachomatis ký sinh nội bào bắt buộc, sinh sản vô tính bằng hình
thức nhân đôi. Chu kỳ phát triển của chúng qua hai hình thái:
- Thể căn bản (Elementary body – EB): có hình tròn, kích thước khoảng
300nm, hầu như không diễn ra quá trình trao đổi chất và có tính cảm nhiễm
cao, tồn tại được ngoài tế bào vật chủ. EB hoạt động chui qua màng tế bào
vào trong và phát triển, lúc này quá trình trao đổi chất bắt đầu diễn ra rất
mạnh, EB lớn lên chuyển thành các thể lưới (Reticulate Body – RB).
- Thể lưới (Reticulate Body – RB): có dạng hình cầu, đường kính khoảng
800 – 1000nm lớn hơn thể căn bản khoảng 2 – 3 lần, có màng mỏng rất dễ
thấm và cho các chất đi qua. RB nhân đôi liên tiếp trong vòng 24 giờ tạo
thành nhiều EB, mỗi chu kỳ 2 – 3 giờ và đến 48 – 72 giờ thì nguyên sinh chất
của tế bào vật chủ đã đầy ắp các EB, làm vỡ tế bào, giải phóng ra các EB tự
do tiếp tục xâm nhập vào các tế bào khác và bắt đầu một chu kỳ mới. Mỗi lần
giải phóng khoảng 100 – 1000 EB [3].
11
Chính vì những đặc điểm cấu tạo và sinh lý đã nêu ở trên nên C.

khuẩn khác.
- Giai đoạn 2: viêm kết mạc thể hạt.
- Giai đoạn 3: bắt đầu có biến chứng loét, bội nhiễm và sẹo.
- Giai đoạn 4: hồi phục kèm theo sẹo kết mạc, loét giác mạc hoặc mù nếu
không được điều trị tích cực.
1.3.2.2. Nhiễm trùng đường sinh dục, tiết niệu
- Tại đường niệu dục: có ít nhất 50% trường hợp không có biểu hiện gì
đặc biệt, đễ bỏ qua. Thời gian ủ bệnh khoảng 5 – 21 ngày. Có thể viêm do C.
trachomatis đơn thuần hoặc phối hợp với Lậu cầu.
- Biểu hiện ở nam:
Các biểu hiện có thể gặp là tiết dich niệu đạo màu trắng, trong, không
mùi, số lượng ít kèm theo có đái dắt, ngứa niệu đạo. Có thể gặp viêm tinh
13
hoàn, viêm mào tinh hoàn. C. trachomatis là tác nhân chính gây viêm niệu
đạo không do Lậu (Non gonococcal urethritis – N.G.U). 30 – 60% N.G.U là
do Chlamydia trachomatis. Viêm niệu đạo do Lậu thường có kèm theo
Chlamydia (35 – 90%). Viêm niệu đạo do C. trachomatis ở nam giới 75% số
ca có triệu chứng lâm sàng. Các triệu chứng thường gặp nhất là tiết dịch niệu
đạo, đái khó, dấu hiệu viêm mào tinh hoàn và viêm tiền liệt tuyến. Triệu
chứng lâm sàng tương tự như bệnh Lậu nhưng xuất hiện chậm hơn và triệu
chứng nhẹ hơn. Tùy từng bệnh cụ thể mà có biểu hiện lâm sàng khác nhau.
• Viêm niệu đạo (sau Lậu 70 – 80% là Chlamydia): thời gian ủ bệnh
thay đổi từ vài ngày đến vài tháng, trung bình khoảng 10 – 15 ngày. Biểu hiện
lâm sàng là tiểu khó, đái buốt, đái rắt, đau khi đi tiểu, có cảm giác rấm rứt dọc
niệu đạo hoặc cảm giác rát bỏng, ngứa dọc niệu đạo [6]. Có dịch niệu đạo
trắng đục (mủ) hoặc trong, 15 – 30% chảy mủ, 20 – 60% chảy dịch trong, số
lượng tùy trường hợp có thể ít hoặc nhiều.
• Viêm mào tinh hoàn: có nhiều nguyên nhân gây viêm mào tinh hoàn
cấp, mạn nhưng C. trachomatis là chủ yếu [6]. Một nghiên cứu tại Trường
Đại học Natal Durban (Nam Phi) cho thấy có tới 34% bệnh nhân viêm mào

lốm đốm cả vùng xung quanh. Lộ tuyến phì đại phù nề xung huyết cổ tử cung,
15
chạm vào dễ chảy máu. Người bệnh có thể ngứa âm đạo, đi tiểu khó nếu có
viêm niệu đạo kèm theo. Swab test dương tính (test quệt) tăm bông quệt vào
cổ tử cung có dịch tiết màu vàng, nhuộm > 30 bạch cầu / vi trường dầu.
Nhuộm Gram dịch tiết cổ tử cung thấy > 10 bạch cầu / 1 vi trường [5].
• Viêm niệu đạo: biểu hiện tiết dịch niệu đạo, lỗ niệu đạo đỏ phù nề, đái
rắt, đái khó. Thường kèm theo có tiết dịch cổ tử cung, có viêm cổ tử cung gợi
ý là viêm niệu đạo do C. trachomatis.
• Viêm tuyến Bartholin: tuyến Bartholin có mủ, có khi kết hợp với Lậu –
C. trachomatis gây viêm xuất ống tuyến Bartholin. Tuyến Bartholin sưng đau,
có mủ.
• Viêm tiểu khung (Pelvic Inflamatory Disease – PID): bệnh thường do
viêm đường sinh dục trên và có thể cấp, bán cấp hoặc mạn tính. 80% PID ở
các nước phát triển là do STD, ở châu Âu khoảng 60% PID là do C.
trachomatis. 10 – 40% phụ nữ nhiễm C. trachomatis bị PID. Có rất nhiều
nghiên cứu đã cho thấy C. trachomatis là nguyên nhân hàng đầu gây nên PID.
Biểu hiện của PID là đau bụng dưới, tiết dịch âm đạo hoặc có thể chảy
máu, đau khi di động cổ tử cung, nhưng cũng có thể không có biểu hiện gì,
khiến chẩn đoán trên lâm sàng gặp nhiều khó khăn, phải dựa vào nội soi. Bệnh
nhân bị PID lâu có thể dẫn đến hậu quả như chửa ngoài tử cung, vô sinh…
• Viêm nội mạc tử cung: có tới gần một nửa số bệnh nhân viêm cổ tử
cung và hầu hết bệnh nhân viêm vòi trứng có kèm theo viêm nội mạc tử cung.
Triệu chứng có thể rất rầm rộ, bệnh nhân sốt, đau bụng dưới dữ dội, ra huyết,
rối loạn kinh nguyệt, dịch âm đạo ra hôi, có mủ…hoặc chỉ đau âm ỉ vùng
bụng dưới kèm rối loạn kinh nguyệt khiến bệnh nhân không chú ý.
• Viêm vòi trứng, buồng trứng: là biến chứng của viêm cổ tử cung do
Chlamydia trachomatis. Triệu chứng nghèo nàn hoặc không triệu chứng nên
khó phát hiện để đi khám kịp thời thường dễ dẫn đến biến chứng vô sinh do
tắc vòi trứng, xơ nang hóa buồng trứng.

trong dịch khớp các bệnh nhân bị hội chứng Reiter.
1.3.3. Phương thức lây truyền, cách phòng tránh và điều trị
Đối với bệnh lây truyền qua đường tình dục, C. trachomatis lây nhiễm từ
người bệnh sang người lành theo hai con đường chính là:
- Lây truyền qua sinh hoạt tình dục với người bị bệnh.
- Lây từ mẹ sang con trong quá trình sinh đẻ.
Ngoài ra Chlamydia cũng có thể lây qua tiếp xúc của bộ phận sinh dục
với dịch tiết đường sinh dục của người bệnh.
Cách thức lây truyền C. trachomatis tương tự như bệnh Lậu, tức chỉ lây
truyền qua giao hợp không bảo vệ, theo mọi hình thức (âm đạo, hậu môn,
miệng). Đối với bệnh mắt hột chủ yếu sự lây truyền do tình trạng vệ sinh kém
của người dân.
Vậy để phòng tránh sự lây nhiễm trước hết phải tuyên truyền giáo dục
cho người dân các biện pháp vệ sinh như không dùng chung khăn mặt, chậu
rửa mặt, đảm bảo nguồn nước sạch trong sinh hoạt hàng ngày, không quan hệ
18
tình dục bừa bãi, đảm bảo quan hệ tình dục an toàn, cần phát hiện sớm người
mắc bệnh để điều trị kịp thời, điều trị đồng thời cả vợ và chồng…
Phòng bệnh đặc hiệu đang được nghiên cứu. Trước đây Collier và cộng
sự đã nghiên cứu thành công một loại vacxin sống bằng cách dùng chủng đặc
hiệu MRC/4/ON tiêm cho khỉ đột Châu Phi gồm 2 mũi dưới da cách nhau một
tuần lễ và một mũi tiêm tĩnh mạch và thu được một loại kháng thể phức hợp
tồn tại trong vòng một năm. Nhưng vacxin vẫn chưa có tác dụng trên người.
Các loại vacxin chết bởi sức nóng, formalin hay tia cực tím đã nghiên cứu
cũng không có tác dụng gây miễn dịch. Vì vậy việc phòng bệnh bằng vacxin
vẫn đang tiếp tục nghiên cứu [5].
Vấn đề điều trị thì cho tới nay C. trachomatis vẫn rất nhạy cảm với các
loại kháng sinh sulfamid, penicillin, tetracyclin, erythromycin. Vì vậy việc
phát hiện sớm có ý nghĩa rất quan trọng có thể chữa khỏi hoàn toàn mà tránh
được nhiều biến chứng đáng tiếc.

50% bệnh nhân nhiễm C. trachomatis không có triệu chứng lâm sàng. Để
chẩn đoán ta làm các xét nghiệm sau.
1.5.1. Chẩn đoán trực tiếp
1.5.1.1. Phương pháp nhuộm soi trực tiếp
- Bệnh phẩm: đối với bệnh mắt hột, người ta lấy bệnh phẩm bằng cách
nạo nang. Đối với bệnh nhân viêm sinh dục tiết niệu thì lấy mủ chất tiết niệu
đạo đối với nam giới; chất tiết cổ tử cung, âm đạo đối với nữ giới.
- Nhuộm soi: có thể nhuộm Giemsa hoặc nhuộm iod. Kỹ thuật nhuộm
đơn giản, rẻ tiền nhưng phải xét nghiệm đúng thời kỳ, thận trọng khi nhận định
kết quả. Với kỹ thuật nhuộm bằng Giemsa kết quả phụ thuộc vào chất lượng
20
Giemsa, đòi hỏi luôn phải kiểm tra dung dịch đệm. Đối với phương pháp
nhuộm iod chỉ cần một kính hiển vi thông thường tuy nhiên độ nhạy lại kém.
Phương pháp nhuộm soi trực tiếp này ít được sử dụng vì hiệu quả thấp
do bệnh phẩm lấy được thường ít vi khuẩn, phương pháp lại có độ nhạy thấp
nên tỷ lệ âm tính giả cao.
Hình 1.4. Hình ảnh C. trachomatis trên kính hiển vi
1.5.1.2. Nuôi cấy phân lập
Phương pháp này khắc phục được nhược điểm của phương pháp nhuộm
soi trực tiếp.
- Đối với bệnh phẩm mắt hột: nuôi cấy vào tế bào thai người để phát hiện
các hạt vùi trong nguyên simh chất của tế bào.
- Đối với bệnh phẩm sinh dục tiết niệu: cấy vào tế bào McCoy hoặc
Hela 229.
Quan sát tính chất xâm nhiễm bằng cách sau 48h nuôi cấy bằng miễm
dịch huỳnh quang.
21
Phương pháp này đặc hiệu 100% nhưng phải thực hiện ở những labo
hiện đại, kỹ thuật cao. Tuy nhiên độ nhạy chỉ đạt 75 – 85%.
Hình 1.5. Thể vùi trong mẫu cấy tế bào McCoy

kỹ thuật thông thường, giúp ta chẩn đoán một cách chính xác sự có mặt của
C. trachomatis có trong bệnh phẩm.
1.5.2. Chẩn đoán gián tiếp
- Xác định kháng thể IgG kháng kháng nguyên giống Chlamydia có
bản chất là glycolipid trong huyết thanh người.
Các kháng nguyên vỏ bản chất là glycolipid của C. trachomatis đã
được gắn vào các giếng. Khi các kháng thể IgG kháng kháng nguyên này hiện
diện trong huyết thanh bệnh nhân chúng sẽ kết hợp đặc hiệu với kháng
nguyên, sau đó cho kháng kháng thể IgG lấy trong huyết thanh dê có gắn men
peroxidase kết hợp với chất tạo màu, nếu cho màu vàng là kết quả dương tính.
- Phản ứng vi lượng huỳnh quang xác định kháng thể chẩn đoán loài
Chlamydia trachomatis, đây là một phản ứng đặc hiệu.
23
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1. Bệnh nhân
Là 399 bệnh nhân có hội chứng tiết dịch niệu đạo, âm đạo đến khám tại
Bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 1/2012 đến tháng 3/2012.
2.1.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
- Tiêu chuẩn chọn lựa:
+ Bệnh nhân có hội chứng tiết dịch niệu đạo, tiết dịch âm đạo.
+ Đồng ý tham gia nghiên cứu
- Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Bệnh nhân đang hành kinh, rong kinh, rong huyết, xuất huyết âm đạo.
+ Sử dụng kháng sinh trong vòng 10 ngày.
+ Đang đặt thuốc âm đạo, thụt rửa âm đạo.
2.1.3. Phân nhóm bệnh nhân
- Theo giới: 2 nhóm
+ Nam giới

- Khăn trải
- Mỏ vịt
- Que cấy
- Tăm bông
- Găng tay…
25
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1. Phương pháp
Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện trên tất cả những bệnh nhân
có hội chứng tiết dịch niệu đạo, âm đạo đến khám từ tháng 1 đến tháng 3 năm
2012 tại Bệnh viện Da liễu Trung ương với số mẫu 399 bệnh nhân, để chúng
tôi: xác định tỷ lệ nhiễm C. trachomatis ở đối tượng này, chúng tôi sử dụng
phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang.
Cỡ mẫu dùng cho nghiên cứu được áp dụng công thức:

2
2
)2/(
)1.(
d
pp
Zn

=
α
Trong đó:
- p: tỷ lệ dương tính của kỹ thuật test nhanh là 17% (căn cứ vào kết quả
dương tính của khoa xét nghiệm Bệnh viện Da liễu Trung ương hàng năm).
Với ngưỡng xác suất 95% ; α = 0,05 ;
-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status