NGHIÊN CỨU TỶ LỆ NHIỄM HIV VÀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ DỰ PHÒNG LÂY NHIỄM CỦA CÁC NỮ THÀNH VIÊN CÂU LẠC BỘ HOA PHƯỢNG - HẢI PHÒNG, NĂM 2009 - 2010 - Pdf 34

NGHIÊN CỨU TỶ LỆ NHIỄM HIV VÀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ,
THỰC HÀNH VỀ DỰ PHÒNG LÂY NHIỄM CỦA CÁC NỮ THÀNH VIÊN
CÂU LẠC BỘ HOA PHƯỢNG - HẢI PHÒNG, NĂM 2009 - 2010
Đào Việt Tuấn
Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS Hải Phòng
TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu khoa học: “Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm HIV và kiến thức, thái độ, thực hành về dự
phòng lây nhiễm của các nữ thành viên CLB Hoa Phượng – Hải Phòng năm 2009-2010” được thực
hiện tại thành phố Hải Phòng. Với mục tiêu xác định tỷ lệ nhiễm HIV và mô tả kiến thức, thái độ, thực hành
về dự phòng lây nhiễm HIV của nhóm đối tượng phụ nữ tại CLB Hoa Phượng, nhằm góp phần tăng
cường các biện pháp can thiệp dự phòng trong nhóm nguy cơ lây nhiễm HIV cao và trong cộng đồng.
Điều tra tiến hành trong 10 tháng (từ tháng 9/2009 đến tháng 8/2010). Đối tượng nghiên cứu gồm 1432
phụ nữ đến tư vấn và xét nghiệm HIV tại CLB Hoa Phượng. Tiến hành phỏng vấn theo bảng kiểm
thông tin và phiếu phỏng vấn trực tiếp. Số liệu thu được phân tích và xử lý trên phần mềm SPSS 13.0.
Kết quả nghiên cứu chính thu được: tỷ lệ nhiễm HIV chung 4,1%, cao trong nhóm đã ly thân/ly hôn
5,2% và nhóm có trình độ học vấn tiểu học 9,7%; tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm có tiêm chích ma túy cao
60,84 lần so với nhóm không tiêm chích; 85,7% có nhiều hơn 2 bạn tình; 70,9% sử dụng BCS thường
xuyên; 72,6% nhận thức đúng về dự phòng lây nhiễm HIV, cao ở nhóm có trình độ từ THPT trở lên;
70,0% biết thông tin về phòng lây nhiễm HIV từ giáo dục viên sức khỏe; 97,5% biết kết quả xét nghiệm
của bản thân; nhưng 88,9% không muốn bộc lộ tình trạng nhiễm HIV.
SUMMARY
Research project: “Study on HIV prevalence and HIV knowledge, attitude and practices among Hoa
Phuong club’s female members in 2009- 2010” was conducted in HaiPhong city. The purpose is to
determine the HIV prevalence and have describe the knowledge, attitude, prevention practices of the female
subjects in Hoa Phuong club in order to have better intervention on prevention of HIV among the community.
The research was conducted in 10 months (form 9/2009 to 8/2010). Subjects are 1432 females come for
counseling and HIV testing at the Hoa Phuong club. Research methods are questionnaire and direct
interview. The data was analyzed and processed by SPSS 13.0. The result: general HIV prevalence 4.1%,
high in the divorce/separated group (5.2%) and primary school education level (9.7%); the group uses drugs
have higher transmission prevalence than non- drugs group by 60.84 times; 85.7% have more than 2 sex
partners; 70.9% uses condom regularly; 72.6% show good awareness on HIV, mostly with high school

và đến từ các tỉnh khác 31,7%. Tỷ lệ chị em sống độc thân cao 89,9%, 10,1% đang sống với chồng,
bạn tình. Trình độ học vấn của chị em hạn chế, tỷ lệ học từ THCS trở xuống chiếm tỷ lệ 77,7%.
2. Một số đặc điểm về nhiễm HIV: Tổng số 1432 mẫu, tỷ lệ nhiễm HIV của nhóm đối tượng nghiên
cứu là 4,1%. Nhiễm HIV gặp ở hai nhóm tuổi 20 – 29 và 30 – 39, tỷ lệ mắc là 4,7% và 5,4%, sự khác biệt
tỷ lệ mắc giữa hai nhóm này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Tỷ lệ phụ nữ nhiễm HIV trong nhóm xuất
thân từ nông thôn 5,4%, xuất thân từ thành phố 3,2%, xuất thân từ tỉnh khác; tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất
trong nhóm đã ly thân/ly hôn là 5,2% và thấp nhất trong nhóm đối tượng chưa kết hôn 2,3% (p < 0,05);
cao nhất với nhóm đối tượng có trình độ học vấn Tiểu học 9,7% và thấp nhất trong nhóm có trình độ
học vấn Trung học phổ thông 2,1% (p < 0,05).
Nhóm có TCMT tỷ lệ nhiễm HIV là 28,1%, không TCMT là 0,6%. Nguy cơ lây nhiễm HIV ở đối
tượng nữ có TCMT cao gấp 60,84 lần so với không TCMT với tỷ suất chênh OR = 60,84 ; 95% CI (28,22
– 131,16). 2,4% đối tượng nữ có < 1 bạn tình nhiễm HIV và 4,4% có > 2 bạn tình nhiễm HIV.
Kiến thức về phòng lây nhiễm HIV:
Bảng 1: Tỷ lệ biết về dịch vụ phòng lây nhiễm HIV theo nguồn thông tin
Nguồn thông tin
Giáo dục viên sức khoẻ
Nhân viên y tế
Bạn tình
Bạn chích chung
Khách hàng khác
Thông tin đại chúng
Tổng cộng

Số lượng
1003
57
30
3
195
144

115
1432

9,0
1,9
81,1
8,0
100

Phụ nữ sinh hoạt tại CLB tự đánh giá nguy cơ của bản thân là mại dâm (81,1 %), QHTD với nhiều người
(8,0 %), có 1,9 % phụ nữ biết nguy cơ là TCMT. Phụ nữ có nhiều bạn tình cùng với TCMT gây ra sự nguy
hiểm không chỉ làm tăng thêm nguy cơ nhiễm HIV cho bản thân mà còn làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV cho
cộng đồng.
Bảng 3: Tỷ lệ biết yếu tố nguy cơ của bạn tình
Biết yếu tố nguy cơ của bạn tình
Không có bạn tình
Bạn tình không có nguy cơ
Bạn tình là người nhiễm HIV
Bạn tình TCMT
Bạn tình là mãi dâm
Bạn tình có tình dục với nhiều người khác
Tổng cộng

Số lượng
7
7
15
90
7
1306

1040

Tỷ lệ (%)
99,6
99,7
91,2
87,8
79,9
72,6

Hầu hết chị em trả lời đúng các câu hỏi 1, 2 với tỷ lệ là 99,6%, 99,7%. Các câu hỏi 3,4,5 tỷ lệ trả lời
đúng thấp hơn 91,2%, 87,8% và 79,9%. Đúng cả 5 câu hỏi là 72,6%. Tỷ lệ nhiễm trên phụ nữ có kiến
thức đúng về dự phòng lây nhiễm HIV là 3,7%, không trả đúng là 5,1% . Không có sự khác biệt giữa việc

128


trả lời đúng kiến thức về phòng lây nhiễm HIV với tình trạng nhiễm HIV với p > 0,05; OR = 0,71; 95% CI
(0,41 – 1,23).
Tỷ lệ phụ nữ sinh hoạt tại CLB có kiến thức đúng về phòng lây nhiễm HIV cao nhất ở nhóm tuổi >
50 (83,2%). Các nhóm tuổi 30 - 39; 40 - 49 và 20 - 29 là 82,8%, 77,2% và 73,9%, thấp nhất ở nhóm
tuổi < 19 (50,6%) với p < 0,05. Trả lời đúng kiến thức về phòng lây nhiễm HIV cao nhất ở nhóm từ
Trung cấp trở lên (92,9%) và THPT (97,9%); trình độ THCS, Tiểu học là 19,6%, 31,4%. Thấp nhất
trong nhóm không đi học 15,0 %, với p < 0,05.
3. Thái độ về phòng lây nhiễm HIV: Phụ nữ sinh hoạt tại CLB được tiếp cận các thông tin và dịch vụ
và họ muốn biết về nguy cơ nhiễm HIV của bản thân, tham gia phỏng vấn có 43,6% chị em sinh hoạt tại
CLB báo cáo đã từng xét nghiệm HIV trước đây và biết kết quả XN. Tỷ lệ phụ nữ đến tư vấn và XN một
lần đầu trong năm chiếm tỷ lệ cao 90,4%, đến lần thứ hai trong một năm là 9,6%. Kháng thể HIV sẽ
xuất hiện trong máu người bệnh từ 1 – 3 tháng sau khi nhiễm, trong số chị em XN đến một lần đầu
trong năm không loại trừ có trường hợp đang trong giai đoạn HIV cấp tính, các XN phát hiện kháng thể

28,6

Kết quả nghiên cứu cho thấy số phụ nữ có từ 2 bạn tình trở lên chiếm tỷ lệ 85,7%, Trong nhóm phụ
nữ nhiễm HIV có 25,9% (15/58) có hành vi không sử dụng hoặc sử dụng không thường xuyên BCS khi
QHTD với khách hàng, bạn tình. Có tới 28,6% phụ nữ sinh hoạt tại CLB có hành vi không sử dụng
hoặc sử dụng không thường xuyên BCS khi QHTD. Sử dụng BCS là biện pháp tốt nhất phòng lây
nhiễm HIV qua QHTD. Trong số 409 chị em không sử dụng/sử dụng không thường xuyên BCS khi
QHTD có 35,2% chị em không thích sử dụng, 62,8% do bạn tình không đồng ý, 2,0% chị em báo cáo
không sẵn có BCS.
KẾT LUẬN
Tỷ lệ nhiễm HIV chung của nhóm đối tượng nghiên cứu là 4,1%. Chủ yếu gặp ở hai nhóm tuổi 20 –
29 và 30 – 39 với tỷ lệ mắc là 4,7% và 5,4%.
Theo địa dư: nông thôn 5,4%; thành phố 3,2%; tỉnh khác 4,4% v; Theo tình trạng hôn nhân: cao
nhất nhóm ly thân/ly hôn 5,2% và thấp nhất nhóm chưa kết hôn 2,3%; Theo học vấn: cao nhất nhóm
TH 9,7% và thấp nhất nhóm THPT 2,1%.
Theo tình trạng TCMT: tỷ lệ nhiễm HIV ở nữ TCMT (28,1%) cao hơn so với nhóm không TCMT
(0,6%) với tỷ suất chênh OR = 60,84; p < 0,05.
Thông tin về phòng lây nhiễm chủ yếu được biết đến từ giáo dục viên sức khỏe (70,0%). Hiểu biết
nguy cơ lây nhiễm HIV của bản thân là mại dâm, có QHTD với nhiều người (89,1%); TCMT (1,9%);
nguy cơ của bạn tình như có tình dục với nhiều người khác (91,2%); TCMT (6,3%), người nhiễm HIV
(1,0%).
Nhận thức đúng về dự phòng lây nhiễm HIV là 72,6%, cao nhất ở nhóm tuổi > 50 (83,2%), cao ở
nhóm có trình độ từ Trung cấp và THPT (92,9% và 97,9%).
Tỷ lệ lấy kết quả xét nghiệm cao 97,5%; nhưng không muốn bộc lộ tình trạng nhiễm HIV, tỷ lệ không
muốn bộc lộ với nhân viên y tế là 88,9%, với bạn tình là 94,7%.
85,7% có nhiều hơn 2 bạn tình; 70,9% sử dụng BCS thường xuyên; 25,9% phụ nữ nhiễm HIV
không sử dụng/ sử dụng không thường xuyên BCS khi QHTD.
KIẾN NGHỊ
Truyền thông giáo dục nâng cao kiến thức về dự phòng lây nhiễm HIV, tư vấn xét nghiệm tự nguyện
thông qua các tuyên truyền viên giáo dục sức khỏe, tăng cường sâu hơn về nội dung, vận động chị em có

KHẢO SÁT KHẢ NĂNG CHI TRẢ CHI PHÍ ĐIỀU TRỊ METHADONE
CỦA BỆNH NHÂN CHUẨN BỊ THAM GIA MÔ HÌNH XÃ HỘI HÓA
METHADONE TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
Tiêu Thị Thu Vân, Nguyễn Thị Thúy Ngà, Phạm Thị Thu Thúy,
Hán Đình Hòe, Vũ Thị Tường Vi
TÓM TẮT
Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 300 bệnh nhân đang và chuẩn bị điều trị Methadone (MMT)
tại TP.HCM năm 2012. Mục đích của nghiên cứu nhằm tìm hiểu khả năng chi trả chi phí điều trị Methadone
của bệnh nhân chuẩn bị tham gia mô hình xã hội hóa chương trình Methadone tại TP.HCM. Kết quả phân
tích cho thấy 91% bệnh nhân mong muốn tiếp tục tham gia điều trị Methadone dù phải đóng phí điều trị.
Mức phí trung bình mà bệnh nhân có thể trả được là 20.698 vnd/ngày/bệnh nhân. 27,1% bệnh nhân có khả
năng chi trả phí dưới 10.000vnd/ngày/người, 41,9% bệnh nhân có khả năng trả từ 10.000 vnd –
20.000vnd/ngày/người và 31% có khả năng trả từ 21.000 vnd/ngày trở lên.Về hình thức chi trả: 51% bệnh
nhân muốn trả theo tháng, 34% trả theo từng ngày. 90,1% bệnh nhân lựa chọn dịch vụ khám bệnh là ưu tiên
hàng đầu, 83,2% lựa chọn dịch vụ tư vấn tâm lý là ưu tiên thứ hai, 87% bệnh nhân mong muốn nhận dịch vụ
điều trị Methadone của nhà nước thay vì các dịch vụ tư nhân. Kết quả nghiên cứu cho thấy kế hoạch thu 1/3
chi phí điều trị của bệnh nhân Methadone đáp ứng được nhu cầu điều trị và phù hợp với khả năng kinh tế
của người bệnh.
SUMMARY
Cross sectional study was conducted on 300 patients who was preparing or already taking Methadone
medication treatment (MMT) in HCM city 2012. The purpose of the study is to find out the affordability for the
MMT of the patients who was about to take part in the Methadone program’s socialization model in HCM
city. The result shows 91% of the patients want to continue Methadone treatment despite the treatment fee.
Patients can usually pay for 20.698 VND/day/person. 27.1% of the patients can pay below 10.000
VND/day/person, 41.9% can afford from 10.000 VND – 20.000 VND/day/person and 31% can pay 21.000
VND and above. Regarding the payment method: 51% of the patients want to pay monthly, 34% want to pay
daily, 90.1% of the patients prioritized on medical examination service, 83.2% chose psychology consultation
as second priority, 87% wanted to receive government Methadone treatment instead of private services.
Study result shows that collecting one third of the treatment fee from Methadone patient is sufficient for their
treatment needs and economic viability.

bệnh nhân tham gia điều trị Methadone).
Phương pháp chọn mẫu:
Kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản được sử dụng để chọn ra số mẫu cần thiết cho nghiên cứu. Dựa
vào danh sách bệnh nhân có sẵn của 5 quận, sau đó chọn ngẫu nhiên từ 1 đến n số mẫu của từng điểm
Methadone. Sử dụng kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện để chọn ra 15 gia đình bệnh nhân tham gia vào nghiên
cứu.
Quản lý và phân tích dữ liệu:
Dữ liệu thu thập về, được nhập và làm sạch trên phần mềm nhập liệu SPSS 17.0, gỡ băng phỏng vấn
sâu sang phần mềm Word 2007. Các biên bản phỏng vấn, dữ liệu thu thập từ các bảng hỏi được lưu giữ và
quản lý tại UBPC AIDS TP.HCM.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm nhân khẩu học:
Tổng số mẫu nghiên cứu là 300, trong đó 90,7% là nam giới. Tuổi trung bình của người tham gia nghiên
cứu là 33 tuổi, tuổi thấp nhất là 22 và cao nhất là 61 tuổi. 40% bệnh nhân có trình độ cấp III (lớp 10 – 12),
38% có việc làm và thu nhập trung bình 3,2 triệu đồng/tháng, 78,7% bệnh nhân tự nhận điều kiện kinh tế gia
đình thuộc diện trung bình, 91% người được hỏi mong muốn tiếp tục được tham gia điều trị Methadone dù
có phải đóng phí, và 75% người cho rằng họ có khả năng chi trả chi phí điều trị lâu dài, miễn sao họ được
tham gia chương trình.
Khả năng chi trả phí điều trị/ngày:
41,9% bệnh nhân đồng ý đóng góp chi phí điều trị từ 10.000 vnd – 20.000 vnd/ngày, 27,1% có khả năng
đóng dưới 10.000 vnd/ngày, 18,8% có khả năng đóng từ từ 21.000 vnd - 30.000vnd/ngày, và 12% còn lại có
khả năng đóng từ 31.000 vnd – trên 50.000 vnd/ngày. Số tiền trung bình bệnh nhân có khả năng đóng góp
là 20.693 vnd/ngày (thấp nhất =1.000 vnd; cao nhất = 100.000vnd).

Biểu đồ 1. Khả năng đóng phí điều trị/ngày của bệnh nhân Methadone

131


Nhu cầu của bệnh nhân khi tham gia điều trị có đóng phí:

gia đình rất khó khăn, không có khả năng chi trả chi phí điều trị. Do đó, để đảm bảo duy trì điều trị MMT cho
bệnh nhân, chính quyền địa phương và phía chương trình cần xem xét từng đối tượng cụ thể để có những
hỗ trợ phù hợp như: miễn giảm phí cho bệnh nhân nghèo, khó khăn theo quy định của chương trình (miễn
giảm 20% cho bệnh nhân nghèo về chi phí điều trị).
Những bệnh nhân có khả năng trả mức phí điều trị càng cao đồng nghĩa với việc tỉ lệ lựa chọn loại hình
dịch vụ tư nhân tăng lên. Do đó, thành phố cần xem xét kỹ lưỡng việc mở các phòng khám và điều trị MMT
tư nhân trong thời gian tới để đáp ứng nhu cầu cũng như mong đợi của bệnh nhân.
KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng chi trả chi phí điều trị Methadone của bệnh nhân hoàn toàn phù
hợp với mức giá đề xuất Kế hoạch thu phí bệnh nhân MMT của UBND TP. HCM giai đoạn 2013 – 2014. Đây
là bước quan trọng chuẩn bị tốt cho việc triển khai mô hình xã hội hóa chương trình Methadone tại TP.HCM
trong thời gian tới được hiệu quả, phù hợp với thực tế và đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của bệnh nhân khi
tham gia điều trị Methadone có đóng phí.

132


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Y tế, 2009, “Đánh giá mô hình triển khai thí điểm điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện
bằng thuốc Methadone tại TP Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh”. Dự thảo kết quả đánh giá đợt I. Hà Nội.
2. Bộ Y tế, 2007, “Hướng dẫn điều trị thay thế cai nghiện CDTP bằng thuốc Methadone”. Nhà xuất bản Y
học. Hà Nội.
3. Bộ Lao Động – Thương Binh và Xã hội Việt Nam, (2010) “Dự thảo chương trình điều trị nghiện từ năm
2011 – 2015”.
4. Cục Phòng, Chống HIV/AIDS, 2009, “Đánh giá bước đầu triển khai thí điểm điều trị nghiện các chất
dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại TP.HCM và Hải Phòng”
5. Dự án Sáng kiến Chính sách y tế của USAID tại Việt Nam, 2011, “Nghiên cứu đánh giá bước đầu hiệu
quả triển khai thí điểm điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại Hải Phòng và
TP.HCM”.
6. Guohong Chen, Takeo Fujiwara. “Đánh giá tác động sau một năm triển khai chương trình điều trị thay

ĐẶT VẤN ĐỀ
Buôn Đôn là một huyện biên giới cách thành phố Buôn Ma Thuột 25 km về hướng Tây Bắc theo con
đường tỉnh lộ số 1. Có 7 xã, không có thị trấn, 96 thôn, buôn. Buôn Đôn có 13 dân tộc sinh sống, là huyện
năng động nhất về kinh doanh du lịch trong tỉnh Đắk Lắk. Để đánh giá hiệu qủa công tác phòng chống
HIV/AIDS trong những năm qua và có cơ sở phát triển công tác truyền thông phòng, chống HIV/AIDS trong

133


những năm tới xuống vùng nông thôn, nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, chúng tôi tiến hành thực hiện
đề tài “Nghiên cứu kiến thức và thái độ về phòng, chống HIV/AIDS và các bệnh LTQĐTD của người dân 3
xã Cuôr knia, Tân Hoà, Ea Bar huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk”.
Mục tiêu nghiên cứu:
1. Mô tả kiến thức và thái độ về phòng chống nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình
dục của người dân.
2. Mô tả các yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ về phòng chống nhiễm HIV/AIDS của người
dân
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Người dân 3 xã Cuôr Knia, Tân hoà, Ea Bar huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk tuổi từ 18 đến 60.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Từ ngày 5/2011-8/2011tại 3 xã Cuôr Knia, Tân hoà, Ea Bar huyện Buôn Đôn tỉnh Đắk Lắk.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế: Mô tả cắt ngang.
Cỡ mẫu nghiên cứu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu sau:
n=

Z2(1- α/2). p(1-p)

d2

Hiểu sai
Hiểu đúng
Hiểu sai
Hiểu đúng
Hiểu sai
Hiểu đúng
Hiểu sai

n=200
71
129
96
104
38
162
103
97
57
143

Tỷ lệ %
35,5
64,5
48,0
52,0
19,0
81,0
51,5
48,5
28,5

24,2
31,5


3 cách phòng tránh nhiễm HIV chiếm tỷ lệ cao nhất là chung thuỷ 01 bạn tình chiếm 70,6 %, tiếp đến là
sử dụng BCS đúng cách khi QHTD chiếm 68,9% và không TCMT hoặc không dùng chung BKT chiếm
56,9%, tuy nhiên biết đầy đủ cả 3 cách chỉ chiếm 31,5%.
Bảng 3. Tỷ lệ nhận biết các bệnh LTQĐTD HIV/AIDS
Nội dung
Lậu
Giang mai
Nấm âm đạo, âm hộ
Sùi mào gà
Viêm âm đạo

Tỷ lệ %
72,4
52,0
13,8
6,5
22,8

Nội dung
Mụn rộp sinh dục/Herpes sinh dục
Chlamydia
Viêm gan B
Trùng roi âm đạo
HIV/AIDS

Tỷ lệ %


Có 45,5% cho rằng những người mắc các bệnh LTQĐTD có thể giúp HIV dễ lan truyền hơn, 38,5% cho
rằng để phòng các bệnh LTQĐTD phải chung thuỷ 1 vợ 1 chồng và dùng BCS đúng cách khi quan hệ với
bạn tình.
Bảng 5. Tỷ lệ thái độ của người dân về HIV/AIDS (n=200)
Thái độ chung về HIV/AIDS
Đúng
Sai
Không có thái độ

Tần số
79
30
91

Tỷ lệ %
39,5
15
45,5

39,5% có thái độ đúng về HIV/AIDS nghĩa là không đồng ý với quan điểm người nhiễm HIV/AIDS sẽ bị
cộng đồng phân biệt, xa lánh và kỳ thị; người nhiễm HIV/AIDS sẽ bị mất việc làm hoặc không có việc làm;
những đứa trẻ bị nhiễm HIV/AIDS sẽ không được đến trường học hoặc bị bạn bè xa lánh, hắt hủi.
2.2. Các yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ về phòng, chống nhiễm HIV/AIDS của người
dân
Bảng 6. Mối liên quan gữa giới, nhóm dân tộc, trình độ học vấn, kinh tế với kiến thức chung về HIV/AIDS
(n=200)
Kiến thức chung
Đúng
Sai

Nhóm dân tộc
Trình độ học vấn
Mức thu nhập/tháng

Nam
Nữ
Kinh
Êđê, khác
THCS trở lên
Tiểu học trở xuống
≤ 1 triệu đồng
> 1 triệu đồng

p
%
65,1
91,5
62,5
81,3
47,4
89,5
85,2
51,5


%
n=121
%
63,2
39
36,8
12,8
82
87,2
62,5
15
37,5
33,8
106
66,2
71,9
16
28,1
26,2
105
73,8
28,4
111
71,6
77,8
10
22,2

p

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Qua kết quả điều tra cho thấy trình độ học vấn thấp, thu nhập thấp, khả năng đọc - nghe và hiểu tiếng
kinh thành thạo chưa đến 70%, đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ kiến thức hiểu biết
chung về HIV/AIDS của người dân huyện Buôn Đôn còn thấp và nhận thức thái độ về HIV/AIDS chưa cao.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu có một số khuyến nghị như sau:
Tăng cường công tác truyền thông tại cơ sở, tuyển chọn cộng tác viên làm công tác tuyên truyền phải là
những người có khả năng biết cả tiếng kinh và tiếng Êđê hoặc là người đồng bào tại chỗ, lồng ghép tuyên
truyền vào các cuộc họp thôn, buôn, khối, phố.
Tài liệu tuyên truyền bằng tờ rơi, tranh ảnh, áp phích về HIV/AIDS và các BLTQĐTD cho tuyến huyện
phải bằng 2 thứ tiếng gồm tiếng kinh và tiếng Êđê.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phạm thọ Dược và Cs (2010), Điều tra kiến thức, thái độ và hành vi về HIV/AIDS của cộng đồng dân
cư ở TP. Buôn Ma Thuột, ĐắkLắk, Y học thực hành số 697+698, tr144-148.
2. Trương Tấn Minh và Cs (2010), Đánh giá kiến thức, thái độ, hành vi về phòng chống nhiễm HIV/AIDS
trên người dân 15 – 49 tuổi tại Khánh Hòa năm 2008, Các công trình nghiên cứu khoa học về HIV/AIDS giai
đoạn 2006-2010, Tập san Y học thực hành (số 742+743), tr 66-71.
3. Hoàng huy Phương và CS (2010), Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành về phòng, chống HIV/AIDS
của người dân từ 15-49 tuổi ở huyện Hoa Lư và TP Ninh Bình năm 2009 , Các công trình nghiên cứu khoa
học về HIV/AIDS giai đoạn 2006-2010, Tập san Y học thực hành (số 742+743), tr 124-130.

ĐÁNH GIÁ HÀNH VI NGUY CƠ NHIỄM HIV Ở NAM
MẮC CÁC NHIỄM KHUẨN LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC
TẠI THÀNH PHỐ HUẾ NĂM 2012
Lý Văn Sơn1, Trần Thị Ngọc1, Lê Viết Khánh2, Nguyễn Văn Quý3, Trương Linh3,
Nguyễn Thị Lệ1, Nguyễn Lê Tâm1, Lê Hữu Sơn1, Nguyễn Hữu Huệ1, Lê Văn Vinh1,
1
Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Thừa Thiên Huế
2
Bệnh viện Trung Ương Huế
3

nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục tại thành phố Huế, năm 2012”, với mục tiêu:
1. Xác định tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở nam mắc các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục tại thành
phố Huế năm 2012.
2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến nguy cơ lây nhiễm HIV nam mắc các nhiễm khuẩn lây truyền qua
đường tình dục tại thành phố Huế.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bệnh nhân nam từ 16 tuổi trở lên, có hành vi dân sự, mắc các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình
dục trên địa bàn thành phố Huế đến khám chữa bệnh tại khoa Da liễu - Bệnh viện Trung ương Huế và
phòng khám STI - Trung tâm phòng, chống bệnh xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế từ ngày 01/6/2012 đến
30/9/2012.
Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang.
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu:

n=

Ζ12− α / 2 .p.(1 − p)
d2

Z =1,96; p = 4%; d = 0,03. Tính n = 164.
Chọn n = 200 bệnh nhân nam mắc các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục. Số liệu nghiên cứu
được xử lý theo phần mềm thống kê EPI INFO 6.04.
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
1. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV
Bảng 1. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở nam STIs
Hiện nhiễm HIV
Hiện nhiễm
Chưa hiện nhiễm
Tổng cộng

Số lượng

Tổng cộng

N
49
37
114
200

Số HIV/AIDS (+)
1
2
1
4

Tỷ lệ %
2,0
5,4
0,9
2,0

P
P>0,05

Tỷ lệ hiện nhiễm HIV theo nhóm tuổi không có sự khác biệt với P>0,05. Nghiên cứu chúng tôi khác
Jewkes R, Dunkle K, Nduna M, Levin J và cộng sự (2006), “Các yếu tố liên quan đến HIV huyết thanh
dương tính ở trẻ, những người đàn ông nông thôn Nam Phi”, tổng số 1.277 nam giới, độ tuổi từ 15-26, ở 70

137




Tỷ lệ hiện nhiễm HIV theo tuổi QHTD lần đầu tiên không có sự khác biệt với P>0,05. Nghiên cứu chúng
tôi khác Bo Wang, Xiaoming Li, Bonita Stanton (2007) “Khác biệt giới tính trong nhận thức liên quan đến
HIV, các hành vi rủi ro tình dục, và lịch sử các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong số những người di
cư Trung Quốc đến phòng khám", khi nghiên cứu 537 nam giới báo cáo rằng QHTD lần đầu tiên xảy ra khi
họ còn trẻ hơn 18 tuổi (P = 0,0007) [4].
Theo CDC (2009) khi nghiên cứu “Xét nghiệm HIV trong số học sinh phổ thông - Hoa Kỳ, 2007”; 14.103
học sinh từ 157 trường, trong số các sinh viên đã từng có quan hệ tình dục, tỷ lệ xét nghiệm HIV giảm theo
độ tuổi quan hệ tình dục đầu tiên, từ 30,7% trong số sinh viên là người đầu tiên có quan hệ tình dục trước
13 tuổi đến 12,6% trong số học sinh là người đầu tiên có quan hệ tình dục ở tuổi 17 năm hoặc lớn hơn (P

Chỉ có đi khám, đi tư vấn và làm xét nghiệm HIV mới biết được mình có bị nhiễm bệnh hay không mà
thôi!
KẾT LUẬN
Nghiên cứu đề tài “Đánh giá hành vi nguy cơ nhiễm HIV ở nam mắc các nhiễm khuẩn lây truyền qua
đường tình dục tại thành phố Huế, năm 2012”, chúng tôi nhận thấy:
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở nam STIs là 2,0%,
Một số yếu tố liên quan đến nguy cơ lây nhiễm HIV ở nam mắc các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường
tình dục
Theo tuổi QHTD lần đầu tiên dưới 20 tuổi là 3,0%; từ 25 tuổi trở lên là 2,6% và từ 20-24 tuổi là 1,0%;
P>0,05.
Theo nhóm tuổi dưới 25 tuổi là 2,0%; 25-29 là 5,40% và từ 30 tuổi trở lên là 0,9%; P>0,05.
Theo mắc hội chứng tiết dịch niệu đạo là 4,8% cao hơn không mắc hội chứng tiết dịch niệu đạo là 0%, có
sự khác biệt, có ý nghĩa thống kê với P
(CSSKSS) tỉnh, là nơi chuyên cung cấp dịch vụ chăm sóc tiền sản, khám thai, KHHGĐ, chỉ có khoảng
61,70% PNMT sử dụng dịch vụ xét nghiệm HIV tự nguyện (so chỉ với tiêu là 70%). Nhằm nâng cao chất
lượng hoạt động phòng chống HIV/AIDS, Trung tâm CSSKSS Đồng Tháp đã quyết định áp dụng các công
cụ Cải thiện chất lượng (QI) để can thiệp làm tăng tỷ lệ tư vấn, xét nghiệm HIV cho PNMT đến chăm sóc
tiền sản tại Trung tâm. Phòng khám đã áp dụng các công cụ bao gồm vẽ sơ đồ diễn tiến của quy trình, vẽ
khung xương cá để phân tích các nguyên nhân dẫn tới vấn đề và từ đó đưa ra các giải pháp và hoạt động
cải thiện. Phòng khám đồng thời thu thập số liệu đo lường liên tục 3 chỉ số chất lượng tại phòng khám, bao
gồm Tỷ lệ PNMT được tư vấn sớm, Tỷ lệ PNMT được XNHIV sớm, và Tỷ lệ PNMT XNHIV(+) để đánh giá
trước và sau can thiệp cải thiện chất lượng. Kết quả sau 12 tháng thực hiện cải thiện, tỷ lệ PNMT được tư
vấn sớm tăng từ 79,6% lên 85,1%; tỷ lệ PNMT được XNHIV sớm tăng từ 61,7% lên 74,6% (vượt chỉ tiêu đề
ra). Phòng khám tiếp tục duy trì các hoạt động cải thiện, đến tháng 7 năm 2013 đã đạt 90,5% PNMT được
XNHIV sớm. Rõ ràng áp dụng cải thiện quy trình đã góp phần tăng cường chất lượng dịch vụ và nâng cao
số lượng PNMT được hưởng lợi từ XNHIV sớm tại Đồng Tháp. Trong tương lai, phòng khám sẽ áp dụng mở
rộng cải thiện quy trình cho các hoạt động khác nhằm tăng cường chất lượng và hiệu quả của công tác tư
vấn, xét nghiệm HIV cho PNMT và dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con.

139


SUMMARY
Dong Thap is one of 15 provinces with highest number of infected cases through sexual transmission.
Therefore, the number of HIV positive cases among pregnant women is increasing in the province. However,
not many pregnant women took the HIV test in Dong Thap 2011, only 38.7% and decrease 27.61% by the
same quarter in 2010. In provincal center for reproductive health care (CRHC), which provide prenatal care,
antenatal care services, family planning, there are only 61.70% pregnant women took the voluntary HIV test
(compare to 70% goal). To improve the quality of HIV/AIDS prevention and control activities, Dong Thap
CRHC applied quality improvement tool (QI) in order to increase the number of HIV counseling and testing
for pregnant women at the center. The clinic used tools like process mapping, fishbone diagram to analyze
the causes and bring solutions or improvements. The clinic also constantly collect 3 quality indexes, they are
the prevalence of pregnant women taking early counsel, prevalence of women taking HIV test early and the

Chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) tỉnh chỉ có khoảng 61,70% PNMT sử dụng dịch vụ XNHIV tự
nguyện. Nhằm nâng cao chất lượng hoạt động phòng chống HIV/AIDS, Trung tâm CSSKSS Đồng Tháp đã
quyết định áp dụng các công cụ Cải thiện chất lượng (QI) để can thiệp làm tăng tỷ lệ tư vấn, xét nghiệm HIV
cho PNMT đến chăm sóc tiền sản tại Trung tâm.
MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP CAN THIỆP
Mục tiêu cải thiện:
Tăng tỷ lệ phụ nữ mang thai sử dụng sớm dịch vụ xét nghiệm HIV tự nguyện tại Trung tâm Chăm sóc
Sức khỏe Sinh sản tỉnh Đồng Tháp từ 61,70% (1.736/2.814) vào năm 2011 lên 70% vào năm 2012.
Phương pháp cải thiện:
Để đạt được mục tiêu cải thiện chất lượng đề ra, các cán bộ của phòng khám của Trung tâm đã xây
dựng sơ đồ diễn tiến nhằm mô tả các hoạt động đang được thực hiện liên quan tới việc tư vấn và xét
nghiệm cho PNMT tại Trung tâm, từ đó xem xét những khía cạnh có thể cải thiện trong các hoạt động này.

140


Hình 1. Sơ đồ diễn tiến quy trình tư vấn xét nghiệm cho PNMT đến khám tiền sản

Dựa vào sơ đồ diễn tiến, phòng khám xây dựng 3 chỉ số chính nhằm đo lường hiệu quả của quy trình
này và hướng tới mục tiêu cải thiện chất lượng. Các chỉ số bao gồm:
Tỷ lệ PNMT được tư vấn sớm =
Tỷ lệ PNMT được XNHIV sớm =
Tỷ lệ PNMT XNHIV(+) =

Số PNMT được tư vấn về XNHIV
Tổng số PNMT lần đầu đến khám tiền sản
Số PNMT được XNHIV
Tổng số PNMT lần đầu đến khám tiền sản
Số XNHIV(+)
Tổng số PNMT được XNHIV

bao gồm:
02 cán bộ y tế đã được tập huấn nâng cao kỹ năng tư vấn.
Lịch tư vấn đã được chủ động sắp xếp trong giao ban hàng tuần, đảm bảo luôn có một tư vấn tại mỗi
phòng tư vấn và phòng khám tiền sản.
Bố trí được sơ đồ hướng dẫn PNMT tới phòng tư vấn.
Tăng cường được 2.300 xét nghiệm HIV miễn phí.
Tổ chức được 12 buổi sinh hoạt nhóm lồng ghép tư vấn XNHIV với chương trình dinh dưỡng cho PNMT
Thực hiện được 12 buổi giám sát hỗ trợ tư vấn các trường hợp khó.
Song song với những hoạt động cải thiện này, phòng khám duy trì việc thu thập số liệu đo lường các chỉ
số chất lượng.

Hình 4. Biểu đồ thể hiện kết quả thực hiện quy trình tư vấn XNHIV của phòng khám năm 2012 và 7
tháng đầu năm 2013

142


Sau 12 tháng can thiệp (từ 01/2012 đến 12/2012), tỷ lệ PNMT sử dụng sớm dịch vụ xét nghiệm HIV tự
nguyện tại Trung tâm chăm sóc sức khoẻ sinh sản tỉnh Đồng Tháp đã đạt 74,6%, vượt mức mục tiêu đề ra
(Hình 4).
BÀN LUẬN
Sau khi đánh giá kết quả can thiệp cải thiện chất lượng hoạt động tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện tại
phòng khám tiền sản của Trung tâm CSSKSS, phòng khám nhận thấy các hoạt động cải thiện đã góp phần
giúp cho quy trình tư vấn XNHIV được thực hiện tốt hơn. Những hoạt động có hiệu quả mà nhóm đã đưa
vào chuẩn hóa bao gồm:
Duy trì sơ đồ hướng dẫn PNMT tới phòng tư vấn XNHIV.
Tiếp tục bố trí nhân viên tiếp đón hướng dẫn PNMT đến phòng tư vấn.
Duy trì hỗ trợ xét nghiệm HIV miễn phí.
Tăng cường tư vấn về lợi ích của xét nghiệm HIV và phát tờ rơi thường xuyên.
Xếp lịch và phân công cán bộ cụ thể để tư vấn cho PNMT.

4. Trung Tâm Chăm sóc Sức khỏe sinh sản tỉnh Đồng tháp (2012), Báo cáo tổng kết hoạt động năm
2012, Đồng Tháp 2012.
5. Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Đồng Tháp (2012), Báo cáo kết quả hoạt động phòng chống
HIV/AIDS năm 2011, Đồng Tháp 2011.
6. Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Đồng Tháp (2012), Báo cáo kết quả hoạt động phòng chống
HIV/AIDS 6 tháng đầu năm 2012, Đồng Tháp 2012.
7. Trường Đại học Y tế Công cộng (2007), Áp dụng quản lý chất lượng toàn diện trong phòng chống
HIV/AIDS, Nhà xuất bản Y học 2007.
8. Trường Đại học Y tế Công cộng (2010), Giám sát, hỗ trợ nhân viên thực hiện công việc hiệu quả trong
Chương trình Phòng chống HIV/AIDS (tài liệu dành cho học viên), Hà Nội 2010.

143


KHẢO SÁT HÀNH VI NGUY CƠ LÂY NHIỄM HIV
TRÊN CÁC ĐỐI TƯỢNG NAM NGHIỆN CHÍCH MA TÚY,
PHỤ NỮ BÁN DÂM, NAM QUAN HỆ TÌNH DỤC ĐỒNG GIỚI
TẠI KHÁNH HÒA NĂM 2012
Trần Thị Kim Dung, Trần Văn Tin,
Nguyễn Thị Ngọc Loan, Nguyễn Thị Thảo Ly
TÓM TẮT
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở các quần thể: Nam nghiện chích ma túy(NCMT); Phụ nữ bán
dâm (PNBD); Nam quan hệ tình dục đồng giới(MSM) tại Khánh Hòa năm 2012;
Mô tả các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV ở nam NCMT; PNBD; MSM và đo lường độ bao phủ các
chương trình dự phòng, chăm sóc và điều trị.
Địa điểm và thời gian: Từ tháng 5/2012 đến tháng 12/2012 tại Khánh Hòa.
Cỡ mẫu: 700 gồm: 200 mẫu nam NCMT, 200 mẫu PNBD và 300 mẫu MSM.
Phương pháp: Điều tra cắt ngang, phân tích mô tả.
Kết quả: Tỷ lệ nhiễm HIV ở các nhóm như sau: NCMT: 6,5%(13/200), PNBD: 2%, MSM: 1,3%.
Tỷ lệ PNBD đã từng TCMT là 2%.Tỷ lệ PNBD nhiễm HIV có TCMT là 50%, tỷ lệ MSM đã từng TCMT là

Average time of monthly sex transaction is 38; 86.5% used condom in their most recent sex, prevalence
of condom usage with clients in one month is 42%, 54.5% with regular clients.
Prevalence of MSM selling sex in the last 12 months is 31%, prevalence of condom usage during sex
with male partners in one month is 55.9%.
Prevalence of Knowing HIV voluntary conseling and testing location among IDUs, female prostitutes and
MSMs are: 81.5%; 86%; 61% respectively.
Prevalence of HIV patients taking ARV treatment is 33.3%, 46.2% among IDUs, 25% in female
prostitues, 0% in MSM.
Recommendation: Continue deploying harm reduction programs, give needles, syringes, condom for
HIV high risk group: IDUs, prostitutes and MSMs esprcially.
Promote widely the prevention services, voluntary testing, HIV/AIDS treatment… in order to attract people
with high risk or infected with HIV/AIDS to access proper services.

144


ĐẶT VẤN ĐỀ
Dịch HIV/AIDS ở Việt Nam bao gồm nhiều hình thái dịch khác nhau trên toàn quốc và vẫn tập trung chủ
yếu ở ba nhóm quần thể có hành vi nguy cơ lây truyền HIV cao: người TCMT, MSM và PNBD. Tính đến
30/06/2012, tổng số ca nhiễm HIV còn sống trên toàn quốc là là 204.019 ca, với 58.569 người chuyển sang
giai đoạn AIDS hiện vẫn còn sống và 61.856 ca tử vong liên quan đến AIDS(1).
Hiện nay dịch đang có xu hướng chững lại so với các năm trước đây nhưng chứa đựng các yếu tố nguy
cơ lan tràn dịch ở một số tỉnh, thành phố thể hiện qua việc hiểu biết về HIV/AIDS trong các nhóm đối tượng
có nguy cơ cao còn thấp, tỷ lệ dùng chung BKT trong nhóm TCMT rất cao từ 22 - 44% trong các lần tiêm
chích. Tỷ lệ sử dụng BCS trong nhóm PNMD tuy đã có những cải thiện nhưng vẫn chỉ dừng ở mức từ 50 65%; Tỷ lệ bao phủ của các chương trình can thiệp cả về địa bàn và số lượng được can thiệp vẫn còn hạn
chế, mức độ hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong các nhóm nguy cơ cao vẫn diễn ra ở các mức độ cho
phép khả năng tạo ra lây nhiễm HIV ra cộng đồng(6).
Tại Khánh Hòa trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào tháng 04/1993 đến 30/6/2012 toàn
tỉnh đã phát hiện 2889 người nhiễm HIV, 1611 đã tiến triển đến giai đoạn AIDS và đã có 1037 người tử
vong. Số người nhiễm HIV còn sống hiện quản lý được là 850 người(5).

200
200
300
700

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 5-2012 đến tháng 12-2012.
Phương pháp nghiên cứu: Điều tra cắt ngang.
Phương pháp xử lý thống kê:
Nhập và làm sạch số liệu: Sử dụng phần mềm Epidata phiên bản 3.1.
Sử dụng phần mềm EPI-INFO 7 để phân tích và quản lý số liệu.
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Đặc điểm nhân khẩu- xã hội học các quần thể nghiên cứu:
Nhóm tuổi
< 20
20 –=30
Tổng cộng
Tuổi trung bình (biến thiên)
Chưa lập gia đình
Đang có vợ/chồng
Đã ly dị
Đã ly thân
Góa vợ/ chồng
Sống chung, không kết hôn
Tổng cộng

NCMT
n
%

11
5.5
41
20.5
51
25.5
97
48.5
200
100
31 (18-55)

MSM
n
%
77
25.7
96
32.0
25
8.3
102
34.0
300
100
27 (16-57)

48
47
81

34%, tuổi trung bình của hai quần thể TCMT và PNBD cao hơn so với nhóm MSM (32, 31 và 27).

145


Tỷ lệ chưa lập gia đình cao ở toàn bộ các đối tượng nghiên cứu. Có sự khác biệt về tình trạng hôn nhân
ở nhóm nam và nữ, nhóm PNBD tỷ lệ chưa lập gia đình chỉ có 24% trong khi nhóm NCMT và nhóm MSM
lần lượt là 51.5% và 80.7% điều này cũng phù hợp với độ tuổi của các đối tượng nghiên cứu.Tỷ lệ ly dị, ly
thân rất cao ở nhóm PNBD (43.5%), thấp ở nhóm MSM (6.0%). Tỷ lệ sống chung nhưng không kết hôn cao
nhất thuộc về nhóm PNBD (5.5%) còn lại các nhóm NCMT và MSM lần lượt là 2.5% và 1.0%.
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV:

Tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở quần thể TCMT là 6,5% (13/200) thấp hơn tỷ lệ hiện nhiễm toàn quốc năm 2011
(13,4%); PNBD là 2% (4/200) thấp hơn tỷ lệ hiện nhiễm toàn quốc năm 2011 (2,97%), cao hơn so với các
năm 2010 & 2011(2010: 1.5; 2011: 0.7) ở Khánh Hòa, tỷ lệ hiện nhiễm của MSM là 1,3% (4/300) thấp hơn
năm 2011 ở TP Hồ Chí Minh(14%), Hà Nội (6,7%), An Giang (3%), nhưng cao hơn năm 2011 của Khánh
Hòa (1%).
Hành vi nguy cơ:
TT
1

2

3
4

5
6
7


n

%

n

%

n

%

77/200
61/200
20/200
42/200

38.5
30.5
10.0
21.0

2/4
1/4
0/4
1/4

50.0
25.0
0.0

100.0

1/14
3/14
10/14
10/14

7.14
21.43
71.43
71.43

2
7
55
136
51
80

1.0
3.5
27.5
68.0
25.5
64.5

0
0
0
0

27.5
9.5
8.5

19/34
2/34
10/34
3/34

55.9
5.9
29.4
8.8

Tỷ lệ TCMT ở đối tượng PNBD và MSM tương đối thấp (2% và 4,66%), tuổi TCMT ở tất cả các nhóm
đều rất trẻ đa số dưới 30 tuổi. Trên 70% các đối tượng đã từng TCMT có thâm niên TCMT trên 3 năm. Tỷ lệ
đã từng dùng chung BKT ở nhóm TCMT là 32%, MSM là 33.3%. Tỷ lệ dùng BCS ở tất cả các lần khi bán
dâm ở PNBD và MSM là 54,5% và 55,9%, vẫn còn 8,5 % PNBD và 8,8% MSM không bao giờ dung BCS khi
bán dâm.
Tiếp cận các dịch vụ:
STT
1
2
3
4
5
6
7

Loại dịch vụ

86.0
121
60.5
127
63.5
153
67.5
174
87.0
1/4
25.0
63
31.5

MSM
n
143
87
63
5
81
0/4
62

%
47.7
29.0
21.0
35.7
27.0

3. Dự án Phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam-Ban chỉ đạo dự án tỉnh Khánh Hòa (2012) “Kế hoạch hoạt
động năm 2012”.
4. Nguyễn Trần Hiển, (2010) “Tình hình chiều hướng nhiễm HIV/AIDS trên thế giới và Việt Nam”, Báo
cáo tại Hội nghị khoa học toàn quốc về HIV/AIDS lần thứ IV.
5. Sở Y tế Khánh Hòa-Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS (2012) “Báo cáo công tác phòng, chống
HIV/AIDS tỉnh Khánh Hòa đến 31/6/2012”.
6. Ủy ban quốc gia phòng chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm(2012) ”Chiến lược quốc
gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030” ngày 25/5/2012.

ĐIỀU TRA HÀNH VI PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS
TRONG NHÓM NGHIỆN CHÍCH MA TÚY TẠI TIỀN GIANG NĂM 2012
Trần Thị Thủy Hà
TT. PC HIV/AIDS Tiền Giang
TÓM TẮT
Nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Tiền Giang trên 200 NCMT tại cộng đồng. Người NCMT có sử dụng
chung BKT chiếm 23,5%, trong số này chỉ 6,4% luôn làm sạch BKT trong khi 78,7% không bao giờ súc rửa
BKT.
Trong lần QHTD gần nhất: 37,1% NCMT có sử dụng BCS với vợ, người yêu; 52% sử dụng BCS với GMD
và 31,6% sử dụng BCS với bạn tình bất chợt.
Tỷ lệ luôn sử dụng BCS: với vợ, người yêu dưới 30%, với GMD 48,7%, với bạn tình bất chợt 29,4%.
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong năm 2012 là 6,5%, tỷ lệ mắc Giang mai là 1,5%, mắc Lậu 3,5% và Chlamydia
là 2%.
SUMMARY
Study was conducted on 200 IDUs in Tien Giang province. IDUs who share needles, syringes took up
23.5%, among them only 6.4% always clean needles, syringes while 78.7% never clean it.
In the most recent sexual intercourse: 37.1% IDUs used condom with their wife, girl friend; 52% used
condom with prostitutes and 31.6% used condom with sudden partners.
100% prevalence of condom usage: 30% with wife, girl friend; 48.7% with prostitutes and 29.4% with
sudden partners.
HIV prevalence in 2012 is 6.5%, Syphilis prevalene is 1.5%, 3.5% with Gonorrhea and 2% with

nhóm NCMT trường trại (39%). Nghiên cứu cho thấy nhóm NCMT có hành vi tiêm chích ma túy sớm (có
trường hợp mới 15 tuổi), sử dụng lại BKT nhiều lần, có nhiều bạn tình, không thường xuyên sử dụng BCS
với bạn tình…đều là những hành vi dẫn đến nguy cơ nhiễm HIV. Nghiên cứu “Điều tra hành vi phòng chống
HIV/AIDS trong nhóm nghiện chích ma túy tại Tiền Giang năm 2012” với các mục tiêu sau:
Xác định một số đặc trưng cơ bản của nhóm nghiện chích ma túy ở Tiền Giang.
Xác định tỷ lệ hiểu biết về HIV/AIDS và các tỷ lệ có liên quan đến lây nhiễm HIV (sử dụng chung BKT, tỷ
lệ sử dụng BCS…) ở nhóm nghiện chích ma tuý.
Xác định tỷ lệ nhiễm HIV, Giang mai, Lậu và Chlamydia.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu: Điều tra cắt ngang.
Thời gian tiến hành: Từ 01 đến 30/06/2012.
Tiêu chuẩn nghiên cứu: Người NCMT được định nghĩa là những người đã từng sử dụng các loại ma
tuý không phải thuốc y tế kê đơn bằng cách tiêm trong 6 tháng qua, đang sinh sống ngoài cộng đồng.
Phương pháp chọn mẫu:
Tiêu chuẩn chọn mẫu: Người có tiêm chích ma túy trong 6 tháng qua.
Cỡ mẫu cần điều tra là ít nhất 360 người. Đối tượng NCMT được điều tra sẽ được chọn từ những tụ
điểm đã được lập bản đồ và từ danh sách sẵn có (số đối tượng NCMT được quản lý tại tỉnh).
Phương pháp lấy mẫu: Dựa trên kết quả lập bản đồ. Tuy nhiên, qua kết quả điều tra lập bản đồ năm
2012, số lượng người NCMT tại địa bàn < 360 người. Vì vậy, phương án lấy mẫu toàn bộ nhóm NCMT
được lựa chọn.
Phương pháp thu thập số liệu:
Đối tượng được phỏng vấn theo mẫu phiếu khảo sát.
Lấy máu trích huyết thanh để xét nghiệm HIV và Giang mai tại Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS Tiền
Giang.
Mẫu nước tiểu được thu thập, bảo quản ở nhiệt độ 0 0C được chuyển tiếp Viện Pasteur TP.HCM để xét
nghiệm phát hiện Lậu và Chlamydia theo kỹ thuật PCR.
Phương pháp xử lý số liệu:
Bộ câu hỏi mã hoá chuẩn để sử dụng cho điều tra cơ bản. Toàn bộ phiếu được nhập vào máy tính
chương trình Epi Info 6.04 và xử lý bằng Stata 8.0.
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

không xem ti vi chiếm tỉ lệ rất thấp 5,5%. Trong số người có xem ti vi, tỷ lệ người xem được thông tin về HIV
chiếm tỷ lệ 66,1%.
So sánh với năm 2009, tỷ lệ người NCMT tiếp cận các phương tiện thông tin đại chúng có khuynh hướng
giảm.
Công tác truyền thông giữ vai trò rất quan trọng trong việc làm thay đổi các hành vi nguy cơ trong phòng
chống HIV/AIDS. Nhóm NCMT tham gia hoạt động truyền thông với 66,1% (n= 56) tham gia họp đồng đẳng
và 26,8% tham gia mít tinh, hội họp, diễu hành, nhưng các tỷ lệ này đều thấp hơn so với năm 2009.
Tỷ lệ người NCMT nhận được các dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS của các chương trình, dự án của tỉnh
hiện còn khá khiêm tốn: 43% nhận được BCS; 50% nhận được BKT; 35,5% nhận được tờ rơi có thông tin
về HIV/AIDS và chỉ có 2% được giới thiệu đến các dịch vụ khám chữa các BLTQĐTD. Các tỷ lệ này đều
thấp hơn so sánh với năm 2009.
Người NCMT nhận được các thông tin về HIV/AIDS chủ yếu qua lực lượng GDVĐĐ chiếm 37,5%, từ bạn
chích là 35,5%, từ cán bộ y tế 16%; từ cán bộ các đoàn thể là 6% và 10,5% từ sinh hoạt câu lạc bộ.
Kiến thức, thái độ liên quan đến bệnh lây qua đường tình dục (BLTQĐTD) và HIV trong nhóm
NCMT năm 2012:
Mắc BLTQĐTD là yếu tố thuận lợi cho nhiễm HIV do tạo ngõ vào hoặc làm suy giảm miễn dịch. Qua
khảo sát năm 2012, 45% (n = 200) người NCMT biết đúng ít nhất một triệu chứng của BLTQĐTD, điều này
rất quan trọng vì biết được triệu chứng có thể giúp người NCMT tự phát hiện bệnh và đi khám bác sĩ kịp
thời.
Có 77,1% (n= 175) số NCMT biết rằng dùng bao cao su (BCS) khi quan hệ tình dục (QHTD); 16% biết
chung thủy với 1 bạn tình; 16% biết không sử dụng chung BKT có thể giúp hạn chế lây nhiễm HIV. Tuy
nhiên, chỉ có 13,7% số NCMT biết đúng cả 3 cách phòng lây nhiễm HIV như trên. Nhìn chung có sự suy
giảm lớn kiến thức về biện pháp sử dụng BCS và BKT so với năm 2009.
Tỷ lệ NCMT hiểu chưa đúng về các đường lây truyền HIV chiếm tỷ lệ khá cao 17,1%. Có 5,1% số NCMT
cho rằng ăn chung và 19,4% số NCMT cho rằng muỗi đốt có thể lây truyền HIV.
Qua khảo sát 47,4% người NCMT cho rằng họ có nguy cơ đã bị nhiễm HIV; 36,7% cho rằng không có
nguy cơ và 15,8% không biết có nguy cơ hay không.
Có 97% NCMT biết nơi có thể mua hoặc lấy BKT và BCS. Nhà thuốc là nơi được biết đến nhiều nhất với
72,7%, 37% biết qua GDVĐĐ. Bạn chích cũng là nguồn có thể lấy BKT và nhà hàng- khách sạn là nguồn
cung cấp BCS cho NCMT.

Mỗi người NCMT có trung bình 2 người bạn tình là vợ/ người yêu trong 12 tháng qua, tuy nhiên, cũng có
thể không có vợ, người yêu, hoặc có thể có đến 50 người khác nhau trong năm.
Mỗi NCMT có trung bình khoảng 1 người bạn tình là gái mại dâm (GMD) trong 12 tháng qua, tuy nhiên,
cũng có NCMT có quan hệ với 20 GMD khác nhau.
Mỗi NCMT có trung bình 1 người bạn tình là bạn tình bất chợt trong 12 tháng qua, tuy nhiên, cũng có
NCMT có đến 20 bạn tình bất chợt khác nhau/ năm.
Sử dụng BCS với vợ, người yêu:
Có 37,1% (n= 143) NCMT có sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất với vợ, người yêu, BCS có được từ
mua ở nhà thuốc và do GDVĐĐ cung cấp. Những NCMT không sử dụng BCS do họ không thích hay thấy
không cần thiết sử dụng. Tỷ lệ luôn sử dụng hay thường xuyên sử dụng BCS còn thấp chưa đến 30%.
Sử dụng BCS với GMD:
Có 52% (n= 76) người NCMT sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất với GMD, BCS có được từ mua ở
nhà thuốc, ở nhà hàng- khách sạn và do GDVĐĐ cung cấp. Những NCMT không sử dụng BCS do họ không
thích hay thấy không cần thiết sử dụng. Tỷ lệ luôn sử dụng hay thường xuyên sử dụng BCS chiếm 48,7%.
Sử dụng BCS với bạn tình bất chợt:
Có 31,6% (n= 57) NCMT có sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất với bạn tình bất chợt, BCS có được
từ mua ở nhà thuốc, nhà hàng- khách sạn hay do GDVĐĐ cung cấp. NCMT không sử dụng BCS do họ
không thích hoặc thấy không cần thiết sử dụng. Tỷ lệ luôn sử dụng hay thường xuyên sử dụng BCS còn
thấp là 29,4%.
Sử dụng BCS thường xuyên và đúng cách khi QHTD đóng vai trò vô cùng quan trọng trong phòng lây
nhiễm HIV và các BLTQĐTD, đặc biệt người NCMT có rất nhiều loại bạn tình. Ưu điểm là nhóm NCMT rất
có ý thức trong việc sử dụng BCS với 52,6% (n= 76) khi quan hệ với GMD nhưng chỉ 31,6% (n= 57) với bạn
tình bất chợt và chỉ 37,1% đối với vợ/người yêu trong lần QHTD gần đây nhất. Vì vậy cần đẩy mạnh công
tác truyền thông sử dụng BCS với bạn tình bất chợt và với vợ,chồng/người yêu.
Chỉ hơn 40% NCMT nhận BCS miễn phí từ các GDVĐĐ, điều này chứng tỏ công tác tiếp cận để cấp
phát BCS miễn phí của mạng lưới GDVĐĐ ở Tiền Giang hoạt động kém hiệu quả hơn so với năm 2009. Số
NCMT không được phát BCS thì mua ở cửa hàng dược phẩm hoặc lấy BCS từ nhà hàng- khách sạn. Nhãn
hiệu BCS được sử dụng nhiều nhất là OK với 50-70% số NCMT sử dụng. Bao cao su nhãn hiệu VIP cũng
được sử dụng nhưng với tỉ lệ thấp không đáng kể. Khi quan hệ với các loại bạn tình, người NCMT đều tự ý
thức sử dụng BCS với khoảng trên 70% tự quyết định sử dụng BCS.

Chlamydia
HIV

Dương tính
Âm tính
Dương tính
Âm tính
Dương tính
Âm tính
Dương tính
Âm tính

190

2,1
97,9

200
200
200

190

10,0
90,0

200

1,5
98,5

Trong lần QHTD gần nhất: 40% MSM có sử dụng BCS với bạn tình nam có nhận tiền; 27% có sử dụng
với nam bán dâm, 40% với bạn tình thường xuyên nam.
Tỷ lệ thường xuyên sử dụng BCS: với bạn tình nam có nhận tiền 32,2%, với nam bán dâm 15,4%, với
bạn tình thường xuyên nam 30,5%.
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV là 2,5%, tỷ lệ phát hiện Lậu sinh dục 0,5%, Lậu trực tràng 0,75% và Chlamydia là
26,5%.
SUMMARY
The study was conducted on 400 MSM in community in Tien Giang province.
In the first sexual intercourse: 40% MSM used condom with paid-partner, 27% used condom with male
prostitutes, 40% used condom with regular male sex partners.
Prevalence of regular condom usage: 32.2% with paid male partner, 15.4% with male prostitutes, 30.5%
with regular male partners.
HIV prevalence is 2.5%, genital gonorrhea prevalence is 0.5%, rectal gonorrhea prevalence is 0.75% and
Chlamydia prevalence is 26.5%

151



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status