Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ba bệnh ký sinh trùng truyền lây giữa động vật và người tại huyện mường la tỉnh sơn la - Pdf 51

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------------------

PHÙNG THỊ LAN
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU TỶ LỆ NHIỄM BA BỆNH KÝ SINH TRÙNG TRUYỀN
LÂY GIỮA ĐỘNG VẬT VÀ NGƯỜI TẠI HUYỆN
MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:

Chính quy

Chuyên ngành:

Thú y

Khoa:

Chăn nuôi thú y

Khóa học:

2013 - 2017

THÁI NGUYÊN – 2017



2013 - 2017

Giảng viên hướng dẫn:

GS.TS. Nguyễn Thị Kim Lan

THÁI NGUYÊN – 2017


i

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp này trước hết em xin gửi lời cảm
ơn tới toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã
truyền đạt cho em những kiến thức quý báu và bổ ích trong những năm học
vừa qua.
Em xin dành lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo GS.TS. Nguyễn Thị Kim
Lan, cô giáo ThS. Đỗ Thị Lan Phương đã rất tận tình và trực tiếp hướng dẫn
em thực hiện đề tài và hoàn thiện Khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú
y, Trạm Thú y huyện Mường La, đã giúp đỡ em hoàn thành Khóa luận thực
tập tốt nghiệp này.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và
động viên em trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực tập
tốt nghiệp.
Trong quá trình thực tập vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế, chỉ dựa
vào kiến thức đã học cùng với thời gian hạn hẹp nên Khóa luận không tránh
được sai sót. Kính mong được sự góp ý, nhận xét của quý thầy cô để giúp cho
kiến thức của em ngày càng hoàn thiện và có nhiều kinh nghiệm bổ ích cho
công việc sau này.



3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
F:

Fasciola

g:

gam

XN:

Xét nghiệm

Cs:

Cộng sự

Nxb:

Nhà xuất bản

T.solium:

Taenia solium

mm:

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU................................................... 5
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài .......................................................................... 5
1.1.1. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của ấu trùng Cysticercus cellulosae,
giun bao ở lợn và sán lá gan ở trâu, bò ............................................................. 5
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về bệnh do ấu trùng
Cysticercus cellulosae, bệnh giun bao ở lợn và bệnh sán lá gan trâu, bò....... 20
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước.......................................................... 20
1.2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới........................................................ 23
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU..................................................................................... 25
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................ 25
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 25
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu............................................................................... 25
2.2. Vật liệu nghiên cứu .................................................................................. 25
2.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 26
2.3.1. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh ấu trùng Cysticercus
cellulosae lợn ở một số xã của huyện Mường La, tỉnh Sơn La.......................
26
2.3.2. Nghiên cứu bệnh gạo ở lợn ................................................................... 26


5

2.3.3. Nghiên cứu bệnh giun xoắn trên lợn ở huyện Mường La, tỉnh
Sơn La ............................................................................................................. 26
2.3.4. Nghiên cứu bệnh sán lá gan trên trâu, bò ở huyện Mường La, tỉnh
Sơn La ............................................................................................................. 26
2.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 27
2.4.1. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh ấu trùng
Cysticercus cellulosae, bệnh giun bao ở lợn và bệnh sán lá gan trâu, bò tại



1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, tình trạng gia tăng các bệnh truyền lây giữa động vật và
người đã gây ra những tác động lớn, làm thiệt hại nặng cho người chăn nuôi,
ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe con người.
Đã có hơn 200 bệnh lây truyền từ động vật sang người được mô tả.
Nguy cơ các bệnh lây truyền từ động vật sang người xảy ra khi có sự tiếp xúc
của con người với động vật, qua sự phơi nhiễm trực tiếp hoặc gián tiếp với
động vật, sản phẩm từ động vật và môi trường sống của chúng.
Cả động vật nuôi và động vật hoang dã đều có thể là ổ chứa tác nhân
gây bệnh của những bệnh này. Những bệnh ký sinh trùng truyền lây từ động
vật sang người bao gồm từ bệnh ở thể nhẹ (như bệnh do giun H. contortus)
đến gây tử vong (như bệnh giun xoắn Trichinella spiralis, bệnh gạo lợn, bệnh
sán lá gan lớn…).
Bệnh gạo lợn do ấu trùng Cysticercus cellulosae của sán dây trưởng
thành Taenia solium gây ra là một bệnh truyền lây giữa người và động vật.
Sán dây Taenia solium là mối đe dọa không chỉ đối với lợn mà còn là mối đe
dọa lớn đối với con người. Tỷ lệ người nhiễm sán dây T. solium ở các nước
trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển ở Châu Phi, Nam Mỹ và
Châu Á khá cao (3 - 24%) (Barton Behriesh và cs, 2012). Ngoài bệnh do sán
dây trưởng thành T. solium ký sinh ở ruột non, người còn bị bệnh do ấu trùng
của nó (Cysticercus cellulosae) gây ra. Trong vòng đời của sán dây T. solium
cần hai ký chủ: người là ký chủ cuối cùng, lợn là ký chủ trung gian. Tuy
nhiên, sự nguy hiểm lại thể hiện ở việc con người có thể nhiễm trứng sán dây
và bị bệnh ấu trùng Cysticercus cellulosae ký sinh ở nhiều vị trí khác nhau
trong cơ thể: cơ, mắt, tim, não… Nguy hiểm nhất là Neurocysticercosis - một



3

đó phải kể đến nguyên nhân tác động của khí hậu toàn cầu làm thay đổi sinh
thái của ốc - vật chủ trung gian truyền bệnh sán lá gan lớn.
Với những đặc điểm rất đặc trưng của vùng, tỉnh Sơn La có nhiều khó
khăn trong phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt, sự che phủ của diện tích rừng
núi rộng lớn, có chung đường biên giới với Lào, trình độ dân trí thấp, tập
quán sinh hoạt và sản xuất lạc hậu, … là các điều kiện thuận lợi dẫn đến nguy
cơ bùng phát các bệnh truyền lây từ động vật sang người rất cao. Đồng thời,
cho đến nay vẫn chưa có những nghiên cứu để có các giải pháp kiểm soát
bệnh truyền lây từ động vật sang người ở khu vực Tây Bắc Việt Nam.
Cho đến nay, ở nước ta vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về biện
pháp phòng chống bệnh gạo lợn ,bệnh giun bao ở lợn, vì vậy cũng chưa kiểm
soát được bệnh, là mối nguy hiểm thường trực cho con người.
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết trên, chúng tôi tiến hành đề tài "Nghiên
cứu tỷ lệ nhiễm ba bệnh ký sinh trùng truyền lây giữa động vật và người tại
huyện Mường La, tỉnh Sơn La”
2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus cellulosae, tỷ lệ nhiễm
giun bao ở lợn và tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn ở trâu, bò tại một số xã của
huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ
bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae, bệnh giun bao ở lợn và bệnh sán lá
gan trâu, bò tại số xã của huyện Mường La, tỉnh Sơn La, có một số đóng góp
mới cho khoa học.


dây trưởng thành là Taenia solium ký sinh ở ruột non người. Ngoài lợn còn
thấy gạo (ấu trùng) ở người. Lợn là ký chủ trung gian. Người vừa là vật chủ
trung gian vừa là vật chủ cuối cùng vì ấu trùng ký sinh ở các cơ và não của
người. (Bùi Quý Huy, (2006)) [7]
- Sức đề kháng của ấu trùng:
Ấu trùng sán dây lợn do có vỏ bọc nên có sức tồn tại cao. Ở thịt lợn
chưa nấu chín, có vắt chanh, ấu trùng vẫn tồn tại nguyên vẹn. Những biện
pháp điều trị nhằm làm vôi hóa ấu trùng nói chung đều không có tác dụng
(Nguyễn Văn Đề và cs, (1998)) [3]. Những hóa chất có tác dụng diệt khuẩn,
nếu được dùng với nồng độ cao có tác dụng diệt ấu trùng sán lợn tốt. Phạm


6

Hoàng Thế đã thí nghiệm tiêm các dung dịch ancol hoặc iod vào bọc ấu trùng
thấy có tác dụng diệt ấu trùng nhanh.
Ấu trùng có sức đề kháng cao ở nhiệt độ thấp và có sức đề kháng yếu ở
nhiệt độ cao. Ở nhiệt độ 50 – 60oC, ấu trùng sán dây chết sau 1giờ.
Theo Zirintunda G., Ekou J. (2015) : Ấu trùng sán dây lợn có thể sống hơn
70 ngày ở nhiệt độ từ 1 - 4oC, nhưng lại bị diệt trong 5 ngày ở nhiệt độ từ 5oC đến - 8oC (thịt ướp lạnh có thể diệt được gạo)
 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun bao ở lợn
Giun tròn Trichinella spiralis có thân hình rất nhỏ. Cơ thể giun chia
thành 2 phần. Phần trước nhỏ, phần sau to hơn một chút. Phần trước là thực
quản, gồm các tế bào xếp hình chuỗi hạt, chiếm tới ⅓ chiều dài cơ thể.
- Giun đực trưởng thành dài 1,4 - 1,6 mm, rộng 0,06 mm. Không có gai giao
hợp, chỉ có hai gai chồi ở cuối thân. Lỗ bài tiết ở giữa 2 gai chồi
- Giun cái dài 3 - 4 mm, rộng 0,06 mm. Âm hộ ở khoảng 1/5 phía trước thân.
Hậu môn ở tận cùng đuôi.
Giun cái đẻ ra ấu trùng. Mỗi giun cái có thể đẻ từ 1000 - 1500, có khi
6000 - 10.000 trứng.

B - Fasciola gigantica
Cũng như nhiều loài sán lá khác, sán lá gan lưỡng tính, có thể thụ tinh
chéo hoặc tự thụ tinh. Sán có giác miệng và giác bụng, giác bụng không nối
với cơ quan tiêu hoá. Sán không có hệ hô hấp, tuần hoàn và cơ quan thị giác


8

(ở giai đoạn mao ấu có dấu vết sắc tố mắt). Hệ sinh dục rất phát triển với cả
bộ phận sinh dục đực và cái trong cùng một sán. Tử cung sán chứa đầy trứng.
Hệ bài tiết gồm 1 - 2 ống bài tiết chạy dọc cơ thể. Từ ống bài tiết có
nhiều nhánh nhỏ chạy ra hai bên và tận cùng là tế bào ngọn lửa. Các ống này
tập trung dịch bài tiết vào túi dự trữ ở cuối thân và đổ ra ngoài qua lỗ bài tiết.
Hệ thần kinh kém phát triển, gồm hai hạch não nằm ở hai bên, nối với
nhau bằng vòng dây thần kinh. Từ đó có ba đôi dây thần kinh đi về phía trước
và phía sau thân, những dây này nối với nhau bằng nhiều dây nhỏ. Cơ quan
cảm giác bị tiêu giảm.
Hệ sinh dục của sán phát triển mạnh, có bộ phận sinh dục đực và cái
trên cùng một cơ thể. Bộ phận sinh dục đực gồm hai tinh hoàn phân nhánh
mạnh, xếp trên dưới nhau ở phần sau cơ thể. Mỗi tinh hoàn thông với ống dẫn
tinh riêng rồi đổ vào túi sinh dục. Phần cuối của túi sinh dục được kitin hóa,
gọi là cirrus, có chức năng như dương vật. Buồng trứng phân nhánh ở phía
trước tinh hoàn. Tử cung sán chứa đầy trứng, uốn khúc thành hình hoa ở giữa
ống dẫn noãn hoàng và giác bụng. Tuyến noãn hoàng xếp dọc 2 bên thân và
phân nhánh.
1.1.2.1. Đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae, bệnh giun
bao ở lợn và bệnh sán lá gan trâu, bò
 Đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae
Trên thế giới có khoảng 2,5 triệu người mắc bệnh do ấu trùng
Cysticercus cellulosae, bệnh gặp khắp nơi trên thế giới. Tỷ lệ mắc bệnh phụ

Ở Châu Á, bệnh có ở Trung Quốc, Ấn Độ, Philippin, Lào, Việt Nam
Ở Châu Úc, bệnh có ở Úc, quần đảo Ha - oai. Theo thông báo của tổ
chức Y tế thế giới, tháng 3 năm 2001, dịch giun bao đã sảy ra tại Italia, làm
hàng nghìn người mắc bệnh, 50% số lợn điều tra trong đợt dịch này bị nhiễm
giun bao.
* Con đường truyền bệnh :
- Qua thức ăn: Ăn thịt động vật có ấu trùng (ấu trùng có thể sống trong
thịt gia súc chết 2 - 4 tháng)
- Động vật nhiễm do ăn phân của động vật
- Do ăn phải côn trùng mang mầm bệnh


10

- Truyền qua bào thai
- Người mắc bệnh do ăn thịt động vật mắc giun bao chưa nấu chín : thịt
tái, nem chua, nem lạp, giăm bông, thịt hun khói.
* Vòng tuần hoàn căn bệnh :
- Năm 1860, theo Zenker vòng tuần hoàn của bệnh là : Chuột → Lợn
→ Người.
- Năm 1962, theo Kozal : có 49 loài mắc.
* Tình hình mắc giun bao:
- Trên thế giới xảy ra ở Bắc cực và Châu Phi ước tính có khoảng 11
triệu người mắc và tỷ lệ chết: 0,2 %. Có 43/198 nước thấy vật nuôi (Lợn)
nhiễm Có 66/198 nước thấy thú rừng nhiễm. Gần đây bệnh đã có ở các nước
Châu Âu : Serbia, Croatia, Rumani, Bungari, Ireland Tại châu Á: 22/45 nước
có bệnh như Thái Lan, Lào, Trung Quốc, Nhật Bản.
 Đặc điểm dịch tễ của bệnh sán lá gan trâu, bò
Bệnh sán lá gan là bệnh chung của hầu hết các loài thú đặc biệt là loài
nhai lại, kể cả người. Trâu, bò bị nhiễm bệnh nặng hơn và ở tất cả các lứa

sinh của gạo, nếu ở lưỡi có thể thấy liệt lưỡi và hàm dưới, nếu ở cơ chân thì
thấy con vật đi lại khó khăn, nếu ở não thì thấy triệu chứng thần kinh, nếu
nhiễm nhiều và toàn thân thì có triệu chứng viêm ruột và viêm gan, sau đó
viêm hệ cơ toàn thân. Lúc này con vật lờ đờ, thở dốc, không ăn, đi ỉa, gầy rạc
dần rồi chết. Triệu chứng bệnh phụ thuộc rất nhiều vào số lượng ấu trùng và
vị trí chúng ký sinh trong cơ thể lợn:
- Số lượng ấu trùng ít: Lợn bệnh có triệu chứng không rõ, không điển
hình. Người chăn nuôi chỉ thấy lợn xù lông, chậm lớn, đôi khi hay nghiến
răng, lợn vẫn ăn uống bình thường.
- Số lượng ấu trùng nhiều: Bệnh phát triển ngay từ những ngày đầu
nhiễm ấu trùng sán với các triệu chứng như:


12

Giảm ăn, tính mẫn cảm tăng, dễ bị kích thích, sốt 41 - 41,7oC, niêm
mạc mắt, miệng… đỏ tấy. Một số lợn ỉa lỏng trong 7 - 10 ngày, các biểu hiện
trên dần dần mất đi nhưng lợn ăn kém. Sau 1 tháng, do xuất hiện các ổ viêm
trong cơ vân và trong các cơ quan nội tạng nên lợn đứng lên, nằm xuống khó
khăn và rất ngại đi lại. Các dấu hiệu khác như thở khó, nhai khó, nuốt khó bắt
đầu xuất hiện và ngày một nặng dần khiến lợn thường xuyên rên rỉ.
Nếu ấu trùng Cysticercus cellulosae ký sinh trong não, trong mắt, còn
thấy lợn đi lại mất thăng bằng, có những cơn động kinh, co giật, mờ mắt hoặc
mù mắt. Bệnh kéo dài 1 - 2 tháng, phần lớn lợn bị còi cọc, gầy yếu hoặc chết
vì suy nhược và rối loạn chức năng các cơ quan.
+ Triệu chứng lâm sàng ở người:
Theo Bùi Quý Huy (2006) [7]: Bệnh ấu trùng sán dây (gạo) ở người có
triệu chứng rõ rệt, kéo dài từ vài tuần đến vài năm sau khi bị nhiễm sán.
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [13] cho biết: Nếu ấu trùng ở não người
thì chèn ép não, cản trở tuần hoàn máu, gây tụ máu, nếu ở mắt thì mờ mắt,

thành trong quá trình ký sinh còn tiết ra độc tố tác động đến bộ máy tiêu hóa,
gây rối loạn tiêu hóa, rồi viêm ruột cấp tính và mãn tính làm ảnh hưởng xấu
đến sức khỏe trâu, bò và dẫn đến tử vong do kiệt sức.
Vậy để nhận biết bệnh sán lá gan là khi trâu, bò bị bệnh thấy con vật
gầy còm, suy nhược thiếu máu, ỉa chảy kéo dài nhưng đôi khi lại thấy con vật
ỉa táo làm cho con vật mất dần khả năng lao tác và sinh sản. Nếu trâu, bò bị
bệnh ở thể cấp tính thấy con vật bỏ ăn, đầy chướng dạ cỏ sau đó ỉa chảy dữ
dội, phân lỏng xám có mùi tanh, niêm mạc nhợt nhạt nhất là ở niêm mạc mắt,
miệng, hậu môn. Trường hợp bệnh nặng, chỉ vài ngày sau súc vật bệnh nằm
bệt không đi lại được và có thể chết trong trường hợp mất nước, rối loạn điện
giải và kiệt sức. Hiện tượng này thường xảy ra ở bê nghé non dưới 6 tháng
tuổi. Khi trâu, bò nhiễm sán gây ỉa chảy cũng sẽ bị kế phát bệnh khác nhất là


14

bệnh truyền nhiễm. Trong thực tế các trường hợp kế phát xảy ra nhiều, khi mổ
trâu, bò chết mới phát hiện trâu bò bị nhiễm sán lá gan quá nặng.
1.2.1.3. Chẩn đoán bệnh
 Chẩn đoán bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae
Chẩn đoán bệnh gạo lợn không thể căn cứ vào triệu chứng lâm sàng vì
triệu chứng lâm sàng thường biểu hiện không rõ rệt, ngay cả khi con vật
nhiễm bệnh ở giai đoạn nặng. Vì vậy, để chẩn đoán được bệnh gạo lợn, cần
mổ khám con vật tìm ấu trùng sán ký sinh trong các tổ chức cơ, hoặc chẩn
đoán bằng phương pháp huyết thanh học.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [14], Phạm Sỹ Lăng và cs
(2009) [19] cho biết: Khi con vật còn sống, có thể tìm gạo ở lưỡi, mắt. Nếu
không thấy gạo ở những nơi đó thì khó chẩn đoán. Có thể chẩn đoán bằng
phương pháp miễn dịch học: lấy các đốt sán dây T. solium để chế kháng
nguyên, tiêm nội bì 0,2 ml. Sau khi tiêm 15 - 45 phút, nếu nơi tiêm sưng và

Cải tiến trang bị và kỹ thuật kiểm tra giun bao, chế tạo máy cắt thịt
thành miếng mỏng và máy phóng ảnh để kiểm tra giun bao tự động hàng loạt.
* Chẩn đoán bệnh ở người
Ở người chẩn đoán căn cứ vào đặc điểm dịch tễ học, triệu chứng lâm
sàng. Để kết luận chính xác, phải làm các xét nghiệm chẩn đoán miễn dịch
như phản ưng ngưng kết bổ thể, phản ứng miễn dịch huỳnh quang, phản ứng
ELISA... Cần dựa thêm vào các kết quả xét nghiệm khác như: xét nghiệm
công thức máu thấy bạch cầu ái toan tăng cao. Ở giai đoạn đầu của bệnh, có
thể tìm thấy giun xoắn trưởng thành trong phân. Ở giai đoạn toàn phát có thể
tìm thấy ấu trùng giun bao trong các xét nghiệm sinh thiết. Cần chuẩn đoán
phân biệt với các bệnh với các bệnh viêm da, viêm cơ, viêm phế quản dị ứng,
viêm phổi, cúm....


16

Chẩn đoán bệnh sán lá gan của trâu, bò
Việc chẩn đoán có thể tiến hành trên súc vật còn sống hoặc đã chết.
Tuỳ điều kiện thực tế mà áp dụng biện pháp phù hợp.
Để chẩn đoán bệnh do Fasciola gây ra trên súc vật còn sống, có thể áp
dụng các biện pháp như: chẩn đoán lâm sàng kết hợp với tìm hiểu các đặc
điểm dịch tễ học, xét nghiệm phân con vật nghi bệnh và chẩn đoán miễn dịch
học.
Những biểu hiện của súc vật nhai lại như: suy nhược, rụng lông, phù
thũng ở ngực, ức, thiếu máu, tiêu chảy... thường được nghi ngờ là triệu chứng
lâm sàng của bệnh sán lá gan. Tuy nhiên, các biểu hiện trên không chỉ thấy ở
bệnh do Fasciola gây nên mà có thể thấy ở nhiều bệnh khác. Vì vậy, triệu
chứng lâm sàng không phải là căn cứ duy nhất để kết luận bệnh. Những dẫn
liệu dịch tễ học của bệnh cần được xem xét, trong đó có yếu tố mùa vụ, vùng
và tuổi súc vật bệnh. Song, những dẫn liệu này cũng không phải là sở cứ có

trùng và trưởng thành trong gan và ống dẫn mật. Phương pháp này cho kết
quả chẩn đoán chính xác hơn cả, vì tìm được cả sán non ở giai đoạn di hành,
tìm thấy sán cả trong những súc vật chỉ có rất ít sán ký sinh.
1.2.1.4. Phòng và điều trị bệnh
Phòng và trị bệnh do ấu trùng Cysticercus cellulosae
Bệnh gạo lợn là bệnh chung ở người và gia súc, phải kết hợp giữa thú y
và y tế, áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp dưới đây:
Xây dựng củng cố và thực hiện nghiêm túc quy định kiểm nghiệm thịt.
Nếu thấy gạo thì tùy mức độ nặng nhẹ mà xử lý: trên 40 cm2 thịt có trên 3 hạt
gạo thì thịt phải hủy ngay, chế biến làm thức ăn cho gia cầm hoặc đem chôn.
Nếu 40 cm2 chỉ có 3 hạt gạo thì xử lý theo một số phương pháp sau:
+ Luộc chín ở nhiệt độ 60 - 75oC, toàn bộ ấu trùng sẽ chết.
+ Ướp muối: cho thịt vào nước muối đặc ướp 3 tuần lễ thì gạo bị chết.
+ Ướp lạnh từ 10 - 15oC. Đối với gạo bò ướp khoảng 10 ngày, gạo lợn
ướp 15 ngày.
Đẩy mạnh phong trào vệ sinh phòng bệnh cho người và gia súc gồm:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status