Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHƯƠNG THỊ DUYẾN

Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH DO ẤU TRÙNG
CYSTICERCUS TENUICOLLIS GÂY RA Ở LỢN NUÔI TẠI HUYỆN ĐỒNG HỶ
TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y
Khoa : Chăn nuôi Thú y
Khóa học : 2010 - 2014
Thái Nguyên, 2014

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM


đỡ nhiệt tình của cán bộ thú y huyện Đồng Hỷ, cùng sự nỗ lực cố gắng rèn
luyện của bản thân đã giúp tôi hoàn thành đợt thực tập tốt nghiệp này. Qua
đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới:
Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm
khoa cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y.
Đặc biệt tôi xin cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn
Th.S. Nguyễn Thu Trang người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi hoàn thành
bản khóa luận tốt nghiệp này.
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ban lãnh đạo Trạm thú y
huyện Đồng Hỷ cùng toàn bộ các anh chị thú y viên cơ sở đã tạo điều kiện
giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình thực tập tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 29 tháng 05 năm 2014.
Sinh viên Phương Thị Duyến

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1. Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng
Cysticercus tenuicollis

ở lợn tại các
địa phương 32

Bảng 4.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm ấu trùng
Cysticercus tenuicollis
ở lợn theo
tuổi 34

của lợn khỏe và lợn bệnh 44

Bảng 4.9. Công thức bạch cầu của lợn khỏe và lợn bệnh 46DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng
Cysticercus tenuicollis
ở lợn tại các địa phương 34

Hình 4.2. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng
Cysticercus tenuicollis
ở lợn theo tuổi 35

Hình 4.3. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng
Cysticercus tenuicollis
ở lợn theo tính biệt 37

Hình 4.4. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng
Cysticercus tenuicollis
ở lợn theo các tháng 38

Hình 4.5. Tỷ lệ nhiễm sán dây
Taenia hydatigena
ở chó tại các địa phương 41

Hình 4.6. Tương quan giữa tỷ lệ nhiễm sán dây
Taenia hydatigena
ở chó và tỷ lệ


1.1. Đặt vấn đề 1

1.2. Mục đích của đề tài: 2

1.3. Mục tiêu nghiên cứu 2

1.4. Ý nghĩa của đề tài 3

1.4.1. Ý nghĩa khoa học 3

1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn 3

PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4

2.1.1 Đặc điểm của ấu trùng
Cysticercus tenuicollis
4

2.1.2. Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó 5

2.1.3. Đặc điểm dịch tễ học bệnh sán dây chó và bệnh do ấu trùng
Cysticercus
tenuicollis
gây ra 17

2.1.4. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do ấu trùng
Cysticercus tenuicollis

Cysticercus tenuicollis
gây ra ở lợn nuôi tại một số xã thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 28

3.2.2. Sự thay đổi một số chỉ số huyết học của lợn bị nhiễm ấu trùng
Cysticercus tenuicollis
28

3.2.3. Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh do ấu trùng
Cysticercus tenuicollis
gây ra 28

3.3. Bố trí thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu 28

3.3.1. Bố trí điều tra và phương pháp xác định tình hình nhiễm ấu trùng
Cysticercus tenuicollis
ở lợn 28

3.3.2. Bố trí điều tra và phương pháp xác định tình hình nhiễm sán dây ở chó 29

3.3.3. Phương pháp bố trí và xét nghiệm máu của lợn bị nhiễm ấu trùng
Cysticercus tenuicollis
và lợn khỏe 31

3.3.4. Phương pháp nghiên cứu tương quan giữa tỷ lệ nhiễm ấu trùng
Cysticercus tenuicollis
ở lợn với tỷ lệ nhiễm sán dây
Taenia hydatigena
ở chó 31

3.4. Phương pháp xử lý số liệu 31


4.3. Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh do ấu trùng
Cysticercus tenuicollis

gây ra cho lợn 48

PHẦN 5. KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 50

5.1. Kết luận 50

5.2. Tồn tại 51

5.3. Đề nghị 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề
Bệnh sán dây là một bệnh rất phổ biến ở đàn chó nước ta. Ấu trùng một
số loài sán dây ký sinh, gây bệnh ở người và một số loài gia súc khác - ký chủ
trung gian của sán dây, gây thiệt hại nặng nề cho ngành chăn nuôi cũng như
sức khoẻ con người. Một trong những loài ấu trùng đó là Cysticercus
tenuicollis. Đây là ấu trùng của sán dây Taenia hydatigena, gây bệnh ở lợn,
dê, cừu, trâu, bò, thỏ, ngựa đôi khi cả ở người.
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [10], cho biết ấu trùng Cysticercus
tenuicollis ký sinh trên bề mặt các khí quan trong xoang bụng của vật chủ và

sức cần thiết. Nghiên cứu này không những quan trọng cho việc phát triển
chăn nuôi chó của tỉnh, mà còn góp phần phòng chống bệnh sán dây cho
người và một số loài thú nuôi khác.
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành đề tài: "Nghiên cứu
đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở lợn nuôi
tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống".
1.2. Mục đích của đề tài:
Xác định được biện pháp phòng chống bệnh do ấu trùng Cysticercus
tenuicollis gây ra ở lợn hiệu quả và phù hợp với điều kiện chăn nuôi ở huyện
Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, từ đó xây dựng được quy trình phòng chống
bệnh đạt hiệu quả cao.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus
tenuicollis gây ra ở lợn nuôi tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
- Sự thay đổi chỉ tiêu huyết học của lợn khi nhiễm ấu trùng
Cysticercus tenuicollis.
- Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh do ấu trùng Cysticercus
tenuicollis gây ra cho lợn.
3

1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ
bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra ở một số loài gia súc tại tỉnh
Thái Nguyên, về quy trình phòng chống bệnh hiệu quả, có một số đóng góp
mới cho khoa học.
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp
dụng quy trình phòng, trị bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra,
nhằm hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm, hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra trên

Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [3] cho biết: căn bệnh là ấu trùng
Cysticercus tenuicollis ký sinh ở gan, màng mỡ chài, màng treo ruột, lách của
lợn, dê, cừu, bò, hươu, đôi khi thấy ở ngựa, người. Kích thước ấu trùng khác
nhau, có khi bằng hạt đậu, quả cam, hoặc to hơn, có hình bọc, bên ngoài là
5

mô liên kết, bên trong chứa thể dịch trong và một đầu sán trưởng thành, lộn ra
phía ngoài. Ở những vùng nuôi nhiều chó tỷ lệ nhiễm ấu trùng Cysticercus
tenuicollis ở trâu, bò, dê, lợn càng nhiều. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng tăng dần theo
tuổi, điều này được các tác giả lý giải do thời gian tiếp xúc với căn bệnh tăng.
Tình hình nhiễm ấu trùng Cysticercus tenuicollis của lợn và các động vật
khác phụ thuộc vào số chó nhiễm sán trưởng thành. Lợn nuôi gần với chó dễ
nhiễm ấu trùng hơn, còn trâu, bò thả trên bãi chăn nhiễm ít hơn.
2.1.2. Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó
2.1.2.1. Vị trí của sán dây chó trong hệ thống phân loại động vật học
Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4] cho biết: so với các nhóm giun sán khác thì
sán dây ít được nghiên cứu hơn, nên những hiểu biết về thành phần loài sán
dây còn chưa được đầy đủ.
Việc nghiên cứu sán dây ở Việt Nam được bắt đầu từ hơn 1 thế kỷ trước.
Năm 1870, Cande J. lần đầu tiên mô tả loài sán dây Diphyllobothrium latum tìm
thấy ở người Nam Bộ (Việt Nam). Sau đó 10 năm mới xuất hiện các công trình
nghiên cứu lẻ tẻ về một vài loài sán dây gây bệnh cho người. Từ đó, việc nghiên
cứu về thành phần sán dây ở người được chú ý hơn, rồi mở rộng phạm vi nghiên
cứu sang một số động vật nuôi và một số động vật hoang dã.
Năm 1914, Casaux đã phát hiện được ở gan người hai nang sán Cysticercus
tenuicollis của loài sán Taenia hydatigena ký sinh ở chó.
Năm 1925, Houdemer tiến hành nghiên cứu ký sinh trùng ở thú nuôi và
thú hoang Bắc Bộ cũng phát hiện thấy ấu trùng Cysticercus tenuicollis và loài
sán Dipylidium caninum, đồng thời tác giả đã bổ sung thêm các loài trong đó
có loài Taenia hydatigena và Taenia pisiformis.

Việt Nam đã lựa chọn hệ thống phân loại của Schulz và Gvozdev (1970), để
sắp xếp các loài sán dây phát hiện được ở người, chim, thú nuôi và hoang dại
ở Việt Nam. Trong đó, sán dây ký sinh ở chó có vị trí như sau:
Ngành sán dẹp (
Plathelminthes
)
Lớp
Cestoda
Rudolphi, 1808
Phân lớp
Eucestoda
Southwell, 1930
Bộ
Pseudophyllidea
Carus, 1863
Họ
Diphylloborthriidae
Luhe, 1910
Gi
ống
Spirometra
Mueller, 1937
7

Loài
Spirometra

erinacei-europaei

(Rudolphi, 1819) Mueller, 1937

Pallas, 1766
Loài
Taenia pisiformis
Bloch, 1780
Giống
Echinococcus
Rudolphi, 1801
Loài
Echinococcus granulosus
Batsch, 1786
Giống
Multiceps
Goeze, 1782
Loài
Multiceps multiceps
Leske, 1780.
Phân bộ
Mesocestoidata
Skrjabin, 1940
Họ
Mesocestoididae
Perrier, 1897
Giống
Mesocestoides
, Wailand, 1863
Loài
Mesocestoides lineatus
Goeze, 1782
Phan Thế Việt và cs (1977) [21], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4], Nguyễn
Thị Lê và cs (1996) [13], khi đề cập về thành phần loài sán dây ký sinh trên

có ý định xem xét vị trí phân loại của giống Spirometra Mueller, 1937 và
muốn coi giống này là giống chuẩn để thành lập họ Spirometridae (dẫn theo
Nguyễn Thị Kỳ, 2003 [5]).
Nguyễn Thị Kỳ (2003) [5] cho biết: ở Việt Nam, hiện loài
Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans còn chưa rõ vị trí phân
loại và không có mẫu. Nguyễn Thị Kỳ (2003) [5] đã xem xét lại toàn bộ vị trí
phân loại và tình trạng mẫu, tình hình nghiên cứu về từng loài, đã tu chỉnh
một loài Spirometra erinacei- europaei (Rudolphi, 1819) Mueller, 1937.
Hiện nay trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và
các thú ăn thịt thuộc họ chó mèo (Vương Đức Chất và cs, 2004 [1]).
9

2.1.2.2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán dây chó
* Đặc điểm chung:
Phan Thế Việt và cs (1977) [20], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4], (2003)
[5], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [13] cho biết:
Sán dây chó có những đặc điểm của lớp sán dây nói chung: hình dải
băng màu trắng hoặc trắng ngà. Cơ thể dài, dẹp theo hướng lưng bụng, chia
thành ba phần: đầu, cổ, thân (gồm những đốt sau cổ, có hình dạng và cấu tạo
khác nhau).
Đầu sán dùng để bám vào thành ruột vật chủ, nên có những hình dạng,
kích thước và các cơ quan bám đặc trưng. Chiều rộng của đầu thường nhỏ
hơn 1 mm, nhưng cũng có sán có đầu dài vài mm. Cơ quan bám nằm trên đầu
bao gồm rãnh bám hoặc giác bám, mõm, vòi và có nhiều móc. Ở một số loài
sán dây trên móc bám có các móc bé xếp thành nhiều hàng. Giác bám là bộ
phận đặc trưng của sán dây bậc cao. Móc bám nằm ngay trên đầu hay ở phần
cuối vòi, sắp xếp thành một hay hai hàng. Số lượng móc ở các nhóm sán dây
dao động từ vài móc đến vài trăm móc. Ít khi vòi thiếu móc. Kích thước, cấu
tạo và số lượng móc cố định cho mỗi loài.
Cổ là những đốt sán nối tiếp sau đầu. Đốt cổ của sán dây là đốt sinh

triển của hệ sinh dục theo một thứ tự nhất định: Ở các đốt non cơ quan sinh
dục chưa phát triển, sau đó hình thành cơ quan sinh dục đực rồi đến cơ quan
sinh dục cái. Sau khi thụ tinh, cơ quan sinh dục đực teo dần còn lại cơ quan
sinh dục cái. Ở các đốt già, trứng chứa đầy trong tử cung.
Hệ sinh dục đực gồm tinh hoàn, ống dẫn tinh và các tuyến sinh dục. Số
lượng tinh hoàn trong mỗi đốt có từ một đến hàng trăm và là dấu hiệu để phân
loại mỗi loài. Từ tinh hoàn có nhiều ống dẫn tinh nhỏ đi ra và hợp lại với
nhau thành ống dẫn tinh, ống này đổ vào cơ quan giao phối là lông gai. Lông
gai nằm trong nang lông gai. Phần cuối ống dẫn tinh có thể phình ra gọi là túi
tinh. Nếu túi tinh ở ngoài nang lông gai gọi là túi tinh ngoài, còn ở trong nang
lông gai thì gọi là túi tinh trong. Lông gai dùng để đưa vào lỗ sinh dục cái khi
giao phối. Nang lông gai và lông gai ở mỗi loài có hình dạng, kích thước và
cấu tạo khác nhau.
Hệ sinh dục cái có cấu tạo phức tạp hơn, gồm có buồng trứng, ống dẫn
trứng, ootyp, tuyến noãn hoàng, túi nhận tinh, tuyến vò (thể Melis) và tử
cung, thường có hai buồng trứng nằm giữa hoặc phía sau đốt sinh dục, ít khi ở
11

phía trước. Trong buồng trứng hình thành các tế bào sinh dục cái (tế bào
trứng). Từ buồng trứng có ống gắn nối với âm đạo, mở ra ở huyệt sinh dục.
Ống này phình rộng ra gọi là túi nhận tinh. Trứng thụ tinh được đưa vào
ootyp. Tuyến noãn hoàng gồm nhiều bao noãn bé nằm trong nhu mô hoặc
thành khối nằm hai bên đốt hoặc phía sau buồng trứng. Từ tuyến noãn hoàng
các chất dinh dưỡng đổ vào ooptyp giúp cho việc hình thành trứng. Tuyến vỏ
tiết ra các sản phẩm cần thiết để hình thành trứng. Trong ootyp, trứng thụ tinh
được hình thành, sau đó trứng rơi vào tử cung. Cấu tạo tử cung của sán dây
rất khác nhau. Ở sán dây bậc thấp (Pseudophyllidea), tử cung là những ống
cong, dẫn từ ooptyp đến lỗ ngoài nằm ở mặt bụng của mỗi đốt. Ở những đốt
sán dây này trứng được thải ra ngoài tùy theo mức độ hình thành của trứng. Ở
sán dây bậc cao (Cyclophyllidea), tử cung kín, không có lỗ ngoài. Ở những

đạo không có tinh hoàn, ống dẫn tinh có dạng túi hẹp uốn khúc nhiều, không
có túi tinh. Nang lông gai hình trụ dài 0,450 mm, rộng 0,130 mm, buồng
trứng hai thùy ở nửa dưới của đốt, cạnh phía không lỗ lớn hơn phía có lỗ,
noãn hoàng là ống hẹp kéo dài theo chiều ngang, thể Melis tròn ở giữa buồng
trứng và noãn hoàng, phần đầu âm đạo phình rộng, sau hẹp dần, tới thùy
buồng trứng tạo thành túi nhận tinh. Ở các đốt già thân tử cung có 5 – 10
nhánh ngang, mỗi đầu tự do lại tạo thành các nhánh phụ, trứng bầu dục, dài
0,038 – 0,031 mm, rộng 0,034 – 0,035 mm, vỏ dày 0,004 mm.
Dạng ấu trùng Cysticercus tenuicollis gặp nhiều ở gan và xoang bụng
của lợn, trâu, bò, nhiều loài thú khác, kể cả người. Ấu trùng này có dạng túi
chứa đầy dịch trong. Thành bên trong túi có một đầu sán dây, có cổ. Đầu có
móc và giác bám, đường kính của giác bám 0,099 – 0,310 mm, có 28 – 40
móc, xếp hai hàng, móc hàng trên dài 0,185 – 0,210 mm, móc hàng dưới dài
0,126 – 0,160 mm, vỏ trong của nang được bọc bằng vỏ ngoài, vỏ này bám
vào thành mô cơ của vật chủ, kích thước của nang phụ thuộc vào nơi ký sinh
của ấu trùng.
+ Loài Taenia pisiformis: Sán dài 600 – 2000 mm và rộng 4,8 mm gồm
400 đốt, đường kính đầu 1,3 mm, vòi 0,515 – 0,640, có 34 – 48 móc xếp
thành hai hàng, móc hàng trên dài 0,225 – 0,294 mm, có lưỡi rất cong. Móc
hàng dưới dài 0,132 – 0,177 mm, giác bám tròn hay bầu dục, đường kính
0,310 – 0,330 mm, cổ ở ngay sau đầu dài 1,7 mm. Lỗ sinh dục xen kẽ không
đều, các núm sinh dục hơi nhô ra. Có 400 – 500 tinh hoàn, tròn hay bầu dục,
13

đường kính 0,096 – 0,132 mm, ở toàn bộ khoảng trống giữa đốt trừ vùng noãn
hoàng và buồng trứng. Ống dẫn tinh bắt đầu từ túi tinh tròn có đường kính
0,210 – 0,350 mm, nang lông gai hình trụ hay bầu dục ngang, dài 0,460 –
0,800, rộng 0,130 – 0,140 mm, buồng trứng hai thùy, ở nửa dưới của đốt,
những thùy bên hình thận và có kích thước như nhau, noãn hoàng hình ba
góc, ở bờ dưới của đốt. Thể Melis ở giữa noãn hoàng và buồng trứng, âm đạo

đường kính 0,300 mm, có 22 - 32 móc, xếp thành hai hàng, móc hàng một dài
0,150 mm, hàng hai dài 0,090 – 0,130 mm. Giác bám có đường kính 0,290 -
0,300 mm. Cổ dài 2 - 3 mm. Ống dẫn tinh bắt đầu ở phía có lỗ, gần thân giữa
của tử cung, uốn khúc và đi vào nang lông gai. Nang có dạng quả lê dài 0,315
– 0,350 mm, rộng 0,110 – 0,145 mm. Buồng trứng có hình cánh bướm, ở gần
bờ dưới đốt, hai thùy gần như bằng nhau và có hình bầu dục, noãn hoàng hình
ba góc, ở sát bờ dưới đốt. Thể Melis nhỏ ở giữa buồng trứng và noãn hoàng.
Âm đạo có dạng ống cong xuống một thùy của buồng trứng và phình rộng
thành túi chứa tinh, tử cung có thân giữa và mỗi bên có 9 - 12 nhánh, trứng có
đường kính 0,029 - 0,037 mm, có vỏ dày 0,004 mm.
Ấu trùng Coenurus cerebralis là một nang lớn, hình tròn hay bầu dục,
vỏ mờ đục, mềm ở trong có rất nhiều đầu sán dính vào, trong nang là chất
dịch không màu, số lượng dịch thay đổi phụ thuộc vào kích thước nang. Kích
thước nang khác nhau, phụ thuộc vào mức độ phát triển, vị trí não ký sinh và
loại động vật.
- Giống Mesocestoides Vaillant, 1863
Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4], (2003) [5], Nguyễn Thị Lê và cs (1996)
[13] cho biết:
+ Loài Mesocestoides lineatus: Sán trưởng thành dài đến 2m. Đầu
không có vòi, có móc bám và 4 giác bám. Tử cung có dạng túi dọc nằm ở
giữa đốt. Kích thước trứng 0,040 – 0,060 x 0,035 – 0,043 mm. Phôi 6 móc,
đôi móc giữa dài hơn móc bên.
2.1.2.3. Chu kỳ sinh học của sán dây chó
Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [16], chu kỳ sinh học
của sán dây khá phức tạp, tiến triển ở nhiều ký chủ liên tiếp. Ở bộ
Cyclophyllidae trứng chứa thai trùng sáu móc đã hình thành. Vào dạ dày ký
chủ, thai trùng sáu móc thành ấu trùng (đã mất móc) có cấu tạo và tên gọi
khác nhau: Cysticercus, Coenurus, Echinococcus, Cysticercoid. Ở bộ
Pseudophyllidae có hai thể ấu trùng liên tiếp: Procercoid và Plerocercoid.
15

gian chứa ấu trùng sẽ bị nhiễm sán. Sau 10 – 30 ngày ấu trùng phát triển
thành sán trưởng thành.
16

+ Loài Dipylidium caninum
Vòng đời của loài này có sự tham gia của vật chủ trung gian là các loài
bọ chét giống Ctenocephalides. Đốt sán già thải ra ngoài có mang theo nang
trứng. Đốt sán vỡ ra, trứng ở ngoài tự nhiên được các vật chủ trung gian nuốt
vào, phát triển thành ấu trùng. Chó ăn phải bọ chét có ấu trùng sẽ bị nhiễm
sán dây. Sau 3 – 4 tuần ấu trùng phát triển thành sán dây trưởng thành.
+ Loài Taenia hydatigena
KCTG là lợn, trâu, bò, dê, cừu. Vòng đời bắt đầu từ khi đốt sán già
rụng theo phân ra ngoài, vỡ ra, giải phóng trứng sán. KCTG nuốt phải
trứng sán, vào đến ruột, ấu trùng 6 móc nở ra và phát triển thành ấu trùng
gây bệnh Cysticercoid sau 3 tháng. Chó ăn phải nội tạng của vật chủ trung
gian có ấu trùng sẽ bị nhiễm sán. Sau 2 tháng ấu trùng phát triển thành sán
dây trưởng thành.
+ Loài Taenia pisiformis
Vòng đời phát triển cần có sự tham gia của vật chủ trung gian là động
vật gặm nhấm, chủ yếu là thỏ và thỏ rừng. Các giai đoạn phát triển của ấu
trùng thực hiện trong các vật chủ trung gian để trở thành ấu trùng cảm nhiễm
sau 15 – 30 ngày. Chó ăn phải nội tạng của thỏ có ấu trùng sẽ nhiễm sán.
+ Loài Multiceps multiceps
Vòng đời của loài này cần có sự tham gia của vật chủ trung gian là dê,
cừu. Đốt sán già ra ngoài theo phân chó. Đốt vỡ ra giải phóng trứng sán; dê,
cừu - vật chủ trung gian ăn trứng sán vào cơ thể, trứng nở và phát triển thành
ấu trùng cảm nhiễm ở óc dê, cừu sau 6 – 8 tháng. Chó ăn phải óc vật chủ
trung gian có ấu trùng sẽ nhiễm sán.
Phan Thế Việt (1977) [21] đã mô tả: “Tất cả bề mặt của sán dây là một
cái “mồm” khổng lồ. Thức ăn ngấm qua “da” của sán dây. Các loài sán dây

loài vật bị nhiều loài sán dây ký sinh nhất.
Skarabin và Petrov (1963) [23] cho biết, nếu như đường xâm nhập của
các giun sán địa lý thường là qua nước hoặc thức ăn bị nhiễm bẩn, thì nhiều
loại giun sán sinh vật xâm nhập vào cơ thể ký chủ cuối cùng khi ký chủ đó ăn
phải các mô và các cơ quan của KCTG chứa ấu trùng giun sán ở giai đoạn
cảm nhiễm. Với cách xâm nhập này, chó sói cảm nhiễm sán dây Taenia
hydatigena do ăn phải cừu có ấu trùng sán.

Trích đoạn Đặc điểm dịch tễ học bệnh sán dây chó và bệnh do ấu trùng Cysticercus Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis Chẩn đoán bệnh sán dây chó và bệnh Cysticercus tenuicollis gây ra Phòng và trị bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra Tình hình nghiên cứu trong nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status