ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ THỊ HẢI Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH DO
GIUN TRÒN TRICHOCEPHALUS SPP. GÂY RA Ở LỢN TẠI HUYỆN
YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y
Khoa : Chăn nuôi thú y
Khoá học : 2010 - 2014 Thái Nguyên, năm 2014
Thái Nguyên, năm 2014
LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa
Chăn nuôi Thú y, cô giáo hướng dẫn và sự nhất trí của Trạm Thú y huyện
Yên Sơn , em thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do
giun tròn Trichocephalus spp. gây ra ở lợn tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên
Quang và biện pháp phòng trị”.
Trong quá trình thực hiện đề tài em đã nhận được sự quan tâm của nhà
trường, Khoa Chăn nuôi Thú y, cán bộ Trạm Thú y huyện Yên Sơn, cán bộ
xã và các hộ gia đình chăn nuôi lợn tại các xã ở địa phương nơi em thực tập
cùng với sự giúp đỡ của bạn bè và gia đình.
Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:
Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Ban chủ nhiệm khoa và toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi
Thú y đã tận tình dìu dắt và dạy dỗ em trong suốt quá trình học tập và trong
thời gian thực tập.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn
TS. Phan Thị Hồng Phúc, GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan, NCS. Nguyễn Thị
Bích Ngà đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo giúp đỡ em trong quá trình thực
hiện đề tài.
Em xin gửi lời cảm ơn tới tập thể lớp CNTY 42 đã quan tâm, giúp đỡ,
động viên em trong suốt quá trình học tập, rèn luyện tại trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên.
Một lần nữa em xin kính chúc toàn thể thầy, cô giáo trong khoa Chăn
nuôi Thú y sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt. Chúc cán bộ, nhân viên Trạm
thú y huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang mạnh khỏe, công tác tốt, chúc các
bạn sinh viên mạnh khỏe, học tập tốt và thành công trong cuộc sống.
Em xin chân thành cảm ơn!
2.1.1.4. Sức đề kháng của trứng giun T. suis lợn ở ngoại cảnh 7
2.1.2. Bệnh giun T. suis ở lợn 8
2.1.2.1. Những thiệt hại kinh tế do giun T. suis gây ra ở lợn. 8
2.1.2.2. Đặc điểm dịch tễ bệnh giun T. suis 8
2.1.2.3. Cơ chế sinh bệnh 11
2.1.2.4. Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích 12
2.1.2.5. Chẩn đoán bệnh giun T. suis ở lợn 14
2.1.2.6. Biện pháp phòng và trị bệnh giun T. suis cho lợn 17
2.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 20
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 20
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 22
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 26
3.1. ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU 26
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 26
3.4.2.1. Phương pháp điều tra công tác phòng chống bệnh ký sinh trùng nói chung,
bệnh giun T. suis nói riêng cho lợn ở huyện Yên Sơn. 28
3.4.2.2. Quy định những yếu tố cần xác định liên quan đến tình hình nhiễm giun
T.suis ở lợn 28
3.4.2.3. Phương pháp thu thập, xét nghiệm mẫu, thu nhận trứng giun T. suis 30
3.4.2.4. Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T. suis 30
3.4.3. Phương pháp xác định hiệu lực và độ an toàn của một số thuốc tẩy giun T.suis
cho lợn 31
3.4.3.1. Xác định khối lượng lợn để tính liều thuốc sử dụng 31
3.4.3.2. Phương pháp xác định hiệu lực và độ an toàn của thuốc tẩy giun T. suis cho
lợn 31
3.5. Phương pháp xử lý số liệu 32
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
4.1. Xác định loài giun và hình thái, kích thước của giun Trichocephalus spp. ở
huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 33
4.1.1. Kết quả mổ khám lợn để thu thập mẫu giun tròn Trichocephalus spp. ở
huyện Yên Sơn 33
4.1.2. Kết quả định danh loài giun T. suis ký sinh ở lợn tại huyện Yên Sơn 34
5.2. Tồn tại 51
5.3. Đề nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Cs : Cộng sự
Nxb : Nhà xuất bản
T.suis : Trichocephalus suis
TT : Thể trọng
P : Khối lượng
VN : Vòng ngực
DT : Dài thân
n : Dung lượng mẫu
Tr : Trang DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 4.1. Kết quả mổ khám lợn để thu thập mẫu giun tròn Trichocephalus spp. ở
huyện Yên Sơn 33
Bảng 4.2. Kết quả định danh loài giun tròn giống tóc ký sinh ở lợn tại huyện Yên
Sơn 35
Bảng 4.3. Một số đặc điểm sinh học của giun T. suis ở huyện Yên Sơn 36
Biểu đồ 4.2: Tỷ lệ lợn nhiễm giun T. suis theo tuổi 42
Biểu đồ 4.3: Tỷ lệ lợn nhiễm giun T. suis theo phương thức chăn nuôi 44
Biểu đồ 4.4: Tỷ lệ lợn nhiễm giun T. suis theo tình trạng vệ sinh thú y 45 1
PHẦN 1 : MỞ ĐẦU
lượng sản phẩm.
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của việc khống chế dịch bệnh, nâng cao
năng suất chăn nuôi lợn ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang chúng tôi
nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn
Trichocephalus spp gây ra ở lợn tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
và biện pháp phòng trị’’.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Xác định loài giun và hình thái, kích thước của giun Trichocephaluss
spp. ở huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang .
- Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun T. suis lợn tại huyện
Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang .
- Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh giun T. suis cho lợn
3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
3.1. Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ
bệnh và biện pháp phòng trị bệnh giun T. suis ở lợn tại huyện Yên Sơn, tỉnh
Tuyên Quang.
3.2.Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi về
biện pháp phòng trị bệnh giun T. suis cho lợn có hiệu quả. 3
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1. Những hiểu biết về giun tròn Trichocephalus suis
2.1.1.1. Vị trí của giun T. suis trong hệ thống phân loại động vật học
được phủ bởi rất nhiều gai nhỏ, những gai này xếp theo thứ tự quân cờ. Số
lượng hàng gai nhỏ gần nơi chuyển của bao vào thân 24 - 42; Ở đầu đối diện
với nó số lượng hàng tăng tới 44 - 46. Hình dạng bao gai tròn, căng, dài 0,044
mm. Chiều rộng của bao gai ở chỗ lồi ra khỏi huyệt tăng lên về kích thước:
Chiều rộng chỗ gần huyệt là 0,057 - 0,092 mm; trong khi đó ở chỗ cuối gai
0,079 - 0,159 mm. Tất cả con đực có một đầu bao gai gập hình cổ tay áo hay
là hình bao tay, bao này một phần hay toàn bộ bao phủ phần bao gai lồi ra
khỏi thân. Chiều dài của chỗ gập 0,242 - 0,330 mm; rộng 0,290 - 0,352 mm.
Con cái: Thân dài trung bình 45,55 mm; tối thiểu 38 mm và tối đa 53
mm. Phần trước mỏng, phần sau dày. Chiều dài phần trước của thân trung
bình 30,55 mm (25 - 35 mm); chiều dài phần sau 15 mm (13 - 18 mm). Trên
danh giới chỗ chuyển tiếp của phần thân trước và phần thân sau, hơi dịch về
phía sau cách đầu cuối của thực quản có âm hộ. Âm hộ nhô ra ngoài, dạng
hình trụ hơi cong về phía sau (0,037 - 0,061 mm) và hơi rộng ở chỗ cạnh tự
do (0,050 - 0,075 mm). Chỗ này được phủ rất nhiều gai nhỏ hình lưới (3 - 4
µm). Tử cung có hình ống thẳng hay hơi cong, nằm ngay trước âm hộ, dài
0,92 - 1,28 mm; trong tử cung có trứng xếp thành một hàng. Đuôi con cái tù.
Trứng dài 0,056 - 0,066 mm và rộng 0,025 - 0,030 mm. Màu sắc thay đổi từ
vàng nhạt đến vàng sẫm.
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20] đã mô tả giun T. suis như sau:
Con đực: Dài 37,52 - 40,63 mm; rộng nhất 0,634 - 0,713 mm. Phần
trước cơ thể dài 23,48 - 25,75 mm; phần sau dài 14,00 - 15,00 mm; có dạng 5
xoắn lò xo. Gai sinh dục dài 1,70 - 2,55 mm; rộng 0,07 - 0,10 mm; mút cuối
gai nhọn. Bao gai phủ đầy gai nhỏ. Lỗ huyệt nằm ở mút cuối đuôi.
Con cái: Cơ thể dài 37,89 - 50,60 mm; rộng 0,734 - 1,012 mm; phần
trước cơ thể dài 23 - 33 mm. Ống sinh dục đơn. Âm đạo có thành cơ dày,
Skrjabin K. I. (1979) [38] cho biết: Giun T. suis phát triển không cần
vật chủ trung gian. Trứng được bài tiết cùng với phân lợn ra môi trường ngoại
cảnh. Ở môi trường thuận lợi, thời gian để trứng phát triển thành dạng cảm
nhiễm từ 3 đến 4 tuần. Trong thời gian này, có thể thấy ấu trùng đã hình thành
hoàn toàn và chuyển động bên trong trứng.
Theo Trịnh Văn Thịnh (1985) [30], Đào Trọng Đạt và cs (1996) [4]
tuổi thọ của giun T. suis ở lợn là từ 4 - 5 tháng.
Bonner Stewart T. và cs (2000) [36] cho biết: Khi lợn nuốt phải những
ấu trùng giun T. suis này nằm sâu trong niêm mạc 2 tuần, nhô ra khỏi niêm
mạc ở tuần thứ 3 và phát triển thành giun trưởng thành.
Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [16], thời gian hoàn thành vòng đời
của giun tròn T. suis là 30 ngày.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [15], vòng đời phát triển của
giun T. suis diễn ra theo sơ đồ sau: 7Hình 2.2. Sơ đồ vòng đời của giun T. suis
Giun T. suis trưởng thành kí sinh ở manh tràng đẻ trứng, trứng theo
phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng) qua 15 - 28
ngày trứng phát triển thành trứng cảm nhiễm. Trứng này lẫn vào thức ăn,
nước uống, nếu gia súc ăn phải, vào đường tiêu hóa trứng nở thành ấu trùng,
thọc sâu phần đầu vào niêm mạc ruột già, tiếp tục phát triển thành giun trưởng
thành. Thời gian hoàn thành vòng đời trong cơ thể tùy từng loài giun T. suis
nhưng đối với T. suis cần 30 ngày.
2.1.1.4. Sức đề kháng của trứng giun T. suis lợn ở ngoại cảnh
Theo Đặng Văn Ngữ và cs (1965) [23], ở ẩm độ tối đa (gần 100%) và
nhiệt độ 22
C
trứng ngừng phát triển nhưng vẫn duy trì khả năng sống. Nhiệt độ từ 45
o
C trở
lên diệt được trứng giun T. suis. Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [15]:
Trứng giun T. suis có vỏ dày nên có sức đề kháng cao với điều kiện ngoại cảnh.
2.1.2. Bệnh giun T. suis ở lợn
2.1.2.1. Những thiệt hại kinh tế do giun T. suis gây ra ở lợn.
Bệnh ký sinh trùng thường là những bệnh mãn tính, làm giảm mức sinh
trưởng và sinh sản của gia súc, ảnh hưởng đến sản phẩm chăn nuôi. Lợn nuôi
lấy thịt chậm lớn, sụt cân, phẩm chất thịt giảm (Trịnh Văn Thịnh và cs,
1982) [29].
Bonner Stewart T. và cs (2000) [36] cho biết: Tại Mỹ, nội ký sinh trùng
ở lợn hàng năm gây thiệt hại ước tính khoảng 538 triệu đô la, bao gồm thiệt
hại do lợn chết, tiêu hủy, giảm thu và chi phí để tẩy giun sán.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [18], T. suis ký sinh là một trong
những nguyên nhân làm giảm năng suất chăn nuôi và tạo điều kiện cho các
mầm bệnh khác xâm nhập. Lợn bị bệnh giun T. suis giảm tăng trọng từ
15 - 20% so với lợn khỏe.
2.1.2.2. Đặc điểm dịch tễ bệnh giun T. suis
* Động vật mắc bệnh
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [35], lợn nhà và lợn rừng đều cảm
nhiễm với giun T. suis.
9
Theo Nguyễn Phước Tương (2002) [34], người nhiễm bệnh sau khi
nuốt phải trứng giun T. suis lẫn trong nước hay thức ăn thực vật chưa được
nấu chín. Sau khi vào người, trứng cảm nhiễm phát triển thành giun T. suis
trưởng thành, khu trú ở ruột thừa và gây bệnh cho người. Giun đẻ trứng, trứng
Từ 5 - 6 tháng tuổi nhiễm 8,5%
Trên 6 tháng tuổi nhiễm 6,4%.
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [4], lợn ở giai đoạn 2 - 6 tháng tuổi
nhạy cảm nhất với giun T. suis. Kết quả điều tra tại hợp tác xã Tiền Phong
(Hà Nội), lợn Ỉ lai Yorkshire, Berkshire có tỷ lệ nhiễm giun T. suis ở lợn dưới
2 tháng tuổi là 16%, trong khi lợn 5 tháng tuổi nhiễm 13,5 % và lợn 7 tháng
tuổi nhiễm 6,2%. Tại hợp tác xã Đông Mỹ (Hà Nội) tỷ lệ lợn dưới 2 tháng
tuổi nhiễm giun T. suis là 20,8 %. Ngày tuổi bình quân phát hiện trứng giun
T. suis trong phân lợn nội là 74 ngày (từ 58 - 89 ngày), lợn lai Landrace 56
ngày (43 - 64 ngày), lợn Berkshire 61 ngày (56 - 75 ngày), lợn lai
Yorkshire 76 ngày và lợn ngoại 62 ngày (38 - 81 ngày).
Theo Phạm Sĩ Lăng và cs (2009) [19], tỷ lệ nhiễm giun T. suis ở lợn
theo tuổi ở Hà Nội như sau: Lợn từ 2 - 6 tháng tuổi nhiễm 4,3 - 30%, lợn
trên 6 tháng tuổi nhiễm 0,56 - 7,8%.
* Vùng mắc bệnh
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [18], bệnh giun T. suis ở lợn phân bố
trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, bệnh cũng đã được phát hiện ở tất cả các
tỉnh miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Ở Hà Nội, lợn bị nhiễm T. suis từ
4,3 - 30% (ở lứa tuổi từ 2 - 6 tháng) và 0,56 - 7,8% (ở lứa tuổi trên 6
tháng).
Theo Trịnh Văn Thịnh (1963) [26], kết quả điều tra ở các lò mổ các
tỉnh, tỷ lệ nhiễm giun T. suis ở lợn như sau: Nghĩa Lộ: 40,3% ; Quảng
Ninh: 33,7% ; Thanh Hóa: 12,5%; Hải Hưng: 15,1% ; Nam Hà: 33,3%; Hà
Bắc: 27,3%.
11
* Phương thức chăn nuôi
Giun tròn T. suis là loài phát triển trực tiếp nên tỷ lệ nhiễm trong đàn
quá trình sinh sống, giun T. suis thải ra cặn bã và độc tố làm con vật trúng độc.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [1999]: Giun T. suis lấy dịch
tổ chức niêm mạc ruột để sống gây ra hiện tượng xuất huyết, viêm ruột và dẫn
đến ỉa chảy.
Ngoài tác động chiếm đoạt dinh dưỡng của lợn, giun T. suis còn gây tác
hại nặng nề cho lợn.
- Tác hại cơ giới: Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [11], Phạm
Sỹ Lăng và cs (2006) [18], phần đầu của giun T. suis cắm sâu vào thành ruột
gây tổn thương, làm niêm mạc ruột già bị viêm và xuất huyết, gây rối loạn
tiêu hóa, làm cho lợn có hội chứng hồng lỵ.
- Tác hại mang trùng: Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [4], giun
T. suis ký sinh gây tổn thương, tạo điều kiện cho các nhân tố khác xâm nhập.
Nhân tố gây bệnh kế phát là xoắn khuẩn và phẩy khuẩn.
- Tác hại tiết độc tố: Độc tố là những sản phẩm mà giun T. suis bài tiết
ra làm cho ký chủ trúng độc, gầy còm, thiếu máu, gây rối loạn tiêu hóa.
2.1.2.4. Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích
* Triệu chứng lâm sàng
Theo Skrjabin K.I. (1979) [38], triệu chứng bệnh giun T. suis phụ thuộc
vào cường độ nhiễm. Khi nhiễm nặng lợn có biểu hiện da khô, xù lông, ỉa
chảy rồi bị táo bón… Độc tố do T. suis tiết ra có tác dụng gây bệnh mạnh,
làm cho vi nhung mao và các tế bào biểu mô mất đi tính chất cấu tạo và bị
phân hủy.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [17]: Phần đầu của giun T. suis cắm
sâu vào thành ruột để hút chất dinh dưỡng gây tổn thương, tạo điều kiện cho
13
viêm ruột già nhiễm khuẩn. Các tổn thương cũng có thể gây xuất huyết ruột
già, nên lợn có hội chứng lỵ.
Lợn trưởng thành nhiễm giun T. suis thường không thể hiện rõ các triệu
chứng lâm sàng. Lợn con ở các lứa tuổi 2 - 4 tháng bị nhiễm giun xuất hiện
chết gầy, có nhiều giun T. suis ở ruột già (nhất là manh tràng). Một số giun T.
suis vẫn cắm sâu vào niêm mạc ruột, phải kéo mạnh mới lấy ra được. Trên
niêm mạc ruột có những lỗ loét to bằng hạt đậu xanh. Khi bị nhiễm nặng, toàn
bộ ruột già có giun T. suis ký sinh dày đặc, niêm mạc ruột sần sùi, xuất huyết,
lớp chất nhầy trên niêm mạc có màu hồng sẫm. Niêm mạc ruột có thể bị bong
tróc từng mảng.
2.1.2.5. Chẩn đoán bệnh giun T. suis ở lợn
* Với gia súc sống
Để chẩn đoán bệnh có thể áp dụng hai phương pháp là chẩn đoán lâm
sàng kết hợp với đặc điểm dịch tễ và chẩn đoán trong phòng thí nghiệm. Chẩn
đoán trong phòng thí nghiệm lại gồm: Nghiên cứu định tính và nghiên cứu
định lượng. Nghiên cứu định tính nhằm xác định có hoặc không có giun T.
suis ký sinh. Đây là phương pháp thông dụng để đánh giá tình hình nhiễm
giun T. suis ở lợn. Nghiên cứu định lượng nhằm xác định số lượng trứng
trong phân để đánh giá mức độ nhiễm và hiệu quả của một số thuốc tẩy giun.
Phương pháp chẩn đoán lâm sàng kết hợp với đặc điểm dịch tễ: Những
triệu chứng lâm sàng cần chú ý là lợn ăn kém, gầy yếu, da khô, lông xù, ỉa
chảy…
Về đặc điểm dịch tễ học, cần căn cứ vào lứa tuổi mắc bệnh, mùa vụ,
tình trạng vệ sinh thú y… Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào những đặc điểm nói
trên để chẩn đoán thì sẽ không chính xác. Bởi vì các bệnh ký sinh trùng
thường có những triệu chứng lâm sàng tương tự nhau (rối loạn tiêu hóa, thể
15
trạng gầy, da khô, lông xù…). Vì vậy, để chẩn đoán chính xác bệnh phải tiến
hành xét nghiệm phân tìm trứng giun T. suis (theo Nguyễn Thị Kim Lan và
cs, 1999) [11].
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [17], có 4 phương pháp xét nghiệm
phân: Phương pháp trực tiếp, phương pháp Fullerborn, phương pháp Darling
và phương pháp Cherbovick.