Nghiên cứu biện pháp phòng và chữa bệnh do giun tròn Trichocephalus spp. gây ra ở lợn tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên - Pdf 29

61ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

BÙI THỊ NGÂN Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP PHÒNG VÀ CHỮA BỆNH DO
GIUN TRÒN TRICHOCEPHALUS SPP. GÂY RA Ở LỢN
TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Chăn nuôi - Thú y
Khoa : Chăn nuôi thú y
Khóa học : 2009 - 2014

Chuyên ngành : Chăn nuôi - Thú y
Khoa : Chăn nuôi thú y
Khóa học : 2009 - 2014

Giảng viên hướng dẫn: TS. Phan Thị Hồng Phúc
Khoa Chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên - 2013

54
LỜI CẢM ƠN

Được sự đồng ý của Ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa
Chăn nuôi Thú y, Cô giáo hướng dẫn và sự nhất trí của Trạm Thú y huyện
Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên, em thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu
biện pháp phòng và chữa bệnh do giun tròn Trichocephalus spp. gây ra ở
lợn tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”.
Trong quá trình thực hiện đề tài em đã nhận được sự quan tâm của nhà
trường, Khoa Chăn nuôi Thú y, cán bộ Trạm Thú y huyện Phú Bình, các hộ
chăn nuôi lợn tại các xã, bạn bè và gia đình.
Nhân dịp này em xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu Nhà trường,
khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Trạm Thú y
huyện Phú Bình đã tạo điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp này. Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn
TS. Phan Thị Hồng Phúc, GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan, NCS. Nguyễn Thị

Bảng 4.7 Khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt trứng giun T. suis của công
thức ủ III 39
Bảng 4.8. Đánh giá khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt trứng giun
T. susi của 3 công thức ủ 41
Bảng 4.9. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T. suis ở lợn trước khi thử nghiệm
biện pháp phòng bệnh 43
Bảng 4.10. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T. suis ở lợn sau 2 tháng
thử nghiệm 44
Bảng 4.11. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T. suis ở lợn sau 3 tháng
thử nghiệm 45

56
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ

Trang
Hình 2.1. Giun Trichocephalus suis 6
Hình 2.2. Sơ đồ vòng đời của giun T. suis ở lợn 7
Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ nhiễm giun T. suis ở các xã huyện Phú Bình 32
Biểu đồ 4.2: Cường độ nhiễm giun T. suis ở các xã huyện Phú Bình 32
Đồ thị 4.3: Sự thay đổi nhiệt độ của 3 công thức ủ phân. 40 57
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

- : Đến
% : Tỷ lệ phần trăm
≤ : Nhỏ hơn hoặc bằng
< : Nhỏ hơn
> : Lớn hơn

2.1.2.4. Chẩn đoán bệnh giun T.suis ở lợn 14
2.1.2.5. Biện pháp phòng và trị bệnh giun Trichocephalus suis cho lợn 16
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 21
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 21
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 22
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 24
3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 24
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 24
3.1.2. Vật liệu nghiên cứu 24
3.2. Địa điểm nghiên cứu và thời gian nghiên cứu 24
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu 24
59
3.2.2. Thời gian nghiên cứu 24
3.3. Nội dung nghiên cứu 25
3.3.1. Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T.susi ký sinh ở lợn tại huyện Phú
Bình, tỉnh Thái Nguyên 25
3.3.2. Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh T.susi cho lợn 25
3.3.2.1. Xác định hiệu lực và độ an toàn của một số thuốc tẩy giun T. suis 25
3.3.2.2. Nghiên cứu biện pháp phòng bệnh giun T. suis lợn ở huyện Phú Bình,
tỉnh Thái Nguyên 25
3.4. Phương pháp nghiên cứu 25
3.4.1. Phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh giun T. suis cho lợn 25
3.4.1.1. Phương pháp thu thập, xét nghiệm mẫu, thu nhận trứng giun T. suis 25
3.4.1.2. Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T. suis ở lợn 26
3.4.1.3. Xác định hiệu lực và độ an toàn của thuốc tẩy giun T.suis cho lợn 27
3.4.1.4. Bố trí thí nghiệm xác định công thức ủ phân có khả năng sinh nhiệt tốt
để diệt trứng giun T. suis lợn 27
3.4.1.5. Phương pháp thử nghiệm các biện pháp phòng bệnh giun T. suis trên
thực địa 28

1

Phần 1
MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề
Hiện nay, ngành chăn nuôi đóng một vai trò quan trọng trong tăng
trưởng nền kinh tế quốc dân. Chăn nuôi hiện nay với nhiều hình thức đa dạng
và phong phú đang là một hướng đi mới góp phần giải quyết việc làm, nâng
cao thu nhập cho người nông dân, giải quyết vấn đề xóa đói giảm nghèo ở
nhiều nơi, tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu thực phẩm ngày càng cao
của người tiêu dùng và có giá trị kinh tế để xuất khẩu, có khả năng cạnh tranh
trên thị trường với các nước trong khu vực và trên thế giới. Chăn nuôi còn là
nguồn cung cấp phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt, nguyên liệu phục vụ
cho ngành công nghiệp chế biến. Hiện nay, phân lợn còn được dùng làm
nhiên liệu để sản xuất khí đốt (biogas) vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao
vừa có tác dụng giảm ô nhiễm môi trường.
Ngành chăn nuôi lợn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong chăn nuôi, so với
các loài gia súc khác lợn vẫn là đối tượng được người dân chăn nuôi nhiều
nhất và sản phẩm thịt lợn được nhiều người tiêu dùng trong nước cũng như
thế giới ưa chuộng (ở nước ta thịt lợn được dùng làm thực phẩm chiếm đến
75%). Chăn nuôi lợn là một trong ba ngành chăn nuôi quan trọng nhất của
nước ta là: chăn nuôi lợn; chăn nuôi trâu, bò và chăn nuôi gia cầm.
Xác định được vai trò quan trọng của chăn nuôi lợn trong những năm
qua Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy
chăn nuôi lợn phát triển cả về số lượng và chất lượng.
Tuy nhiên, để ngành chăn nuôi phát triển bền vững thì ngoài việc thực
hiện tốt công tác giống, thức ăn… còn phải quan tâm nhiều hơn đến công tác thú
y, đặc biệt trong xu hướng chăn nuôi tập trung, quy mô trang trại như hiện nay.
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa có một mùa mưa

biện pháp phòng và chữa bệnh do giun tròn Trichocephalus spp. gây ra ở
lợn tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh Trichocephalus spp. cho lợn.
- Đề xuất quy trình phòng bệnh giun Trichocephalus spp. cho lợn.
3

1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về bệnh và quy trình
phòng chống bệnh giun Trichocephalus spp.cho lợn, có một số đóng góp mới
cho khoa học.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp
dụng quy trình phòng, trị bệnh giun Trichocephalus spp. cho lợn, nhằm hạn chế
tỷ lệ và cường độ nhiễm giun ở lợn, hạn chế tác hại đối với lợn, góp phần
nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn phát triển.

4

PHẦN 2

của thân. Chiều rộng của phần trước thực quản 0,035 - 0,44 mm; của chỗ
5

chuyển vào ruột 0,074 - 0,092 mm. Thực quản được bao quanh bởi một hàng
tế bào đơn nhân dạng móc xích. Ruột kết thúc bởi huyệt trên phần đuôi. Hệ
thống sinh dục của con đực gồm những ống dẫn tinh uốn khúc chiếm hầu hết
phần sau thân. Đuôi con đực vòng xoắn ốc. Gai giao hợp kết thúc bằng một
đỉnh nhọn. Chiều dài gai xê dịch từ 1,74 - 2,48 mm. Chỗ rộng nhất của gai là
gốc gai dài 0,084 - 0,110 mm. Có bao gai bọc xung quanh và cùng với gai lồi
ra khỏi lỗ huyệt. Bao gai được phủ bởi rất nhiều gai nhỏ, những gai này xếp
theo thứ tự quân cờ. Số lượng hàng gai nhỏ gần nơi chuyển của bao vào thân là
24 - 42; ở đầu đối diện với nó số lượng hàng tăng tới 44 - 56. Hình dạng bao
gai tròn, căng, dài 0,044 mm. Chiều rộng chỗ gần huyệt là 0,057 - 0,092 mm;
trong khi đó ở chỗ cuối gai là 0,079 - 0,159 mm. Tất cả con đực có một đầu
bao gai gập hình cổ tay áo hay là hình bao tay, bao này một phần hay toàn bộ
bao phủ phần bao gai lồi ra khỏi thân. Chiều dài của chỗ gập là 0,242 - 0,330
mm; chiều rộng là 0,290 - 0,352 mm.
Con cái: Chiều dài thân trung bình 45,55 mm; tối thiểu 38 mm và tối đa
53 mm. Chiều dài phần trước mỏng của thân trung bình là 30,55 mm (25 - 35
mm); chiều dài phần sau dày là 15 mm (13 - 18 mm). Như vậy tỷ lệ giữa phần
trước và phần sau là 2,04 : 1. Trên ranh giới chỗ chuyển tiếp của phần thân
trước và phần thân sau, hơi dịch về phía sau cách đầu cuối của thực quản có âm
hộ. Âm hộ này nhô ra ngoài, dạng hình trụ hơi cong về phía sau (0,037 - 0,61 mm)
và hơi rộng ở chỗ cạnh tự do (0,050 - 0,075 mm). Chỗ này được phủ rất nhiều
gai nhỏ hình lưới (3 - 4
µ
m). Ngay trước âm hộ, tử cung có hình ống thẳng
hay hơi cong, dài 0,92 - 1,28 mm; trong tử cung có trứng xếp thành một hàng.
Đuôi con cái tù. Trứng dài 0,056 - 0,066 mm và rộng 0,025 - 0,030 mm.
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20], con đực dài 37,52 - 40,63 mm;

cuộn tròn lại, có một gai giao hợp dài 1,70 - 2 mm, lỗ huyệt thông ra ngoài
phần cuối của giun. Giun cái đuôi thẳng, hậu môn ở đoạn cuối của thân.
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [16] cho biết: Hình thể của giun giống
như một sợi tóc màu trắng. Cơ thể chia thành hai phần rõ rệt. Phần trước nhỏ
như sợi tóc, dưới lớp biểu bì là thực quản, thực quản do các tế bào xếp nối
tiếp như chuỗi hạt, phần này chiếm 2/3 chiều dài cơ thể. Phần sau ngắn và to,
bên trong là ruột và cơ quan sinh sản. Giun đực dài 20 - 52 mm đuôi hơi tù,
phần đuôi cuộn tròn lại chỉ có một gai giao hợp rất dài 5 - 7 mm, gai giao hợp
được bọc trong một cái màng có nhiều gai nhỏ bao phủ. Giun cái dài 39 - 53
mm, đuôi thẳng, âm hộ ở đoạn cuối cùng của thực quản.
7

2.1.1.3. Vòng đời của giun T. suis
Vòng đời phát triển của giun T. suis diễn ra theo sơ đồ sau: Hình 2.2. Sơ đồ vòng đời của giun T. suis ở lợn
Thời gian hoàn thành vòng đời của giun T. suis là 30 - 52 ngày.
Skrjabin K. I. (1979) [36] cho biết: Vòng đời của giun T. suis không
cần vật chủ trung gian. Trứng được bài tiết cùng với phân lợn ra môi trường
ngoại cảnh. Ở môi trường thuận lợi, thời gian để trứng phát triển thành dạng
cảm nhiễm từ 3 đến 4 tuần. Trong thời gian này, có thể thấy ấu trùng đã hình
thành hoàn toàn và chuyển động bên trong trứng.
Theo Trịnh Văn Thịnh (1985) [29], Đào Trọng Đạt và cs (1996) [4],
tuổi thọ của giun T. suis ở lợn từ 4 - 5 tháng. Chu kỳ sinh học của giun T. suis
gồm hai giai đoạn: Một giai đoạn ở ngoài ngoại cảnh, phát triển từ trứng đến
ấu trùng cảm nhiễm; giai đoạn thứ hai ở ký chủ, trứng cảm nhiễm phát triển
thành giun trưởng thành. Không có thời kỳ di hành trong cơ thể ký chủ.
Theo Lương Văn Huấn và cs (1990) [7], giun T. suis sống được trong
cơ thể lợn 114 ngày.

ở ẩm độ tối đa (gần 100 %) nếu ở nhiệt độ 22
0
C thì trứng phát triển được đến
giai đoạn ấu trùng. Nhưng cũng có điều kiện ẩm độ như trên mà ở 30
0
C thì
trứng sẽ chết sau 1 tháng.
Đỗ Dương Thái và cs (1975) [24] cho biết, trứng giun T. suis bị hủy hoại
nếu ẩm độ dưới 30 % kéo dài. Mặt khác, trứng giun T.suis có thể bị diệt bởi
những tia tử ngoại của ánh sáng mặt trời. Trong cùng một thời gian dưới tác
dụng của tia tử ngoại thì trứng đã phát triển đến giai đoạn ấu trùng bị diệt nhanh
hơn trứng non.
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20], trứng giun giun T. suis bị diệt
dưới tác dụng của ủ phân nhiệt sinh học. Sau 3 - 4 tuần, nhiệt độ hố ủ tăng lên
9

tới 45
o
C sẽ làm hủy trứng giun giun T. suis. Tuy nhiên, trứng non có khả
năng chịu đựng các điều kiện nhiệt độ cao hơn trứng ở giai đoạn ấu trùng.
Trứng T. suis có vỏ dày nên có sức đề kháng cao với điều kiện ngoại
cảnh. Theo Lehand S. Shapiri (2005) [36], trứng T. suis có thể tồn tại rất lâu
(vài năm) trong đất.
Sự phát triển của trứng phụ thuộc vào nhiệt độ: Ở 30
o
C cần 17 ngày, ở nhiệt
độ thấp hơn, thời gian này kéo dài hơn. Ở 10
o
C trứng ngừng phát triển nhưng vẫn
duy trì khả năng sống. Nhiệt độ từ 45

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [18], bệnh lây nhiễm qua đường tiêu
hóa do lợn nuốt phải trứng cảm nhiễm lẫn trong thức ăn, nước uống.
Lây nhiễm trực tiếp: Lợn bệnh bài xuất trứng giun T. suis qua phân,
những trứng này phát tán trên nền chuồng, máng ăn, máng uống. Vì vậy, lợn
khỏe dễ dàng bị nhiễm trứng giun T. suis. Lây nhiễm trực tiếp chủ yếu giữa
lợn bệnh và lợn khỏe trong cùng một ô chuồng. Lợn con nhiễm bệnh chủ yếu
khi bú sữa mẹ, nuốt phải trứng bám ở đầu vú lợn mẹ.
Lây nhiễm gián tiếp: Dụng cụ chăn nuôi, người chăm sóc… cũng là tác
nhân mang mầm bệnh. Đây là những yếu tố trung gian góp phần lây nhiễm
giun T. suis từ lợn bệnh sang lợn khỏe, từ ô chuồng này sang ô chuồng khác.
Ngoài ra, ruồi, chuột cũng có thể phân tán trứng giun, gió cuốn trứng
giun theo bụi, mang trứng giun T. suis từ chuồng này sang chuồng khác gây
phát tán mầm bệnh.
* Tuổi mắc bệnh
Lương Văn Huấn và cs (1990) [7] cho biết: Tỷ lệ nhiễm giun T. suis
theo tuổi lợn như sau:
Dưới 3 tháng tuổi nhiễm tỷ lệ 20,4 %
Từ 3 - 4 tháng tuổi nhiễm tỷ lệ 21,2 %
Từ 5 - 6 tháng tuổi nhiễm tỷ lệ 8,5 %
Trên 6 tháng tuổi nhiễm tỷ lệ 6,4 %
Nguyễn Đăng Khải (1996) [9] cho biết: Tỷ lệ nhiễm giun T. suis ở lợn
cao nhất ở giai đoạn 2 - 6 tháng tuổi sau đó giảm dần, ít gây hại đối với lợn.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [17], bệnh giun T. suis ở lợn phân bố
trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, bệnh đã được phát hiện ở tất cả các tỉnh
miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Ở Hà Nội, lợn bị nhiễm giun T. suis từ
4,3 - 30 % (ở lợn từ 2 - 6 tháng tuổi) và 0,56 - 7,8 % (ở lợn trên 6 tháng tuổi).
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [18] cho biết: Bệnh giun T. suis thường xảy
ra đối với lợn dưới 6 tháng tuổi. Lợn nái và lợn trưởng thành nhiễm giun
T. suis nhẹ hơn, ít thể hiện các triệu chứng lâm sàng.
11

Phương thức chăn nuôi là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh
hưởng tới khả năng nhiễm giun T. suis của lợn.
12
Phạm Văn Lan (1970) mổ khám 57 lợn và xét nghiệm 1000 mẫu phân
tại xã Yên Nguyên (Tuyên Quang) cho thấy tỷ lệ nhiễm các loài giun tròn ở
lợn nuôi thả rông là 96,5 %. Trong đó, tỷ lệ nhiễm giun T. suis ở lợn nuôi
nhốt là 30 %; lợn nuôi thả rông là 47 % (dẫn theo Trịnh Văn Thịnh và cs,
1978) [28].
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [18] cho biết: Các cơ sở chăn nuôi có
điều kiện vệ sinh kém, lợn bị nhiễm giun T. suis với tỷ lệ cao gây thiệt hại
đáng kể cho đàn lợn.
* Yếu tố streess
Các yếu tố stress (chuồng trại chật chội, thức ăn kém dinh dưỡng, nhiệt
độ ẩm độ môi trường thay đổi…) đóng vai trò thúc đẩy mức độ và tốc độ lây
lan bệnh giun T. suis ở lợn.
2.1.2.2. Cơ chế sinh bệnh
* Vị trí gây bệnh
Giun T. suis ký sinh và gây bệnh ở ruột già lợn, đặc biệt là manh tràng
và kết tràng (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [12].
* Đường xâm nhập vào cơ thể
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12] cho biết: Bệnh giun T. suis
lây nhiễm trực tiếp không qua vật chủ trung gian. Trứng giun T. suis cảm
nhiễm xâm nhập vào cơ thể vật chủ qua đường tiêu hóa do lợn ăn phải thức
ăn, nước uống có lẫn trứng giun. Giun T. suis ký sinh và gây bệnh ở ruột già
lợn, đặc biệt ở manh tràng và kết tràng.
* Đường bài xuất mầm bệnh
Lợn mắc bệnh sau một thời gian thì bài xuất trứng theo phân ra ngoại cảnh.
Vì vậy, trứng được phát tán rộng rãi ở ngoài tự nhiên và quá trình phát triển bắt
đầu để tạo thành trứng cảm nhiễm (trứng có chứa ấu trùng bên trong).
* Cơ chế sinh bệnh

không khỏi. Khi xét nghiệm phân mới phát hiện giun T. suis ký sinh (Đào
Trọng Đạt và cs, 1996) [5].
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [17], khi lợn nhiễm giun T. suis ở cường
độ nhẹ thì triệu chứng lâm sàng không rõ. Khi nặng thì con vật gầy yếu, thiếu
máu, trong phân có lẫn máu và niêm mạc ruột, có khi con vật bị kiết lỵ. Nếu gây
nhiễm cho lợn với lượng trứng T. suis lớn (20.000 - 200.000 trứng), thì triệu
chứng biểu hiện rất nặng: ỉa chảy, hô hấp khó, lợn có thể chết. Lợn bị nhiễm giun
T. suis mãn tính còi cọc, thiếu máu, tăng trọng giảm.
14
Lợn trưởng thành nhiễm giun T. suis thường không thể hiện rõ các triệu
chứng lâm sàng. Lợn con ở 2 - 4 tháng tuổi bị nhiễm giun T. suis xuất hiện các
triệu chứng như: Ỉa chảy, lúc đầu phân lỏng sau phân sệt có nhiều dịch nhầy như
dịch mũi, lẫn máu, mỗi lần thải phân, lợn bệnh phải cong lưng lên để rặn nhưng
phân ra rất ít. Các triệu chứng trên giống như lợn bị bệnh lỵ. Nếu lợn bị bệnh mãn
tính thì còi cọc, thiếu máu, tăng trọng giảm (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2006) [17].
Theo Trần Thị Dân (2008) [3], ruột già khác ruột non ở chỗ: Không có
nhung mao nhưng có vi nhung mao. Về tổng quát, ruột non là nơi tiết nước
còn ruột già là nơi hấp thu nước. Ruột già nguyên vẹn có thể hấp thu bù trừ
nước khi ruột non tiết nhiều. Tuy nhiên, những tổn thương ở ruột già do tác
động của giun T. suis ký sinh sẽ làm giảm khả năng tái hấp thu nước, dẫn đến
tiêu chảy.
* Bệnh tích
Theo Rutter J. M và cs (1974) [37], khi mổ khám những lợn con bị
bệnh T. suis thấy: Viêm ruột tăng lên trong hầu hết các trường hợp, thành ruột
già dày lên và phù thũng, trong ruột chứa chất nhày, máu và các tế bào hoại tử
bong ra từ lớp niêm mạc.
Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [29], xác lợn chết gầy, có nhiều giun
T. suis ở ruột già (nhất là manh tràng). Một số giun vẫn cắm sâu đầu vào niêm
mạc ruột. Trên niêm mạc ruột có nốt loét to bằng hạt đậu xanh. Khi bị nhiễm
nặng, toàn bộ manh tràng xuất huyết màu hồng sẫm. Niêm mạc ruột bị bong ra.

của dung dịch muối NaCl bão hòa (D = 1,18 - 1,2) lớn hơn tỷ trọng của trứng
giun T. suis, do đó trứng sẽ nổi lên trên, ta có thể tìm thấy trứng giun T. suis
dưới kính hiển vi (độ phóng đại 100 lần hoặc 400 lần).
- Phương pháp Darling
Nguyên lý chung của phương pháp này là dựa trên sự chênh lệch về tỷ
trọng giữa dung dịch NaCl bão hòa và trứng giun T. suis nhẹ hơn ra khỏi phân.
Khi đó dùng vòng sắt vớt lớp váng phía trên, ta tìm được trứng giun T. suis.
Cách xét nghiệm mẫu: lấy khoảng 5 - 10 gam mẫu phân của con vật cần
chẩn đoán, cho vào cốc thủy tinh. Cho vào cốc đó lượng nước sạch bằng 10 lần
thể tích khối lượng phân, dùng đũa thủy tinh khuấy tan phân và lọc qua lưới lọc.
Phần cặn bã bỏ đi, dung dịch lọc được cho vào các ống ly tâm và ly tâm với tốc
độ 3000 vòng /phút trong thời gian 3 - 5 phút. Sau đó, đỏ bỏ lớp nước phía trên
và giữ lại cặn trong các ống ly tâm. Tiếp theo cho nước muối bão hòa vào các
16
ống ly tâm, đậy nắp miệng ống và lắc đều cho cặn hòa đều trong dung dịch, tiến
hành ly tâm lần 2 với tốc độ và thời gian như trên. Dùng lồng vòng sắt vớt lớp
váng nổi trên bề mặt, đặt lên phiến kính sạch và soi dưới kính hiển vi tìm trứng
giun T. suis.
- Phương pháp Cherbovich
Phương pháp này hoàn toàn giống phương pháp Darling, chỉ khác dung
dịch bão hòa sử dụng ở đây là MgSO
4
.
- Phương pháp trực tiếp
Dùng đũa thủy tinh lấy 1 mẫu phân của con vật định xét nghiệm, để
mẫu phân lên phiến kính sạch: Nhỏ 1 - 2 giọt glycerin, gạt cặn bã ra 2 đầu
phiến kính. Dung dịch phân được giàn mỏng trên phiến kính và kiểm tra dưới
kính hiển vi tìm trứng giun T. suis.
- Để xác định cường độ nhiễm, có thể dùng phương pháp đếm số
trứng giun T. suis trong buồng đếm Mc. Master nhằm xác định số trứng giun


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status