Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh do giun tròn Trichocephalus suis gây ra ở lợn tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG TRƯỜNG GIANG
Tên đề tài:

“NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH
DO GIUN TRÒN TRICHOCEPHALUS SUIS GÂY RA
Ở LỢN TẠI HUYỆN PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Chăn nuôi - Thú y
Khoa : Chăn nuôi - Thú y
Khóa học : 2010 - 2014 THÁI NGUYÊN - 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Qua quá trình học tập ở nhà trường và 5 tháng thực tập, em đã luôn nhận
được sự động viên và chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, bạn bè. Nay em đã
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp. Thành công này không chỉ do sự nỗ lực của
bản thân mà còn nhờ sự giúp đỡ và công sức của rất nhiều người.
Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban giám hiệu
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú
y, cùng toàn thể các thầy cô giáo đã dạy dỗ và dìu dắt em trong suốt quá trình
học tập cũng như trong thời gian thực tập tốt nghiệp.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS. Nguyễn Thị Ngân -
Giảng viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và NCS. Nguyễn Thị Bích Ngà đã
giúp đỡ và chỉ bảo tận tình cho em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp.
Em xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các cán bộ tại trạm Thú y huyện Phổ Yên,
tỉnh Thái Nguyên và bà con nông dân địa phương đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình thực tập.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và người thân đã
quan tâm, giúp đỡ, động viên em trong suốt thời gian học tập.
Một lần nữa, em xin kính chúc toàn thể thầy, cô giáo sức khỏe, hạnh
phúc và thành đạt. Chúc cán bộ, nhân viên trạm Thú y huyện Phổ Yên, tỉnh
Thái Nguyên công tác tốt. Chúc các bạn sinh viên mạnh khỏe, học tập tốt và
thành công trong cuộc sống.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Hoàng Trường Giang
LỜI NÓI ĐẦU


Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 28

Bảng 4.2: Hiệu lực của một số thuốc tẩy giun T. suis cho lợn thí nghiệm 30

Bảng 4.3: Hiệu lực của thuốc tẩy giun T. suis cho lợn trên thực địa 31

Bảng 4.4: Độ an toàn của thuốc tẩy giun T. suis cho lợn trên thực địa 32

Bảng 4.5: Tác dụng diệt trứng giun T. suis bằng thuốc sát trùng trong điều
kiện phòng thí nghiệm 33

Bảng 4.6: Khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt trứng giun T. suis của công
thức ủ I 34

Bảng 4.7: Khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt trứng giun T. suis của công
thức ủ II 35

Bảng 4.8: Khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt trứng giun T. suis của công
thức ủ III 36

Bảng 4.9: Khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt trứng giun T. suis của công
thức ủ IV 37

Bảng 4.10: Đánh giá khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt trứng giun T. suis
của 4 công thức ủ 38

Bảng 4.11: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun T. suis ở lợn trước khi thử nghiệm
biện pháp phòng bệnh 40

Bảng 4.12. Khối lượng lợn ở ô thử nghiệm và lô đối chứng ở các thời điểm

1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1. Đặc điểm sinh học của giun T. suis lợn 3
2.1.2. Bệnh giun T. suis ở lợn 8
2.2. Tình hình nghiên cứu bệnh giun T. suis ở lợn 19
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 19
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 20
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 21
3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 21
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 21
3.1.2. Vật liệu nghiên cứu 21
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 21
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu 21
3.2.2. Thời gian nghiên cứu 21
3.3. Nội dung nghiên cứu 21
3.3.1. Tình hình nhiễm giun T. suis ở lợn tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 21
3.3.2. Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh giun T. suis cho lợn 21
3.4. Phương pháp nghiên cứu 22
3.4.1. Phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh giun T. suis cho lợn 22
3.4.2. Đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun T. suis cho lợn 27
3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu 27
Phần 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
4.1. Tình hình nhiễm giun T. suis ở lợn tại huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 28
4.2. Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh giun T. suis cho lợn 30
4.2.1. Hiệu lực và độ an toàn của thuốc tẩy trong điều trị bệnh giun T.
suis cho lợn 30
4.2.2. Xác định tác dụng diệt trứng giun T. suis bằng thuốc sát trùng trong
điều kiện phòng thí nghiệm 33

dịch bệnh vẫn thường xuyên xảy ra, gây nên những thiệt hại đáng kể cho
ngành chăn nuôi. Vì vậy, để phát triển ngành chăn nuôi thì bên cạnh việc thực
hiện tốt công tác giống, thức ăn,…còn phải quan tâm đến công tác thú y, đặc
biệt với xu hướng chăn nuôi tập chung, quy mô trang trại như hiện nay. Nước
ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa có một mùa mưa kéo dài từ
tháng 4 đến tháng 6 với khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều đã tạo điều kiện thuận
lợi cho nhiều loài ký sinh trùng phát triển, ký sinh và gây bệnh cho vật nuôi.
Đây chính là vấn đề khó khăn lớn cho ngành chăn nuôi nói chung và ngành
chăn nuôi lợn nói riêng trong công tác phòng trừ và điều trị bệnh ký sinh
trùng. Bệnh ký sinh trùng ở gia súc, gia cầm nói chung và bệnh ký sinh trùng
đường tiêu hoá lợn nói riêng không gây ra các ổ dịch lớn như những bệnh
truyền nhiễm do virus, vi khuẩn. Song, bệnh ký sinh trùng thường diễn ra ở
thể mãn tính, làm lợn sinh trưởng và phát triển chậm, tiêu tốn thức ăn tăng và
2
các chi phí như thuốc điều trị, công chăm sóc nuôi dưỡng cũng tăng. Ngoài ra,
ký sinh trùng ký sinh còn làm giảm sức đề kháng của lợn và là yếu tố mở
đường cho nhiều loại vi khuẩn, virus xâm nhập gây bệnh (Trịnh Văn Thịnh và
cs, 1978) [29].
Huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên có số đông dân số làm nông nghiệp,
chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng trong cơ cấu vật nuôi. Tuy nhiên,
cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống về biện
pháp phòng trị bệnh do giun tròn T. suis gây ra ở lợn tại huyện Phổ Yên, tỉnh
Thái Nguyên.
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của việc khống chế dịch bệnh, nâng cao
năng suất chăn nuôi lợn, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu biện pháp phòng
trị bệnh do giun tròn Trichocephalus suis gây ra ở lợn tại huyện Phổ Yên,
tỉnh Thái Nguyên”.
1.2. Mục tiêu của đề tài
- Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh T. suis cho lợn.
- Bước đầu đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun T. suis cho lợn.

Giống Trichocephalus Schrank, 1788
Loài Trichocephalus suis Schrank, 1788
2.1.1.2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun T. suis lợn
Theo Skrjabin K. I. (1979) [37], thì hình thái cấu tạo của giun tròn T. suis
như sau: Con đực: Dài trung bình 40,35 mm; tối thiểu 33 mm; tối đa 48 mm.
Chiều dài phần trước trung bình 25,3 mm (20 - 30 mm); phần sau 15,1 mm (12 -
19 mm). Tỷ lệ chiều dài phần trước với phần sau 1,68 : 1. Thân phủ lớp cutin, trên
lớp cutin có nhiều rãnh ngang nên lớp cutin có nhiều mấp mô, hình răng nhỏ.
Thực quản kéo dài dọc theo phần mỏng trước thân và chuyển vào ruột ở chỗ ranh
giới giữa phần mỏng và dày của thân. Chiều rộng của phần trước thực quản 0,035
- 0,044 mm; của chỗ chuyển vào ruột 0,074 - 0,092 mm. Thực quản được bao
quanh bởi một hàng tế bào đơn nhân theo dạng móc xích. Ruột kết thúc bởi huyệt
trên phần đuôi. Hệ thống sinh dục gồm những ống dẫn tinh uốn khúc chiếm hầu
hết phần sau

thân. Đuôi con đực vòng xoắn ốc. Giao gai hợp kết thúc bằng một
đỉnh nhọn. Gai có chiều dài nằm trong khoảng từ 1,74 - 2,84 mm. Chỗ rộng
nhất của gai gốc gai dài 0,084 - 0,110 mm. Có bao gai bọc xung quanh và
cùng với gai nhô ra khỏi lỗ huyệt. Bao gai được phủ bởi rất nhiều gai nhỏ,
những gai này xếp theo thứ tự quân cờ. Số lượng hàng gai nhỏ gần nơi
4
chuyển của bao vào thân 24 - 42; ở đầu đối diện với nó số lượng hàng tăng tới
44 - 46. Hình dạng bao gai tròn, căng, dài 0,044 mm. Chiều rộng của bao gai
ở chỗ lồi ra khỏi huyệt tăng lên về kích thước: Chiều rộng chỗ gần huyệt là
0,057 - 0,092 mm; trong khi đó ở chỗ cuối gai 0,079 - 0,159 mm. Tất cả con
đực có một đầu bao gai gập hình cổ tay áo hay là hình bao tay, bao này một
phần hay toàn bộ bao phủ phần bao gai lồi ra khỏi thân. Chiều dài của chỗ gập
0,242 - 0,330 mm; rộng 0,290 - 0,352 mm.
Con cái: Thân dài trung bình 45,55 mm; tối thiểu 38 mm và tối đa 53 mm.
Phần trước mỏng, phần sau dày. Chiều dài phần trước của thân trung bình

bào xếp nối tiếp như chuỗi hạt, phần này chiếm 2/3 chiều dài cơ thể. Phần sau
ngắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản. Giun đực dài 20 - 52 mm
đuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại chỉ có một gai giao hợp rất dài 5 - 7 mm,
gai giao hợp được bọc trong một cái màng có nhiều gai nhỏ bao phủ. Giun cái
dài 39 - 53 mm, đuôi thẳng, âm hộ ở đoạn cuối cùng của thực quản.
2.1.1.3. Vòng đời của giun T. suis lợn
Skrjabin K. I. (1979) [37] cho biết: Giun T. suis phát triển không cần
vật chủ trung gian. Trứng được bài tiết cùng với phân lợn ra môi trường ngoại
cảnh. Ở môi trường thuận lợi, thời gian để trứng phát triển thành dạng cảm
nhiễm từ 3 đến 4 tuần. Trong thời gian này, có thể thấy ấu trùng đã hình thành
hoàn toàn và chuyển động bên trong trứng.
Theo Trịnh Văn Thịnh (1985) [31], Đào Trọng Đạt và cs (1996) [6] thì
tuổi thọ của giun T. suis ở lợn là từ 4 - 5 tháng.
6
Theo Lương Văn Huấn và cs (1990) [8], giun T. suis sống được trong
cơ thể lợn 114 ngày.
Bonner Stewart T. và cs (2000) [36] cho biết: Khi lợn nuốt phải những
ấu trùng giun T. suis này nằm sâu trong niêm mạc 2 tuần, nhô ra khỏi niêm
mạc ở tuần thứ 3 và phát triển thành giun trưởng thành.
Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [20], thời gian hoàn thành vòng đời
của giun tròn T. suis là 30 ngày.
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [18] cho biết: Điều kiện thuận lợi nhất cho
sự phát triển của trứng giun T. suis thành trứng cảm nhiễm ở ngoài môi
trường là nhiệt đột từ 18 - 30
0
C, ẩm độ 80 - 85% sẽ phát triển thành trứng
cảm nhiễm sau 15 - 28 ngày.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [17], vòng đời phát triển của
giun T. suis diễn ra theo sơ đồ sau:


trứng có ấu trùng gần 90 %. Nhiệt độ lên quá 50
o
C làm hỏng phần lớn trứng
trước khi tới giai đoạn trứng cảm nhiễm. Như vậy, trứng giun T. suis và trứng
giun Trichuris trichiura có giới hạn nhiệt độ phát triển thuận lợi ở ngoại cảnh
tương tự nhau.
Đỗ Dương Thái và cs (1975) [25] cho biết, trứng giun T. suis bị hủy hoại
nếu ẩm độ dưới 30 % kéo dài. Mặt khác, trứng giun T. suis có thể bị diệt bởi
những tia tử ngoại của ánh sáng mặt trời. Trong cùng một thời gian dưới tác
dụng của tia tử ngoại thì trứng đã phát triển đến giai đoạn ấu trùng bị diệt nhanh
hơn trứng non.
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [21], trứng giun T. suis bị diệt
dưới tác dụng của ủ phân nhiệt sinh học. Sau 3 - 4 tuần, nhiệt độ hố ủ tăng
lên tới 45
o
C sẽ làm hủy trứng giun T. suis. Tuy nhiên, trứng non có khả
năng chịu đựng các điều kiện nhiệt độ cao hơn trứng cảm nhiễm.
Theo Lehand S. Shapiro (2005) [42], trứng giun T. suis có thể tồn tại rất
lâu (vài năm) trong đất. Sự phát triển của trứng phụ thuộc vào nhiệt độ: Ở 30
o
C
cần 17 ngày, ở nhiệt độ thất hơn, thời gian này kéo dài hơn. Ở 10
o
C trứng ngừng
phát triển nhưng vẫn duy trì khả năng sống. Nhiệt độ từ 45
o
C trở lên diệt được
trứng giun T. suis.
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [18] cho biết: Các chất sát trùng như dung
dịch NaOH 2%, Cresyl 3%, nước vôi 10% diệt được trứng giun T. suis.

(ngoại x nội) và giống lợn nội ở
vùng đồng bằng (Hà Nội, Hà Tây) cho biết: thành phần các loại giun sán
chính ở lợn ngoại, lợn lai và lợn nội khác nhau không nhiều; các loài giun sán
phổ biến ở lợn ngoại và lợn lai cũng là: T. suis, A. suum, O. ransomi…
9
Bùi Quý Huy (2006) [9] cho biết : Giun T. suis ở lợn và giun Trichuris
trichiura ở người có nhiều điểm giống nhau về hình thái, hóa học và kháng
nguyên, do đó bệnh giun T. suis dễ lây sang người.
* Đường lây nhiễm
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [19], bệnh lây nhiễm qua đường tiêu
hóa do lợn nuốt phải trứng cảm nhiễm lẫn trong thức ăn, nước uống.
Lây nhiễm trực tiếp: lợn bệnh bài xuất trứng giun T. suis qua phân,
những trứng này phát tán trên nền chuồng, máng ăn, máng uống. Vì vậy, lợn
khỏe dễ dàng bị nhiễm trứng giun T. suis. Lây nhiễm trực tiếp chủ yếu giữa
lợn bệnh và lợn khỏe trong cùng một ô chuồng. Lợn con nhiễm bệnh chủ yếu
khi bú sữa mẹ, nuốt phải trứng bám ở đầu vú lợn mẹ.
Lây nhiễm gián tiếp: dụng cụ chăn nuôi, người chăm sóc… cũng là tác
nhân mang mầm bệnh. Đây là những yếu tố trung gian góp phần lây nhiễm
giun T. suis từ lợn bệnh sang lợn khỏe, từ ô chuồng này sang ô chuồng khác.
Ngoài ra, ruồi, chuột cũng có thể phân tán trứng giun, gió cuốn trứng
giun theo bụi, mang trứng giun T. suis từ chuồng này sang chuồng khác gây
phát tán mầm bệnh.
* Điều kiện vệ sinh thú y
Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [20]: Các cơ sở chăn nuôi có điều kiện vệ
sinh kém lợn bị nhiễm bệnh với tỷ lệ cao, gây thiệt hại đáng kể cho đàn lợn con.
* Tuổi mắc bệnh
Theo Trịnh Văn Thịnh (1963) [27], bệnh thường xảy ra nặng nề đối với
lợn con dưới 6 tháng tuổi. Lợn nái và lợn trưởng thành nhiễm giun T. suis nhẹ
hơn, ít thể hiện các triệu chứng lâm sàng.
Theo Lương Văn Huấn và cs (1990) [8] cho biết, tỷ lệ nhiễm giun T.

tỉnh miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Ở Hà Nội, lợn bị nhiễm T. suis từ
4,3 - 30 % (ở lứa tuổi từ 2 - 6 tháng) và 0,56 - 7,8 % (ở lứa tuổi trên 6 tháng).
* Phương thức chăn nuôi
Giun tròn T. suis là loài phát triển trực tiếp nên tỷ lệ nhiễm trong đàn
lợn là rất cao, lên đến 100 %. Còn những loài giun sán phải qua ký chủ trung
gian thì tỷ lệ nhiễm phụ thuộc vào điều kiện đất đai, thức ăn trồng ở nước hay
ở cạn, sự tồn tại của ký chủ trung gian và điều kiện vệ sinh chăn nuôi (dẫn
theo Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978) [29].
11
Mổ khám 57 lợn và xét nghiệm 1000 mẫu phân lợn tại xã Yên Nguyên
(Tuyên Quang) cho biết: Tỷ lệ nhiễm các loài giun tròn ở lợn thả rông là 47 %
(dẫn theo Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978) [29].
* Yếu tố stress
Các yếu tố stress (chuồng trại chật chội, thức ăn kém dinh dưỡng, nhiệt
độ, ẩm độ môi trường thay đổi…) đóng vai trò thúc đẩy mức độ và tốc độ lây
lan bệnh giun T. suis ở lợn.
2.1.2.2. Cơ chế sinh bệnh
* Vị trí gây bệnh
Giun T. suis ký sinh và gây bệnh ở ruột già lợn, đặc biệt là manh tràng
và kết tràng (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [13].
* Đường xâm nhập
Bệnh lây nhiễm qua đường tiêu hóa do lợn nuốt phải trứng cảm
nhiễm lẫn trong thức ăn, nước uống (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2009 [19]).
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2012) [17] cho biết: Bệnh giun T. suis lây
nhiễm trực tiếp không qua vật chủ trung gian. Trứng cảm nhiễm xâm nhập
vào cơ thể vật chủ qua đường tiêu hóa do lợn ăn phải thức ăn, nước uống
có lẫn trứng giun T. suis.
* Đường bài xuất mầm bệnh
Lợn mắc bệnh sau một thời gian bài xuất trứng theo phân ra ngoài ngoại
cảnh. Vì vậy, trứng được phát triển rộng rãi ở ngoài tự nhiên và quá trình phát

chứng lâm sàng. Lợn con ở các lứa tuổi 2 - 4 tháng bị nhiễm giun xuất hiện
các dấu hiệu: Ỉa chảy, lúc đầu phân lỏng sau phân sệt có nhiều dịch nhày như
mũi, lẫn máu. Mỗi lần thải phân lợn bệnh phải cong lưng để rặn, nhưng phân
chỉ ra rất ít. Các triệu chứng trên giống như lợn bị kiết lỵ. Nếu không được
điều trị kịp thời lợn con sẽ bị kiệt sức rồi chết sau 6 - 10 ngày. Lợn bị bệnh
mãn tính còi cọc, thiếu máu, tăng trọng giảm.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [17]: Khi nhiễm nhẹ thì triệu trứng
không rõ, khi nhiễm nặng thì con vật ăn kém, gầy yếu, thiếu máu, tiêu chảy,
trong phân có lẫn máu và những mảnh niêm mạc ruột bị bong tróc. Con vật có
khi bị kiết lỵ, đi ngoài liên tục nhưng mỗi lần đi rất ít phân, phân lẫn máu và
chất nhày. Bệnh thường thấy ở lợn con, lợn mẹ và lợn 6 tháng tuổi trong giai
đoạn vỗ béo thì rất ít bị bệnh.
13
* Bệnh tích
Theo Rutter J. M và cs (1974) [44], khi mổ khám những lợn con bị
bệnh T. suis thấy: Viêm ruột tăng lên trong hầu hết các trường hợp, thành ruột
già dày lên và phù thũng, trong ruột chứa chất nhày, máu và các tế bào hoại tử
bong ra từ lớp niêm mạc.
Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [30], khi lợn bị nhiễm bệnh giun T. suis
nặng, toàn bộ manh tràng xuất huyết màu hồng sẫm. Niêm mạc ruột bong ra.
Phạm Sỹ Lăng (2009) [19] mổ lợn bệnh thấy: Niêm mạc ruột bị viêm, xuất
huyết. Trên niêm mạc có nhiều giun trưởng thành cắm sâu vào niêm mạc ruột.
Đào Trọng Đạt và cs (1996) [6] cho biết: Về mặt tổ chức học, giun
T. suis ký sinh gây viêm niêm mạc, thâm nhiễm tế bào, hình thành nhiều
vết loét và tạo nhiều niêm dịch.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [17]: Lợn bị bệnh giun T. suis xác
chết gầy, có nhiều giun T. suis ở ruột già (nhất là manh tràng). Một số giun
T. suis vẫn cắm sâu vào niêm mạc ruột, phải kéo mạnh mới lấy ra được.
Trên niêm mạc ruột có những lỗ loét to bằng hạt đậu xanh. Khi bị nhiễm
nặng, toàn bộ ruột già có giun T. suis ký sinh dày đặc, niêm mạc ruột sần

mẫu phân. Nghiền nát phân trong glycerin và gạt cặn bã ra 2 đầu phiến kính.
Phân được dàn mỏng trên phiến kính và kiểm tra dưới kính hiển vi để tìm
trứng giun tròn.
- Phương pháp phù nổi (Fulleborn)
Nguyên lý: Dựa trên sự chênh lệch về tỷ trọng của dung dịch muối
NaCl bão hòa lớn hơn tỷ trọng của trứng giun. Trứng sẽ nổi lên trên, ta có thể
tìm thấy trứng giun dưới kính hiển vi, độ phóng đại 100 hoặc 400.
Cách pha dung dịch muối bão hòa: Cho 380 g muối NaCl vào 1 lít
nước sôi, khuấy đều đến khi muối không tan được nữa, khi để nguội trên bề
mặt có lớp muối kết tinh là được. Lọc qua vải màn hoặc bông, bỏ cặn.
Cách xét nghiệm phân: Dùng đũa thủy tinh lấy 1 mẫu phân khoảng 5 - 10
gam của con vật cần xét nghiệm, chẩn đoán. Để phân vào cốc (nên dùng cốc
nhựa) cho tiếp nước muối bão hòa vào cốc với lượng thể tích gấp 10 lần khối
lượng phân. Dùng đũa thủy tinh khuấy nát phân và lọc qua phễu lọc vào lọ tiêu
bản. Cặn bã bỏ đi, dung dịch lọc được giữ lại.
15
Sau khi đã để yên từ 15 - 20 phút, dùng vòng vớt lớp váng phía trên
mặt dung dịch để lên phiến kính sạch, đậy lá kính và kiểm tra dưới kính hiển
vi tìm trứng giun tròn.
- Phương pháp Darling
Nguyên lý: Dựa trên sự chênh lệch về tỷ trọng giữa dung dịch NaCl bão
hòa và trứng giun, đồng thời lợi dụng lực ly tâm để phân ly trứng giun T. suis
nhẹ hơn ra khỏi phân. Khi đó, dùng vòng sắt vớt lớp váng phía trên ta sẽ tìm
được trứng giun.
Cách xét nghiệm: Lấy khoảng 5 - 10 gam phân của con vật cần chẩn
đoán, để vào một cốc nhựa. Cho vào đó một lượng nước sạch gấp khoảng 10 lần
thể tích khối lượng phân, dùng đũa thủy tinh khuấy tan phân và lọc qua phễu lọc
vào các ống ly tâm, cặn bã bỏ đi. Sau đó ly tâm dung dịch phân với tốc độ 3000
vòng /phút từ 3 - 5 phút. Đổ bỏ lớp nước phía trên và giữ lại cặn trong các ống ly
tâm. Sau đó cho nước muối bão hòa váo ống ly tâm bịt miệng ống và lắc đều cho

cũng như trong cơ thể vật chủ.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [18], để phòng bệnh T. suis cần thực
hiện tốt các biện pháp sau:
Vệ sinh chuồng trại và khu vực xung quanh chuồng nuôi để hạn chế sự
phát tán trứng giun, kết hợp với sử dụng hóa chất phun vào chuồng trại theo định
kỳ như: Dung dịch NaOH 2 %, Cresyl 3 %, nước vôi 10 % để diệt trứng giun.
Việc phòng bệnh giun T. suis nói riêng và các bệnh ký sinh trùng nói
chung có ý nghĩa rất quan trọng. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả trong việc
phòng ngừa bệnh T. suis, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn, giảm
thiệt hại kinh tế chúng ta cần thực hiện tốt các biện pháp sau:
- Vệ sinh chuồng trại, thiết bị sạch sẽ. Không sử dụng chung các dụng
cụ chăn nuôi khi chưa qua khử trùng. Cơ sở chăn nuôi phải được xây ở nơi
cao ráo, có nhiều ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp. Chuồng trại khi xây dựng
phải đảm bảo đông ấm, hè mát.
- Ở các cở sở bị ô nhiễm, có thể sử dụng những hóa dược đặc hiệu tẩy
dự phòng cho lợn nái trước khi sinh và cho lợn từ 2 - 4 tháng.
- Chất thải từ đàn gia súc phải được thu gom ủ phân để diệt trứng giun.
Hiện nay có hai phương pháp ủ đó là ủ yếm khí (biogas) và ủ hiếu khí (ủ phân
compost), khi ủ phân nhiệt độ trong hố ủ có thể lên đến 75
o
C làm cho trứng
giun sán bị chết.
- Thường xuyên có biện pháp tiêu diệt côn trùng, chuột và động vật
hoang dã vì chúng là những động vật môi giới mang mầm bệnh phát tán trong
tự nhiên.
- Không nuôi chung lợn ở nhiều lứa tuổi khác nhau trong cùng một khu vực.
- Thức ăn phải đảm bảo về chất lượng, nước uống sạch sẽ.
- Có kế hoạch tẩy giun T. suis định kỳ cho lợn.

Trích đoạn Bước đầu đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun T.sui sở lợn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status