ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN THỊ THƯƠNG Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH DO GIUN TRÒN
OESOPHAGOSTOMUM SPP. GÂY RA TRÊN LỢN TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH
TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ DÙNG THUỐC ĐIỀU TRỊ” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Chăn nuôi Thú y
Khoa : Chăn nuôi Thú y
Lớp : 42 - CNTY - NO1
Khoá học : 2010 – 2014
Giáo viên hướng dẫn : TS. Lê Minh
Thái Nguyên, năm 2014
LỜI CẢM ƠN
Qua quá trình học tập lý thuyết tại trường và 6 tháng thực tập tốt nghiệp
< : Nhỏ hơn
> : Lớn hơn
O. dentatum :Oesophagostomum dentatum
O. longicaudum :Oesophagostomumlongicaum
cm : Centimét
cs : Cộng sự
kg : Kilogam
KL : Khối lượng
m
2
: Mét vuông
m
3
: Mét khối
mg : Miligam
ml : Mililít
mm : Milimét
Nxb : Nhà xuất bản
TT : Thể trọng
TN : Thí nghiệm DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1. Thực trạng phòng chống bệnh ký sinh trùng nói chung và
bệnh Oesophagostomosis cho lợn ở huyện Phú Bình, tỉnh
Thái Nguyên. 29
Bảng 4.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn Oesophagostomum spp
ở lợn tại một số xã 31
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1. Loài O. dentatum 5
Hình 2.2. Loài O. longicaudum 5
Hình 2.3. Giun O. dentatum 5
Hình 2.4. Trứng giun O. dentatum 5
Hình 4.1. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn Oesophagostomum spp. ở
lợn tại một số xã. 31
Hình 4.2. Biểu đồ cường độ nhiễm giun tròn Oesophagostomum spp.
tại các địa phương 33
Hình 4.3. Đồ thị tỷ lệ nhiễm giun tròn Oesophagostomum spp. ở lợn
theo tuổi. 36
Hình 4.4. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn Oesophagostomum spp. ở
lợn theo giống lợn 37
Hình 4.5. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn Oesophagostomum spp. theo
các tháng. 39
Hình 4.6. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn Oesophagostomum spp. theo
phương thức chăn nuôi 41 MỤC LỤC
trang
Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục đích nghiên cứu 1
1.3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
1.3.1. Ý nghĩa khoa học 2
3.4.3. Phương pháp thu thập, xét nghiệm mẫu 24
3.4.4. Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm giun tròn Oesophagostomum
spp. 25
3.4.5. Phương pháp xác định cường độ nhiễm giun tròn
Oesophagostomum spp 25
3.4.7. Phương pháp xác định độ an toàn và hiệu lực của thuốc trị
Oesophagostomosis. 26
3.4.8. Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh do Oesophagostomum spp.
gây ra ở lợn 26
3.5. Phương pháp xử lý số liệu 27
3.5.1. Một số công thức tính tỷ lệ 27
3.5.2. Một số tham số thống kê 27
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1. Đặc điểm dịch tễ bệnh Oesophagostomosis ở lợn tại huyện Phú
Bình, tỉnh Thái Nguyên 29
4.1.1. Thực trạng phòng chống bệnh cho lợn ở huyện Phú Bình, tỉnh
Thái Nguyên 29
4.1.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn Oesophagostomum spp. ở lợn
tại một số xã của huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 30
4.1.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn Oesophagostomum spp. theo
tuổi lợn 33
4.1.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn Oesophagostomum spp. theo
giống lợn 36
4.1.5. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn Oesophagostomum spp. theo
các tháng theo dõi tại một số xã 38
4.1.6. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn Oesophagostomum spp. theo
phương thức chăn nuôi 39
4.2. Nghiên cứu sự ô nhiễm của trứng giun tròn Oesophagostomum spp.
ở ngoại cảnh 42
4.3. Nghiên cứu biểu hiện triệu chứng lâm sàng của lợn mắc bệnh
truyền nhiễm, song bệnh ký sinh trùng thường diễn ra ở thể mãn tính, làm lợn
sinh trưởng và phát triển chậm, tiêu tốn thức ăn tăng, các chi phí như thuốc
điều trị, công chăm sóc nuôi dưỡng cũng tăng.
Trong các bệnh ký sinh trùng, bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp.
gây ra ở lợn phân bố ở hầu hết các vùng miền, đặc biệt là ở các tỉnh miền núi
phía Bắc. Tuy không làm cho lợn chết nhiều nhưng giun tròn Oesophagostomum
spp. làm cho lợn gầy yếu, giảm tăng trọng, gây thiệt hại đáng kể về kinh tế cho người
chăn nuôi lợn.
Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn ở Thái Nguyên phát triển khá
mạnh. Tuy nhiên, việc phòng trị bệnh ký sinh trùng, đặc biệt là bệnh do giun tròn
Oesophagostomum spp. còn ít được chú ý. Xuất phát từ nhu cầu cấp bách của thực
tế chăn nuôi lợn ở tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một
số đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp. gây ra trên lợn tại
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và dùng thuốc điều trị”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh do giun tròn Oesophagostomum
spp. gây ra ở lợn tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị.
2
1.3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ bệnh
do giun tròn Oesophagostomum spp. gây ra, góp phần cho việc nghiên cứu các
biện pháp phòng và điều trị Oesophagostomosis ở lợn, từ đó đề xuất quy trình
phòng chống bệnh cho lợn.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi
cách phòng trị bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp. gây ra, nhằm hạn chế
tác hại cho lợn, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi và thúc đẩy ngành chăn
nuôi lợn phát triển.
Giống Oesophagostomum Molin, 1861
Loài Oesophagostomum dentatum Rudolphi, 1803
Loài Oesophagostomum longicaudum Goodey, 1925
2.1.1.2. Đặc điểm hình thái và cấu tạo giun tròn Oesophagostomum spp.
Đề cập đến hình thái và cấu tạo giun kết hạt, Skrjabin K. I. và cs (1963)
[30] cho biết:
Loài O. dentatum: Dài từ 7 - 14 mm, đầu được giới hạn với thân rõ rệt
bởi ngăn bụng sâu. Bao miệng dài tới thực quản hình đinh ghim. Con đực có
túi đuôi, hai gai giao hợp bằng nhau dài 0,90 - 0,94 mm. Con cái âm hộ nằm
gần hậu môn, hậu môn ở cách mút đuôi 0,255 - 0,265 mm.
4
Loài O. longicaudum: Con đực dài 8,8 - 9,6 mm. Con cái dài 8 - 11 mm,
đuôi rất dài và thon, nhọn. Hậu môn nằm cách mút đuôi 0,453 - 0,543 mm. Âm
hộ cách đuôi 0,906 - 0,951 mm.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [12]: Giun O. dentatum là loài giun tròn
nhỏ, không có cánh đầu. Giun đực có kích thước 7,6 - 8,8 x 0,35 - 0,38 mm, có túi
đuôi, có hai gai giao hợp dài 0,792 - 1,037 mm. Giun cái dài 7,8 - 12,5 x 0,38 - 0,43
mm; đuôi dài 0,405 - 0,430 mm. Âm hộ ở trước hậu môn, cách hậu môn 0,208 -
0,388 mm, dài 0,1 - 1,15 mm hơi xuyên vào cơ quan thải trứng. Trứng hình ovan,
kích thước 0,056 - 0,071 x 0,032 - 0,045 mm.
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9] cho biết: Các loài thuộc giống
Oesophagostomum spp. có đặc điểm hình thái chung là: Túi miệng hình ống rất nhỏ,
quanh miệng có một bờ gồ lên hình đĩa, có các tua ở quanh miệng, có rãnh cổ; phía
trước rãnh cổ biểu bì nở ra tạo thành túi đầu, sau rãnh cổ có gai cổ, giun đực có túi
đuôi và một đôi gai giao hợp dài bằng nhau, âm hộ giun cái ở gần hậu môn.
Loài O. dentatum ký sinh ở ruột già của lợn, là loài giun tròn nhỏ, không có
cánh đầu, có 9 rua ngoài và 18 rua trong. Túi đầu to, gai cổ ở hai bên chỗ phình to
của thực quản. Giun đực dài 8 - 9 mm, rộng 0,14 - 0,37 mm, có túi đuôi, có 2 gai giao
hợp bằng nhau dài 1 - 1,14 mm. Giun cái dài 8 - 11,2 mm, âm đạo dài 0,1 - 0,15 mm,
nằm gần hậu môn, hơi xuyên vào cơ quan thải trứng. Trứng hình bầu dục, dài 0,060 -
(Nguồn:http://courseware_s/kcxxl)[35] (Nguồn:http://cal.vet.upenn.edu/projects)[36]
6
2.1.1.3. Vòng đời của giun tròn Oesophagostomum spp.
Hagsten (2000) [29] cho rằng: Thực chất của bất kỳ chương trình khống
chế giun sán nào thì việc phá vỡ vòng đời của chúng là cần thiết. Do vậy, hiểu
được chu kỳ (vòng đời) phát triển của giun sán có ý nghĩa rất quan trọng trong
việc phòng chống các bệnh giun sán nói chung và bệnh giun kết hạt nói riêng.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9]: Toàn bộ quá trình phát
triển, thay đổi qua những giai đoạn khác nhau của đời sống ký sinh trùng, kể từ
khi nó là mầm sinh vật đầu tiên, cho đến khi nó lại có khả năng sản sinh ra
mầm sinh vật mới, tạo ra một thế hệ mới thì toàn bộ quá trình đó được gọi là
chu kỳ. Vòng đời giun tròn Oesophagostomum spp. không cần vật chủ trung
gian. Trứng theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ 25 - 27
o
C, sau 10 - 17 giờ nở
thành ấu trùng, qua hai lần lột xác, sau 7 - 8 ngày thành ấu trùng gây nhiễm.
Khi ký chủ nuốt phải ấu trùng này, tới ruột thì ấu trùng chui vào niêm mạc ruột
tạo thành những u kén, lột xác lần thứ ba, tới ngày 6 - 8 thành ấu trùng kỳ IV,
sau đó rời khỏi niêm mạc ruột và lột xác lần nữa và phát triển thành giun
trưởng thành. Thời gian hoàn thành vòng đời của giun O. longicaudum là 50
ngày, giun O. dentatum là 45 - 60 ngày.
Phan Lục (2006) [18] cho biết: Ấu trùng O. dentatum khi vào ruột lợn
chui sâu vào niêm mạc ruột già và hình thành hạt (u kén), trong có ấu trùng.
Sau 23 ngày, ấu trùng chui ra khỏi kén, vào xoang ruột và phát triển thành giun
trưởng thành sau 1,5 - 2 tháng. Tuổi thọ của giun từ 8 - 10 tháng.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [13]: Giun trưởng thành ký sinh trong
ruột già lợn, đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài môi trường. Trứng gặp điều
kiện nhiệt độ 25 - 27
o
Phân 25-27ºC
10-17 giờ
Trứng
Ấu trùng có
sức gây nhiễm
Ruột
Lột xác lần 3
Ấu trùng
kỳ IV
Lột xác lần 4
Rời
khỏi
u kén
Oesophagostomum spp.
trưởng thành
(ký sinh ở ruột già lợn)
Ấu trùng
Qua 2
lần lột
xác
Ký chủ
nuốt
phải
Hình 2.5. Sơ đồ vòng đời giun tròn Oesophagostomum spp.
8
2.1.1.4. Sự phát triển và sức đề kháng của trứng giun tròn Oesophagostomum
spp. ở ngoại cảnh
o
C), trong
trứng ấu trùng phát triển rất nhanh, chỉ qua 16 - 18 giờ nở ra và vào môi trường
bên ngoài. Ở nhiệt độ cao 45 - 50
o
C trứng bị chết, còn ở nhiệt độ thấp 3
o
C
trứng không phát triển.
2.1.1.5. Khả năng sống của ấu trùng cảm nhiễm (L
3
) ở ngoại cảnh
Theo Oparin P. G. (1958): Ấu trùng gây nhiễm của giun tròn
Oesophagostomum spp. có thể duy trì khả năng sống ở môi trường bên ngoài 13
tháng (dẫn theo Phan Địch Lân và cs, 2002) [14].
9
Nghiên cứu về ấu trùng cảm nhiễm của giun tròn Oesophagostomum spp.
người ta thấy sức đề kháng của nó với nhiệt độ khá cao: Ở - 15
o
C, 93% ấu trùng cảm
nhiễm sau 24 giờ có khả năng hoạt động trở lại khi đưa về nhiệt độ môi trường xung
quanh. Các ấu trùng này cũng có thể sống sót trong môi trường axit được tổng hợp
nhân tạo tương tự như môi trường axit trong dạ dày. (Pit D. S. S. và cs, 2000) [31].
Skrjabin K. I. và cs (1963) [30] cho biết: Ấu trùng cảm nhiễm
Oesophagostomum spp. sống lâu hơn ở môi trường ẩm thấp, súc vật nhiễm
bệnh này chủ yếu trên đồng cỏ ẩm ướt và khi uống nước ở những ao, đầm nhỏ
cũng như máng nước lâu ngày không cọ rửa. Những ấu trùng cảm nhiễm có
sức đề kháng với nhiệt độ cao và nhiệt độ thấp, với sự làm khô và với tác động
của các nhân tố hoá học tốt hơn so với ấu trùng của các giai đoạn trước. Ngoài
ra, ấu trùng cảm nhiễm có khả năng di chuyển theo hướng thẳng đứng hay nằm
Oesophagostomum spp. theo tuổi lợn như sau:
Lợn < 2 tháng tuổi : 46,9%
Lợn 3 - 4 tháng tuổi : 67,4%
Lợn 5 - 6 tháng tuổi : 72,1%
Lợn > 8 tháng tuổi : 73,3%
Lợn con có tỷ lệ nhiễm giun tròn Oesophagostomum spp. thấp và cường
độ nhiễm nhẹ, ở lợn con bị nhiễm bệnh không có nhiều u kén ở ruột. Ở lợn lớn
tỷ lệ nhiễm cao và cường độ nhiễm nặng. Khi lợn lớn bị bệnh có rất nhiều u
kén ở ruột.
Phan Lục và cs (2000) [17] nhận xét: Lợn nuôi thả rông nhiễm hầu hết các
loại ký sinh trùng. Đối với lợn nuôi nhốt, gần như rất ít nhiễm những ký sinh trùng
có vật chủ trung gian. Loài giun tròn Oesophagostomum spp. có thể hoàn thành
vòng đời ngay trong chuồng đối với lợn nuôi nhốt, nhưng khả năng này phụ thuộc
trực tiếp vào mức độ vệ sinh sạch sẽ của chuồng trại. Tác giả cho biết, giun tròn
Oesophagostomum spp. có nhiều ở lợn trưởng thành nuôi sinh sản.
Theo Phan Địch Lân và cs (2002) [14]: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun
tròn Oesophagostomum spp. phụ thuộc vào phương thức chăn nuôi. Tỷ lệ nhiễm
giun kết hạt lợn cao ở vụ hè - thu và giảm đi ở vụ đông - xuân.
Qua nghiên cứu các tác giả cho biết, lợn bị nhiễm giun sán khi được nuôi
ở cả ba tình trạng vệ sinh thú y tốt, trung bình và kém. Tuy nhiên, tỷ lệ và cường
độ nhiễm tăng lên rõ rệt trong tình trạng vệ sinh thú y kém. Vệ sinh thú y kém là
điều kiện thuận lợi để ký sinh trùng và vi khuẩn gây bệnh đường tiêu hoá nhiễm
vào cơ thể lợn, gây tiêu chảy (dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2009) [11].
2.1.3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh
* Đặc điểm bệnh lý của bệnh
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9], tác động của ký sinh trùng
lên cơ thể ký chủ có nhiều mặt:
11
- Tác động cơ giới: Hầu hết các ký sinh trùng đều gây lên những biến
loạn cơ giới, ngăn trở ít hay nhiều khí quan mà nó xâm nhập; hoặc làm tắc,
12
các hạt, ấu trùng hoặc ở trạng thái tự do (chui vào chưa được bao lâu), hoặc
trong những kén (già hơn); những hạt này có thể ăn sâu vào lớp cơ của ruột.
Qua thời gian nhất định, ấu trùng từ hạt chui vào ruột. Sau khi ấu trùng chui ra
khỏi hạt, ở chỗ chúng cư trú tạo thành những chấm sẹo.
Trong thời gian phát triển hạt, ở thành ruột xuất hiện triệu chứng bệnh (cơn
đau do loét). Cùng với sự thối rữa các hạt (vào ngày thứ 7 sau khi cảm nhiễm), ấu
trùng chui ra khỏi hạt để vào ruột, lợn bị đau ở vùng bụng, gầy còm, bỏ ăn, ỉa chảy.
Nếu có số lượng lớn ấu trùng ra khỏi kén thì đôi khi lợn tự khỏi bệnh. Trường hợp
ngược lại, bệnh chuyển sang thể mạn tính. Một số hạt có thể bị vỡ ra từ phía tương
mạc ruột, trong những trường hợp này bệnh trở nên phức tạp hơn do viêm xơ hoá,
hay có mủ ở màng bụng, có thể làm lợn bị chết.
Sức gây bệnh của giun trưởng thành sống trong ruột ít hơn. Chúng có khả
năng gây viêm cata, niêm mạc ruột phủ kín chất nhầy đặc, bên trong là giun tròn
Oesophagostomum spp. Ở vật mắc bệnh do giun tròn Oesophagostomum spp.
trưởng thành thấy có hiện tượng ỉa chảy xen lẫn từng thời gian.
* Triệu chứng lâm sàng của bệnh
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9], Phan Lục (2006) [18], Chu
Thị Thơm và cs (2006) [25], Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [13], lợn bị bệnh
Oesophagostomosis thể hiện hai giai đoạn:
- Giai đoạn ấu trùng chui vào niêm mạc ruột gây triệu chứng cấp tính: Ỉa
chảy, phân có chất nhầy, đôi khi có máu tươi, có một số ít con nhiệt độ tăng
cao, bỏ ăn, gầy còm, thiếu máu, niêm mạc nhợt nhạt, ỉa chảy kéo dài làm con
vật gầy dần rồi chết.
- Giai đoạn giun trưởng thành gây triệu chứng mạn tính, có từng thời kỳ
con vật kiết lị, chậm lớn, gầy còm. Các triệu chứng khác không rõ lắm.
Skrjabin K. I. và cs (1963) [30] cho biết: Oesophagostomosis tiến triển
ở thể cấp tính và mạn tính. Theo dẫn liệu của Oparin, thể thứ cấp có liên quan
tới sự xâm nhập của hàng loạt ấu trùng vào thành ruột, và sau đó lại quay về
ruột. Thể mạn tính có liên quan tới sự ký sinh của giun trưởng thành. Tuy
thành ruột sau 2 ngày nhiễm bệnh. Sau 17 ngày, đa số ấu trùng chui ra khỏi hạt
và vào ruột ở giai đoạn phát triển thứ tư. Sau 35 ngày cảm nhiễm, thấy có hiện
tượng mất các hạt, ở chỗ hạt chỉ thấy mô niêm mạc ruột dày lên. Giun O.
longicaudum đạt đến giai đoạn trưởng thành sau 50 ngày cảm nhiễm.
14
2.1.4. Các biện pháp phòng và điều trị
* Biện pháp phòng bệnh
Theo quan điểm của Skrjabin K. I. và cs (1963) [30], muốn thanh toán
bệnh giun sán phải phòng bệnh có tính chất chủ động. Dùng tất cả mọi phương
pháp vật lý (ánh sáng, nhiệt độ), cơ giới, hoá học, sinh vật học, để tiêu diệt
giun sán trên cơ thể ký chủ, ở ngoại cảnh, ở tất cả các giai đoạn phát dục
(trứng, ấu trùng, giun sán trưởng thành).
Phạm Hữu Doanh và cs (1995) [2] cho biết: Lợn rất mẫn cảm với bệnh
ký sinh trùng, vì vậy chỉ cho lợn ăn rau bèo khi đã rửa sạch sẽ và định kỳ tẩy
giun sán bằng các thuốc đặc hiệu. Thức ăn, nước uống phải luôn luôn sạch.
Biện pháp hữu hiệu để phòng chống bệnh giun sán ở gia súc là biện
pháp phòng trừ bệnh tổng hợp, nghĩa là ở những vùng sinh thái nhất định, đồng
thời sử dụng nhiều biện pháp có hiệu quả đối với tất cả các giai đoạn phát triển
của giun sán, ở môi trường cũng như trong cơ thể vật chủ (Nguyễn Thị Lê và
cs, 1996) [16].
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [8], biện pháp phòng bệnh tổng hợp
đối với các bệnh giun tròn nói chung ở lợn gồm:
- Diệt căn bệnh trong cơ thể lợn: Định kỳ tẩy giun cho lợn. Mỗi năm tẩy
mấy lần là tuỳ điều kiện của từng vùng và từng loại lợn.
- Diệt căn bệnh bên ngoài: Trứng giun khuếch tán ra bên ngoài là
nguyên nhân chủ yếu làm căn bệnh lan tràn, cần thực hiện các biện pháp sau:
+ Có thể diệt trứng giun bằng cách ủ phân hoặc các biện pháp lý hoá. Các loại
thuốc hoá học diệt trứng giun có hiệu quả như: Creolin, axit cacbonic kiềm tính,
+ Thường xuyên quét dọn phân và rơm rác ở chuồng lợn, thay ổ cho lợn,
máng ăn, dụng cụ chăn nuôi cần định kỳ sát trùng. Đối với sân chơi có thể hót
trùng, giữ vệ sinh thức ăn, nước uống. Nếu cơ sở chăn nuôi có bệnh thì cần cho
gia súc uống thuốc phòng bệnh. Uống liên tục liều nhỏ Phenothiazin có thể hạn
chế giun kết hạt đẻ trứng.
Phan Lục (2006) [18], Chu Thị Thơm và cs (2006) [25] cho biết: Để
phòng bệnh giun kết hạt phải thường xuyên vệ sinh chuồng trại, dụng cụ chăn
nuôi. Phân, rác ủ đúng kỹ thuật để diệt trứng giun. Định kỳ tẩy giun cho lợn.
Tăng cường chăm sóc, nuôi dưỡng để gia súc có sức đề kháng cao với bệnh tật.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [13], để phòng bệnh
Oesophagostomosis cho lợn, cần áp dụng các biện pháp như: Tẩy giun định kỳ 3
- 4 lần/năm cho đàn lợn bằng một trong các thuốc Levamisole, Ivermectin,
Phenothiazin; giữ vệ sinh chuồng trại và môi trường; ủ phân diệt trứng giun.
16
* Biện pháp điều trị
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9] cho biết: Chữa bệnh ký sinh trùng
phải đạt được 3 yêu cầu:
- Trước hết phải tiêu diệt ký sinh trùng, dùng thuốc tẩy trùng cho vật
nuôi. Phải dùng thuốc hướng ký sinh trùng, tức là độc với nó và không độc với
ký chủ. Nên chọn thuốc nào có hiệu lực nhất đối với ký sinh trùng, đồng thời ít
nguy hiểm nhất đối với ký chủ, rẻ tiền và dễ dùng nhất.
- Phải ngăn chặn không cho con vật ốm tái nhiễm, đưa ngay con vật ra
khỏi nơi có bệnh, tiêu độc chỗ đó trước khi cho súc vật vào lại.
- Phải làm cho súc vật ốm hồi sức: Cho ăn nhiều, đủ dinh dưỡng, vitamin
và muối. Có khi dùng thuốc bổ, thuốc kích thích, tiếp máu. Giữ vệ sinh tốt,
chữa các triệu chứng.
Có nhiều loại thuốc có tác dụng phòng trị giun tròn đường tiêu hoá.
Thuốc có tác dụng làm cho giun bị tê liệt, làm tăng co bóp ruột, làm ngưng sự
phát triển của trứng và ấu trùng, ức chế phong toả quá trình trao đổi chất và tạo
ATP, từ đó làm cho ký sinh trùng bị tê liệt, cộng với tác động kích thích nhu
động ruột của thuốc, từ đó đẩy giun ra ngoài. Phạm Đức Chương và cs (2003)
[1] cho biết, các thuốc thường được dùng để điều trị bệnh ký sinh trùng đường
Lương Văn Huấn (1994) [3] nghiên cứu mức độ nhiễm giun sán ở 3 khu
vực miền Trung, Đông và đồng bằng Sông Cửu Long cho biết tỷ lệ nhiễm giun
O. dentatum ở 3 vùng tương ứng là: 32,1%; 34,9% và 28,6%.
Nguyễn Đăng Khải (1996) [5] đã mổ khám toàn diện cơ quan tiêu hoá
của 900 lợn ở 6 tỉnh, thành thuộc miền Tây Nam Bộ và miền Đông Nam Bộ,
kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm các loài giun sán ở lợn khá cao: Ascaris suum
31,04%; O. dentatum 23,88% và Trichocephalus suis 10,99%.
Nghiên cứu hiệu lực của các thuốc tẩy giun tròn trên lợn, Phan Lục và cs
(2000) [17] đánh giá: Thuốc Levamisole, Pyrantel, Dichlorvos, Feben dazole,
Ivermectin có hiệu quả rất mạnh (++++) đối với giun kết hạt (Oesophagostomosis);
thuốc Piperazine có hiệu quả một phần (+) và thuốc Thiabendazole không có hiệu
quả trong điều trị bệnh Oesophagostomosis ở lợn (-).
Phạm Đức Chương và cs (2003) [1] cho biết: Thuốc Thiophanate dùng liều
một lần 50 - 100 mg/kg TT có tác dụng khá tốt với các giai đoạn trưởng thành và ấu
trùng giun kết hạt, giun tóc, giun dạ dày và giun lươn ký sinh ở lợn.