Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây ra ở trâu, bò tại huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên và đề xuất biện pháp phòng, trị bệnh - Pdf 13

1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong những năm qua, Việt Nam đã thực hiện nhiều chính sách phát
triển nông nghiệp, nông dân các địa phương hăng hái sản xuất xóa đói giảm
nghèo, làm giàu trên mảnh đất của mình. Nhờ vậy, nông nghiệp đã có nhiều
thành tựu góp phần thực hiện nhiệm vụ xây dựng đất nước. Ngành chăn nuôi
ngày càng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, tổng đàn gia súc
ngày càng tăng, nhiều giống mới được nhập vào nuôi thuần hóa để cải tạo đàn
có hiệu quả. Các kết quả nghiên cứu khoa học thú y đã được gắn liền với việc
phát triển chăn nuôi trâu, bò và ngày càng được thực tế sản xuất tiếp thu, áp
dụng hoàn chỉnh hơn.
Mặt khác, Việt Nam đã là thành viên của OIE, do đó đòi hỏi về trình độ
khoa học kỹ thuật trong chẩn đoán xác định các bệnh cho vật nuôi cũng tương
đương với các nước khác. Phương pháp chẩn đoán, ngoài vấn đề có độ chính
xác cao được thế giới công nhận, còn đòi hỏi nhanh chóng về thời gian.
Tuy nhiên, cuộc đấu tranh chống lại bệnh nói chung và những bệnh do
ký sinh trùng nói riêng của con người và thế giới động vật không bao giờ là
kết thúc. Điều kiện tự nhiên và môi trường sống của con vật luôn luôn thay
đổi, nhiều khi trở nên bất lợi cho một mầm bệnh nên chúng bị mất đi. Nhưng
ngược lại cũng có thể căn nguyên gây bệnh lại thích nghi với hoàn cảnh mới
nên có những bệnh tưởng như đa được dập tắt lại bùng nổ. Do vây, bệnh dịch
trên đàn gia súc vẫn thường xuyên xảy ra, gây nhiều thiệt hại cho người chăn
nuôi. Ngoài những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như: Tụ huyết trùng, Lở
mồm long móng, Leptospira; thì bệnh do tiên mao trùng (Tripanosoma
evansi) gây ra trên đàn trâu, bò cũng gây thiệt hại rất lớn.
Bệnh do Trypanosoma (Trypanosomiasis) là bệnh truyền lây giữa người
và gia súc do ký sinh trùng đơn bào (Protozoa) lớp trùng roi (Flagellata) gây ra.
Có nhiều loài thuộc giống Trypanosoma, như: Trypanosoma brucei, Trypanosoma
cruzi, Trypanosoma evansi, Trypanosoma congolense, Trypanosoma gambiense,

điều kiện chăn nuôi.
- Lựa chọn phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng có hiệu quả, phù hợp
với điều kiện miền núi.
2
2
3
- Xây dựng quy trình phòng, trị bệnh góp phần hạn chế những thiệt
hại do bệnh tiên mao trùng gây ra cho đàn trâu, bò thuộc huyện Đồng Hỷ -
tỉnh Thái Nguyên.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ của
bệnh tiên mao trùng do T. evansi gây ra và quy trình phòng chống bệnh tiên
mao trùng ở trâu, bò.
- Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp
dụng quy trình phòng, trị bệnh tiên mao trùng nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và
thiệt hại do T. evansi gây ra; góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi; thúc đẩy
ngành chăn nuôi trâu, bò phát triển.
3
3
4
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Bệnh tiên mao trùng được Blanchard (1888) phát hiện đầu tiên ở Việt Nam.
Sau đó, bệnh được xác định là phổ biến ở hầu hết các tỉnh thành trong cả
nước. Bệnh do loài tiên mao trùng Trypanosoma evansi gây ra. Trâu, bò, ngựa
mắc bệnh dễ chết hoặc thiếu máu, suy nhược, giảm hoặc mất khả năng sinh
sản và sức sản xuất.

Loài Trypanosoma (T) brucei
Loài Trypanosoma (T) gambience
Loài Trypanosoma (T) rhodesiense
Loài Trypanosoma (T) equiperdum
Giống phụ Pycnomonas Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (P) suis
Giống phụ Trypanosoma Gruby, 1843
Loài Trypanosoma evansi (Steel, 1885)
Trong các loài tiên mao trùng trên, có 7 loài được tổ chức dịch tễ
quốc tế (OIE) thông báo là có khả năng gây bệnh cho người và động vật
có vú, đó là: T. brucei, T. congolense, T. cruzi, T. evansi, T. gambiense,
T. siminae, T. vivax.
2.1.1.2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của T. evansi
Tiên mao trùng T. evansi được xếp vào loại đơn hình thái, cơ thể chỉ là
một tế bào, có kích thước nhỏ, chiều dài 18 - 34 μm (trung bình là 25 μm),
chiều rộng 1,5 - 2μm. Cơ thể có hình suốt chỉ mảnh hoặc hình thoi, cuối thân
nhọn. Nhìn chung, cấu trúc cơ bản của T. evansi cũng giống như cấu trúc của
các loài tiên mao trùng khác thuộc họ Trypanosomatidae. Cấu trúc từ ngoài
vào trong được chia thành 3 phần chính:
- Vỏ: Ngoài cùng là lớp vỏ dày 10 - 15 nm, vỏ được chia làm 3 lớp (lớp
ngoài và lớp trong cùng tiếp giáp với nguyên sinh chất dầy hơn lớp giữa). Lớp
vỏ ngoài cùng được cấu tạo từ các phân tử glycoprotein luôn biến đổi (VGS).
Tiếp giáp với lớp trong cùng là 9 cặp vi ống xếp song song dọc theo chiều dài
thân tiên mao trùng. Chính nhờ sự sắp xếp của các cặp vi ống nên tiên mao
trùng có dạng hình suốt chỉ mảnh (Hoare, 1972 [30]; Phạm Sỹ Lăng, 1982 [7];
Nguyễn Quốc Doanh, 1999 [3]).
5
5
6
- Nguyên sinh chất: Gồm lớp trong và lớp ngoài. Trong nguyên sinh

6
7
nguyên bề mặt để né tránh miễn dịch đặc hiệu của vật chủ. Tuy nhiên, Van
Meirvenne (1975) [45] cho rằng sự biến đổi kháng nguyên bề mặt của ký sinh
trùng đã có ngay ở pha đầu tiên của quá trình nhiễm (trước khi xuất hiện đáp
ứng miễn dịch của cơ thể vật chủ). Nhưng cho đến nay, quan điểm về sự biến
đổi kháng nguyên lớp vỏ của tiên mao trùng vẫn chưa được làm sáng tỏ.
* Cơ chế di truyền của kháng nguyên biến đổi
Khi kháng thể đặc hiệu kết hợp với phân tử của kháng nguyên bề mặt
(VSG), làm tiêu tan tiên mao trùng thì đó cũng là nguyên nhân chính thúc đẩy
sự hoạt hoá của gen. Kết quả là các phân tử kháng nguyên VSG được thay đổi
hoàn toàn bằng các phân tử VSG mới. Lúc này, kháng thể đặc hiệu lúc trước
đã không còn tác dụng đối với kháng nguyên mới này.
Theo Barry và Tumer (1991) [27], Vanhamme và cs (1995) [44], các
VSG được mã hoá nhờ các gen chuyên biệt từ kho chứa hàng nghìn các gen
khác nhau, một gen VSG được hoạt hoá một cách chọn lọc, dẫn đến tổng hợp
ra một loại kháng nguyên VSG. Mỗi bên VSG mới tạo ra một loại kháng
nguyên VSG mới. Trong bộ gen của tiên mao trùng tồn tại một số lớn gen
VSG, các gen này sử dụng nhiều cơ chế sắp xếp khác nhau, do vậy tiên mao
trùng đã tạo ra nhiều VSG khác nhau ở gia súc bị bệnh mãn tính. Cơ chế biến
đổi kháng nguyên theo 2 cách: cách thứ nhất là, sử dụng lần lượt các điểm biểu
hiện khác nhau, không có sự sắp xếp của ADN. Các điểm biểu hiện khác nhau
sẽ mang các gen VSG khác nhau, sự luân phiên này dẫn đến sự thay đổi type
kháng nguyên. Cơ chế này quan sát được chủ yếu ở giai đoạn đầu của quá trình
cảm nhiễm. Có lẽ ở giai đoạn đầu này chưa có đáp ứng miễn dịch của vật chủ
đối với VSG, chính điều này không gây ra một cản trở hoạt hoá tự nhiên của
các điểm biểu hiện gen này. Cách thứ hai là, tập hợp lại các đoạn ADN khác
nhau để tái tổ hợp gen, mà việc tái tổ hợp này cho phép thay thế hoàn toàn hoặc
từng phần gen; hoặc việc thay thế diễn ra dựa vào sự chuyển đổi gen chứ
không phải dựa vào tái tổ hợp gen. Trường hợp này được diễn giải như sau:

nhiễm tiên mao trùng cao hơn vùng trung du và miền núi, đặc biệt ở trâu, bò
có nguồn gốc từ miền núi chuyển xuống vùng đồng bằng).
2.1.2.2. Vật chủ và vật môi giới truyền T. evansi
Trong tự nhiên, tiên mao trùng ký sinh ở hầu hết các loài thú nuôi và
thú hoang, thấy nhiều hơn ở trâu, bò, ngựa, trâu bò rừng, hươu, nai, hổ, báo,
sư tử, chó, mèo, lạc đà, voi thỏ, chuột cống, chuột lang, chuột bạch, nhưng
không ký sinh ở người.
8
8
9
Sự lây truyền tiên mao trùng từ trâu, bò ốm sang trâu, bò khoẻ là nhờ
các loài ruồi hút máu (thuộc họ phụ Stomoxydinae) và các loài mòng hút máu
(thuộc họ Tabanidae). Ruồi và mòng hút máu của gia súc bị bệnh, hút luôn cả
tiên mao trùng vào vòi hút, sau đó lại hút máu gia súc khoẻ, trong khi hút máu
sẽ truyền tiên mao trùng từ vòi hút vào máu con vật khoẻ. Sự lây truyền này
mang tính chất cơ học. Như vậy, ruồi và mòng hút máu là những vật môi giới
truyền bệnh tiên mao trùng quan trọng.
Theo Phan Địch Lân (1974) [9], Phan Địch Lân (1994 - 2004) [10],
phần lớn các loài mòng tập trung ở khu vực miền núi và trung du. Trong 53
loài mòng thì có tới 44 loài phân bố ở vùng rừng núi có độ cao dưới 1.000m
so với mặt nước biển, càng lên cao số loài càng ít dần (độ cao trên 1.000m chỉ
có 26 loài). Ở vùng trung du (rừng thưa, độ cao không quá 500m so với mặt
nước biển có 27 loài; vùng đồi trọc chỉ có 9 - 11 loài; vùng rừng núi ven biển
phát hiện chỉ có 8 loài. Những loài mòng phổ biến ở tất cả các vùng là:
Tabanus rubidus, Tabanus striatus, Chrysops dispar, Chrysozoma assamensis.
Những loài mòng chỉ gặp ở vùng núi là: Tabanus flavistriatus,
Tabanus fumifer, Chrysops vander. Miền Bắc nước ta có 4 loài ruồi hút máu,
hai loài phổ biến ở tất cả các vùng là Stomoxys calcitrans và Liperosis
exigua; hai loài chỉ thấy ở những vùng sinh cảnh đặc biệt: loài Bdellolarynx
sanguinolentus (chỉ xuất hiện ở vùng có độ cao dưới 1.000m), loài Stomoxys indica

2.1.2.3. Tuổi vật chủ, mùa mắc T. evansi
Trâu, bò và các loài gia súc khác ở mọi lứa tuổi đều nhiễm tiên mao
trùng và đều phát bệnh, có thể dẫn đến tử vong hoặc suy nhược, thiếu máu,
giảm sức đề kháng, giảm khả năng sinh đẻ và sức sản xuất.
Phan Địch Lân (1994 - 2004) [10] đã tổng hợp kết quả điều tra 3.172
trâu ở các tỉnh đồng bằng: Trâu dưới 3 năm tuổi nhiễm thấp nhất (3,2 - 6,l%),
trâu 3 - 5 tuổi nhiễm cao hơn (6 - 12,7%), trâu 6 - 8 tuổi nhiễm cao nhất (12,9
- 14,8%), trâu trên 9 năm tuổi tỷ lệ nhiễm giảm thấp hơn trâu 3 - 8 năm tuổi.
Phan Văn Chinh (2006) [2] cho biết, tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng cao
nhất ở 4 - 8 năm tuổi (trâu: 12,71%; bò: 5,77%), thấp nhất là trâu, bò dưới 3
năm tuổi (6,92% và 2,31%). Mùa lây lan bệnh thường xảy ra trong các tháng
nóng ẩm, mưa nhiều (từ tháng 4 đến tháng 9). Thời gian này điều kiện sinh
thái thuận lợi cho các loài ruồi, mòng phát triển, hoạt động mạnh, chúng hút
máu súc vật và truyền tiên mao trùng.
Theo Luckins (1988) [32], sự xuất hiện lượng lớn ruồi, mòng trong
mùa mưa nóng ẩm luôn có liên quan đến tình hình dịch tễ bệnh tiên mao trùng
ở trâu, bò, dê, lạc đà. Từ cuối mùa thu, mùa đông và đầu mùa xuân, trâu bò
10
10
11
nhiễm tiên mao trùng phải sống trong điều kiện thời tiết lạnh, thiếu thức ăn
nên sức đề kháng giảm, bệnh thường phát ra vào thời gian này và trâu bò bị
đổ ngã hàng loạt. Tiên mao trùng có sức đề kháng yếu, dễ chết khi tiếp xúc
với nước cất, cồn và thuốc sát trùng.
2.1.3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của T. evansi
2.1.3.1. Đặc điểm bệnh lý
Khi ruồi trâu, mòng đốt, hút máu và truyền tiên mao trùng vào trâu, bò,
ngựa, tiên mao trùng xâm nhập vào da, gây ra vết viêm trên mặt da. Theo đó,
có thể quan sát được phản ứng viêm ở da của thỏ, cừu, dê và bò gây nhiễm
thực nghiệm tiên mao trùng, kích thước chỗ viêm phụ thuộc vào số lượng tiên

run rẩy, ngã vật xuống). Độc tố cũng phá huỷ hồng cầu, ức chế cơ quan tạo
máu làm cho vật chủ thiếu máu và suy nhược dần. Độc tố còn tác động tới bộ
máy tiêu hoá, gây rối loạn tiêu hoá, làm con vật ỉa chảy. Hội chứng tiêu chảy
thường xảy ra khi xuất hiện tiên mao trùng trong máu con vật bệnh.
Khi tăng lên với số lượng lớn trong máu, tiên mao trùng còn làm tắc
các mao mạch, làm tăng tính thấm thành mạch, dần dần tạo ra các ổ thuỷ
thũng chất keo vàng dưới da.
2.1.3.2. Triệu chứng lâm sàng của bệnh T. evansi ở trâu, bò
Trâu, bò bị bệnh thể hiện các triệu chứng lâm sàng chủ yếu như sau:
- Sốt cao và gián đoạn: Sau 14 - 30 ngày bị ruồi, mòng hút máu truyền
tiên mao trùng, trâu bò thường đột ngột lên cơn sốt (40 - 41,7
0
C) kéo dài 2 - 4
ngày rồi giảm, thời gian sau nhiệt độ lại tăng lên. Thời gian gián đoạn giữa
hai cơn sốt dài hay ngắn tuỳ theo thể trọng con vật. Khi sốt, kiểm tra máu
thường thấy tiên mao trùng.
- Hội chứng thần kinh: Ở một số trâu, bò khi lên cơn sốt còn thể hiện
hội chứng thần kinh như điên loạn, mắt đỏ ngầu, húc đầu vào tường, chạy
vòng quanh kêu rống lên. Trường hợp nhẹ thấy run rẩy từng cơn, mắt trợn
ngược rồi đổ ngã vật xuống, sùi bọt mép giống như trâu bị cảm nắng. Sau 20 -
30 phút con vật lại đứng dậy đi lại được. Những trâu bò mắc bệnh có triệu
chứng lâm sàng như trên thường là mắc bệnh ở thể cấp tính.
Trâu, bò bị bệnh mạn tính thường kéo dài, cơ thể suy yếu, liệt hai chân
sau, nằm tư thế quỳ và không đi lại được. Mặc dù nằm liệt nhưng vẫn ăn và
nhai lại cho đến khi sắp chết.
- Phù thũng dưới da: Phù thũng thường thấy ở vùng thấp của cơ thể như
ở bốn chân (từ khớp khuỷu trở xuống), phần yếm, ngực, bộ phận sinh dục.
12
12
13

13
14
2.1.4. Chẩn đoán bệnh tiên mao trùng
2.1.4.1. Chẩn đoán lâm sàng
Các biểu hiện lâm sàng đặc trưng của bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò,
không phải lúc nào cũng phát hiện được. Rất nhiều gia súc mang bệnh nhưng
khó phát hiện các triệu chứng đặc trưng, nhất là đối với những gia súc mắc
bệnh tiên mao trùng mãn tính. Đối với gia súc mắc bệnh ở thể cấp tính, các
biểu hiện bệnh đặc trưng là sốt cao, bỏ ăn, có triệu chứng thần kinh (điên
loạn) và chết nhanh. Trâu bị bệnh mãn tính có thể thấy triệu chứng: Sốt gián
đoạn, gầy còm, thiếu máu kéo dài, viêm giác mạc, phù thũng ở bụng và chân
sau, chết do kiệt sức (Phạm Sỹ Lăng, 1982 [7]). Triệu chứng sẩy thai có thể
thấy ở trâu, bò bị bệnh tiên mao trùng (Nguyễn Đăng Khải, 1995 [5]).
2.1.4.2. Chẩn đoán thí nghiệm
Có nhiều phương pháp chẩn đoán tiên mao trùng trong phòng thí
nghiệm, mục đích là phát hiện tiên mao trùng trong máu gia súc. Tùy từng
trường hợp bệnh, tuỳ điều kiện mà có thể làm cùng lúc một số phương pháp
hoặc lựa chọn một phương pháp phù hợp và có độ chính xác cao.
* Phương pháp phát hiện tiên mao trùng trực tiếp:
Muốn phát hiện tiên mao trùng trực tiếp, có thể áp dụng những phương
pháp sau:
- Phương pháp xem tươi (Direct smear)
Khi bệnh súc sốt, T. evansi thường xuất hiện trong mao quản ngoại vi.
Vì vậy, nên lấy máu vùng ngoại vi để xem tươi.
Cách làm: Cho 1 giọt máu nhỏ lên phiến kính đã có sẵn 1 giọt chất
chống đông. Đậy la men lên để máu dàn theo la men thành một lớp mỏng. Soi
dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 10 và 10 x 20) để phát hiện tiên mao
trùng sống.
- Phương pháp nhuộm Giemsa tiêu bản máu khô (Romanovsky)
+ Phương pháp giọt dầy: Đặt 1 giọt máu to vào giữa phiến kính, dùng

trí tiếp giáp giữa huyết tương và hồng cầu (độ phóng đại 10 x 10).
Phương pháp này đơn giản, phát hiện tiên mao trùng tốt hơn phương
pháp xem tươi và nhuộm Giemsa. Song, tỷ lệ phát hiện chưa cao.
Với ống Haematocrit trên, có thể thực hiện phương pháp Darkground:
Dùng cưa y tế cắt ống ở vị trí tiên mao trùng tập trung (ranh giới giữa huyết
tương và hồng cầu), nhỏ 1 giọt huyết tương lên phiến kính, đậy la men và
kiểm tra dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 40).
* Phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm:
Đây là phương pháp phổ biến, hiệu quả, chính xác và thường được ứng
dụng nhiều để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở Việt Nam. Phương pháp này
15
15
16
có ưu điểm là chính xác, do trực tiếp phát hiện thấy tiên mao trùng sau khi
nhân chúng lên trong động vật thí nghiệm mẫn cảm. Song, nhược điểm của
phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm là khi cần chẩn đoán nhanh, với
số lượng nhiều và thời gian ngắn thì phương pháp này không thể đáp ứng
được (Lê Ngọc Mỹ và cs, 1994 [13]; Đoàn Văn Phúc và cs, 1994 [24]).
* Phương pháp chẩn đoán huyết thanh học:
Bằng phương pháp huyết thanh học, có thể phát hiện kháng thể hoặc
kháng nguyên tiên mao trùng. Đây là các phương pháp huyết thanh học
đặc hiệu.
- Các phương pháp phát hiện kháng thể kháng tiên mao trùng
Khi tiên mao trùng ký sinh, cơ thể vật chủ sinh ra kháng thể đặc hiệu
chống lại tiên mao trùng. Những phương pháp sau cho phép phát hiện kháng
thể kháng tiên mao trùng trong máu vật chủ:
+ Phương pháp ngưng kết trên phiến kính (SAT: Slice Agglutination Test)
Theo Đoàn Văn Phúc và cs (1989) [22]; Lê Ngọc Vinh (1992) [26],
phương pháp được tiến hành như sau: Hoà tan 1 giọt huyết thanh trâu, bò nghi
mắc bệnh vào 1 giọt nước muối sinh lý trên phiến kính, sau đó cho 1 giọt máu

+ Phương pháp CATT (Card Agglutination Test for Trypanosomiasis)
Đây là phương pháp ngưng kết trực tiếp giữa kháng nguyên và kháng
thể trên bản nhựa, được dùng để phát hiện kháng thể lưu động trong máu
động vật nhiễm bệnh.
Nguyên lý: Kháng nguyên tiên mao trùng đã được nhuộm màu kết hợp
với kháng thể tạo thành những đám kết tủa li ti màu xanh.
Cách tiến hành: Dùng ống hút 2,5ml dung dịch buffer cho vào lọ kháng
nguyên chuẩn đã được nhuộm màu (CATT reagent), lắc đều. Cho vào lọ
kháng nguyên đối chứng (đối chứng dương, đối chứng âm) mỗi lọ 0,5ml dung
dịch buffer, lắc đều. Dùng micropipette pha loãng huyết thanh theo tỷ lệ cần
chẩn đoán (1/8). Cho các mẫu huyết thanh cần chẩn đoán đã được pha loãng
lần lượt vào các vòng tròn của bản CATT, cho kháng nguyên đối chứng vào
hai vòng tròn khác của bản, mỗi loại 1 giọt (tương đương 45µl). Sau đó cho
vào tất cả các vòng tròn trên bản CATT 1 giọt kháng nguyên chuẩn. Dùng que
nhựa trộn đều. Cuối cùng cho lên máy lắc 5 phút (60 - 70 lần/phút) và đánh
giá kết quả.
Ứng dụng phương pháp CATT ở Việt Nam để điều tiết bệnh tiên mao
trùng, Lương Tố Thu và cs (1996) [19] đã cho biết phương pháp này dễ sử
dụng, có độ nhạy, độ đặc hiệu cao. Theo tác giả, ứng dụng IFAT chẩn đoán
các mẫu thu thập ở địa phương cho biết độ nhạy của CATT gần gấp đôi
17
17
18
phương pháp tiêm truyền chuột bạch (độ nhạy CATT 73,75%; tiêm truyền
chuột bạch 40%).
+ Phương pháp kháng thể huỳnh quang gián tiếp IFAT (Indirect
Fluorescent Antibody Test)
Phản ứng này là phản ứng huyết thanh học đặc hiệu có độ nhạy cao,
được ứng dụng rộng rãi trong phòng thí nghiệm và thực địa. Ngoài việc được
dùng làm phản ứng chuẩn để so sánh với các phương pháp huyết thanh khác,

được ứng dụng để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng.
Nguyên lý: Dùng kháng thể hoặc kháng thể kháng Globulin (kháng
kháng thể) có mang một enzym (phosphatase hoặc Peroxydase) được gắn trên
mảnh Fc, cho kết hợp trực tiếp hoặc gián tiếp với kháng nguyên. Sau đó, cho
cơ chất sinh màu vào, cơ chất sẽ kết hợp với enzym và bị enzym phân huỷ tạo
nên màu. So sánh với màu của quang phổ kế sẽ định lượng được mức độ của
phản ứng.
Phương pháp ELISA hiện đang được sử dụng rộng rãi ở các nước trên thế
giới. Ở Việt Nam, Lê Ngọc Mỹ và cs (1994) [13] đã bước đầu chế kháng nguyên
tiên mao trùng và ứng dụng để chẩn đoán bệnh tiên mao trùng ở nước ta.
- Các phương pháp phát hiện kháng nguyên tiên mao trùng
+ Phương pháp ELISA kháng nguyên (Ag - ELISA)
Đây là phương pháp sử dụng phản ứng ELISA kháng nguyên để phát
hiện kháng nguyên lưu động trong máu của gia súc nhiễm bệnh. Phản ứng
dựa trên kháng thể đơn dòng đặc hiệu với tiên mao trùng. Lê Ngọc Mỹ và cs
(1994) [14] đã bước đầu ứng dụng phương pháp này để chẩn đoán bệnh tiên
mao trùng ở Việt Nam. Tuy nhiên, theo cơ quan năng lượng nguyên tử thế
giới (IAEA) (1997), phương pháp ELISA kháng nguyên có độ nhậy kém hơn
so với các phương pháp phát hiện tiên mao trùng cổ điển. Vì vậy, phương
pháp này đã không được phổ biến trong thời gian hiện tại và tương lai (IAEA
đã không sản xuất đĩa Ag - ELISA cho nhiều nước trên thế giới).
+ Phản ứng Suratex:
Phản ứng Suratex là phản ứng ngưng kết giữa các hạt latex được gắn
kháng thể đơn dòng với kháng nguyên lưu động trong máu động vật nhiễm
tiên mao trùng (Nantulya, 1994 [33]). Phản ứng này hiện đang được thử
nghiệm và đánh giá ở thực địa.
2.1.5. Phòng chống T. evansi và điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò
2.1.5.1. Phòng bệnh
Để phòng ngừa bệnh tiên mao trùng có hiệu quả cao, các nhà khoa học
đã đề nghị áp dụng 3 biện pháp sau:

tiên mao trùng ở đó.
- Diệt côn trùng bằng hoá dược:
Có thể dùng các hoá dược tiêu diệt côn trùng môi giới của tiên mao
trùng. Các hoá dược đã được dùng là: Endosulfan, Brophos, Dieldrine,
Tetracloreinphos,…
20
20
21
- Diệt côn trùng bằng phương pháp sinh học:
Các nhà khoa học đã phát hiện được 25 loài ong và côn trùng ký sinh gây hại
cho các loài ruồi, mòng môi giới truyền bệnh tiên mao trùng.
Một số loài vi khuẩn có thể xâm nhập vào cơ thể ruồi hút máu làm chúng
mắc bệnh và chết.
Laird (1974) đã phân lập được một số loài vi khuẩn như: Bacillus
thuringiensis, B.mathisi để tiêu diệt các loài ruồi hút máu. Đây là biện pháp diệt côn
trùng có nhiều ưu điểm: không ảnh hưởng đến môi trường. Tuy nhiên, biện pháp
này mới đang ở giai đoạn thử nghiệm.
Jordan và cs (1974) đã gây đột biến ruồi hút máu bằng một số hoá chất và tia
sáng có bước sóng ngắn, bằng phương pháp di truyền quần thể, đã tạo ra những
ruồi đực vô tính rồi thả với ruồi cái trong tự nhiên. Kết quả là làm cho ruồi không
sinh sản được. Phương pháp này có nhiều khả năng thành công nhưng rất tốn kém.
Nhìn chung, các biện pháp tiêu diệt côn trùng môi giới có hiệu quả nhất định
nhưng cũng còn nhiều hạn chế.
* Phòng bệnh cho gia súc bằng hoá dược:
Hội nghị chuyên đề quốc tế về phòng bệnh tiên mao trùng (1978) đã kết
luận: Hiện nay, biện pháp sử dụng hoá dược để tiêm phòng rộng rãi cho gia súc ở
những vùng bệnh tiên mao trùng lưu hành cần phải được tiếp tục trong nhiều năm
(Touratier và cs, (1979) [43]).
Từ năm 1934, tổ chức dịch tễ gia súc đã đề nghị sử dụng Novarsenobenzol
để tiêm phòng cho toàn đàn ngựa ở những vùng có bệnh tiên mao trùng. Hiện nay,

những trâu, bò bị bệnh.
Nguyễn Quốc Doanh và cs (1997) đã dùng Trypamidium samorin liều
1 mg/kgTT. Tiêm sâu bắp thịt điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò và xác
định, thuốc có hiệu lực và độ an toàn rất cao 100%.
Phan Văn Chinh (2006) [2], sử dụng thuốc Trypamidium, liều
1mg/kgTT, cho tỷ lệ diệt hết tiên mao trùng là 100%.
Điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò bằng Trypazen với liều 3,5
mg/kgTT, Nguyễn Quốc Doanh và cs, (1997) cho rằng thuốc rất an toàn, tỷ lệ
khỏi bệnh là 100%.
2.2. Tình hình nghiên cứu về bệnh T. evansi
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, các bệnh về ký sinh trùng đường máu ở gia súc là một
nguyên nhân gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi. Hàng năm, ở miền Bắc có
22
22
23
một số lượng lớn trâu bò chết vào các vụ đông xuân, mà nguyên nhân chính là
do tiên mao trùng; có những thời điểm chúng đã gây thành ổ dịch lớn ở các
địa phương như: ở Thanh Hóa năm 1983, ngoại thành Hà Nội năm 1985.
Ngoài gây ra bệnh ở trâu bò, chúng còn gây bệnh cho lợn, ngựa, dê,… gây
những tổn thất không nhỏ, đặc biệt với lợn nái sinh sản.
Trong những năm 1960 trở về trước, ở nước ta bệnh do T. evansi chỉ
được coi như bệnh của ngựa ở miền núi. Nhưng từ những năm sau đó, bệnh
do T. evansi đã trở thành một bệnh quan trọng gây tác hại lớn cho đàn trâu bò
cày kéo ở các vùng đồng bằng miền Bắc Việt Nam.
Phạm Sỹ Lăng (1978-1979) [6], công bố, ổ dịch do tiên mao trùng xảy
ra tại hai địa điểm là Hoàng Long và Kim Thanh gây chết trâu bò với tỷ lệ cao
dao động từ 6,3 - 16,2% tổng đàn. Tỷ lệ nhiễm theo điều tra, ở trâu là 7 -13%,
ở bò là 2 - 7%; nhiễm nặng nhất là ở trâu lứa tuổi từ 6 - 8 năm tuổi. Thường
trâu bò càng già, tỷ lệ mắc càng cao.

T. evansi ở một số đàn bò sữa các tỉnh phía Nam như: An Phước (Đồng Nai),
Đức Trong (Lâm Đồng), Tân Thắng và các hộ chăn nuôi ở thành phố Hồ Chí
Minh, huyện Đức Hòa (Long An), Bến Cát (Sông Bé) bằng phương pháp MI
và ELISA thấy tỷ lệ nhiễm trung bình là 7,97%. Trong đó: Trâu, bò ở Bến Cát
nhiễm 9,98%; ở An Phước là 12,60%; Lâm Đồng là 2,09%; còn ở các nơi
khác không có.
Lê Ngọc Mỹ và cs (1994) [14], nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ bệnh
tiên mao trùng do T. evansi gây ra cho biết: Hiện tượng sảy thai ở trâu bò mắc
tiên mao trùng rất cao, dao động từ 19,23 - 47,82%. Các tác giả cho biết,
trong thời gian nghiên cứu, ghi nhận được số trâu bò mắc tiên mao trùng mà
không biểu hiện triệu chứng lâm sàng chiếm tỷ lệ rất cao. Với 121 mẫu kiểm
tra trâu bò khỏe mạnh, không biểu hiện triệu chứng lâm sàng, phát hiện
36,17% có tiên mao trùng trong máu.
Theo Nguyễn Đức Tân và cs (2004) [16], điều tra tình hình nhiễm ký
sinh trùng đường máu ở một số đàn bò thuộc một số tỉnh Nam Trung bộ và
Tây Nguyên cho biết: Nghiên cứu tổng số 557 mẫu phát hiện 49 mẫu có tiên
mao trùng, chiếm 8,8%. Trong đó nhiễm nặng nhất là đàn bò nuôi tại tỉnh Đắc
Lắc, nhiễm 10,3%; nhiễm thấp nhất là đàn bò nuôi tại tỉnh Phú Yên, nhiễm
6,6%; đàn bò nuôi tại Khánh Hòa nhiễm 8,5%.
Theo Hà Viết Lượng (1998) [12], tỷ lệ bò nhiễm T. evansi ở các tỉnh
miền Trung là 8,99%.
24
24
25
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Năm 1880, Laveran là người đầu tiên phát hiện Trypanosoma evansi
trong máu lạc đà ở bang Punjab (Ấn Độ).
Năm 1885, Steel phát hiện ký sinh trùng này trong máu la ở Miến Điện,
mô tả đặc điểm hình thái và đặt tên là Trypanosoma evansi.
Năm 1886, Blanchard cũng tìm thấy T. evansi trong máu la nhập nội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status