Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh tiên mao trùng (Trypanosomiasis) ở trâu tại huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang và thử nghiệm phác đồ điều trị - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM LÊ QUANG TRUNG TÊN ĐỀ TÀI
:

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH TIÊN MAO TRÙNG
(TRYPANOSOMIASIS) Ở TRÂU TẠI HUYỆN HÀM YÊN – TỈNH
TUYÊN QUANG VÀ THỬ NGHIỆM PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ
” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Thú y
Khoa : Chăn nuôi thú y
Khóa học : 2009 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Phạm Thị Trang

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2013
LỜI CẢM ƠN


Trang
Bảng 4.1. Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu tại một số xã thuộc huyện Hàm
Yên, tỉnh Tuyên Quang 35

Bảng 4.2. Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu theo lứa tuổi 36

Bảng 4.3. Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu 37

Bảng 4.4. Các loài ruồi, mòng phát hiện ở một số xã thuộc huyện Hàm Yên,
tỉnh Tuyên Quang 38

Bảng 4.5. Biến động thành phần loài ruồi, mòng ở các xã thuộc huyện Hàm
Yên, tỉnh Tuyên Quang 39

Bảng 4.6. Quy luật hoạt động theo tháng của các loài ruồi, mòng ở một số xã
thuộc huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 40

Bảng 4.7. Quy luật hoạt động trong ngày của các loài ruồi, mòng ở một số xã
thuộc huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 41

Bảng 4.8. Ứng dụng thuốc điều trị bệnh TMT cho trâu 42

Bảng 4.9. Ứng dụng phác đồ có hiệu quả cao trong điều trị bệnh tiên mao trùng
cho trâu ở một số xã thuộc huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 43DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Cs : Cộng sự
TMT : Tiên mao trùng

2.1.1. Đặc điểm hình thái, cấu trúc và phân loại Trypanosoma 3
2.1.1.1. Vị trí của tiên mao trùng Trypanosoma trong hệ thống phân loại động
vật học 3
2.1.1.2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của tiên mao trùng 4
2.1.1.3. Cấu trúc kháng nguyên của tiên mao trùng Trypanosoma evansi 5
2.1.2. Dịch tễ học bệnh tiên mao trùng 7
2.1.2.1. Phân bố của bệnh 7
2.1.2.2. Vật chủ và vật môi giới truyền bệnh tiên mao trùng 8
2.1.2.3. Tuổi vật chủ, mùa mắc bệnh 11
2.1.3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh 12
2.1.3.1. Đặc điểm bệnh lý 12
2.1.3.2. Triệu chứng lâm sàng của bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò, ngựa 13
2.1.3.3. Bệnh tích của bệnh tiên mao trùng 15
2.1.4. Phương pháp chẩn đoán bệnh tiên mao trùng 15
2.1.4.1. Chẩn đoán lâm sàng 15
2.1.4.2. Chẩn đoán thí nghiệm 16
2.1.5. Phòng trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò, ngựa 21
2.1.5.1. Phòng bệnh 21
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 25
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 28
3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 28
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 28
3.1.2. Vật liệu nghiên cứu 28
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 29
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu 29
3.2.2. Thời gian nghiên cứu 29
3.3. Nội dung nghiên cứu 29
3.3.1. Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh tiên mao trùng (Trypanosomiasis) của
trâu ở một số xã thuộc huyện Hàm Yên – Tỉnh Tuyên Quang 29

4.2.2. Quy luật hoạt động của các loài ruồi, mòng ở các xã thuộc huyện Hàm
Yên, tỉnh Tuyên Quang. 40
4.3. Nghiên cứu phác đồ điều trị bệnh T. evansi cho trâu một số xã tại huyện
Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 42
4.3.1. Xây dựng phác đồ điều trị bệnh TMT 42
4.3.2. Ứng dụng phác đồ có hiệu quả cao trong điều trị bệnh tiên mao trùng ở
huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 43
4.3.3. Đề xuất một số biện pháp phòng chống bệnh T. evansi cho trâu ở các địa
phương thuộc huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 44
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 46
5.1. Kết luận 46
5.2. Đề nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48 1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Hiện nay, trong ngành chăn nuôi, chăn nuôi trâu vẫn giữ một vai trò
quan trọng vì đó là một nguồn cung cấp phân bón, sức kéo cho ngành trồng
trọt và là nguồn cung cấp thực phẩm có chất lượng cao cho con người.
Đối với nước ta nói chung và tỉnh Tuyên Quang nói riêng, chăn nuôi
trâu không những góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân mà đã có
nhiều hộ gia đình vươn lên làm giàu nhờ vào chăn nuôi trâu. Chăn nuôi trâu
chủ yếu là tận dụng các phế phẩm của nông nghiệp như rơm, rạ, cỏ,… Đến
nay cùng với sự phát triển của kinh tế, sự đòi hỏi của người tiêu dùng về chất
lượng thực phẩm ngày càng cao, chăn nuôi trâu đã có sự đầu tư hợp lý để tăng
năng suất, chất lượng thực phẩm.
Tuy nhiên, nhiều năm qua dịch bệnh vẫn thường xuyên xảy ra và gây


3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Năm 1888, Blanchard đã phát hiện bệnh tiên mao trùng lần đầu tiên ở
Việt Nam. Sau đó, bệnh được xác định là phổ biến ở hầu hết các tỉnh thành
trong cả nước. Bệnh do loài tiên mao trùng Trypanosoma evansi gây ra. Trâu,
bò, ngựa mắc bệnh dễ chết hoặc thiếu máu, suy nhược, giảm hoặc mất khả
năng sinh sản và sức sản xuất.
2.1.1. Đặc điểm hình thái, cấu trúc và phân loại Trypanosoma
2.1.1.1. Vị trí của tiên mao trùng Trypanosoma trong hệ thống phân loại động
vật học
Theo Lương Văn Huấn và cs, 1997) [9], vị trí của tiên mao trùng
trong hệ thống phân loại nguyên bào (Protozoa) như sau:
Ngành Sarcomastigophora
Phân ngành Mastigophora
Lớp Zoomastigophorasida
Bộ Kinetoplastorida
Phân bộ Trypanosomatorida
Họ Trypanosomatidae Donein, 1901
Giống Trypanosoma Gruby, 1843
Giống phụ Megatrypanum Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (M) theileria
Giống phụ Herpetosoma Donein, 1901
Loài Trypanosoma (H) leisi
Giống phụ Schizotrypanum Chagas, 1909
Loài Trypanosoma (S) cruzi
Giống phụ Duttonella Chalmers, 1918

glycoprotein luôn biến đổi (Vanant Glycoprotein Surface -VGS). Lớp
ngoài và lớp trong cùng tiếp giáp với nguyên sin chất dày hơn lớp giữa.
Tiếp giáp với lớp trong cùng là 9 cặp vi ống xếp song song dọc theo chiều
dài thân tiên mao trùng. Chính nhờ sự sắp xếp của các cặp vi ống nên tiên
mao trùng có dạng hình suốt chỉ mảnh (Hoare, 1972 [40]; Phạm Sỹ Lăng,
1982 [14]; Nguyễn Quốc Doanh, 1999 [7]).

5
- Nguyên sinh chất: gồm lớp trong và lớp ngoài. Trong nguyên sinh chất có
chứa các nội quan: ribosome có màu thẫm xen kẽ vùng không bào màu
sáng, kinetoplast (thể cơ động), mitochrondno, reticulum (lưới nội bào)
và mạng lưới golgi.
- Nhân: nhân tiên mao trùng có chứa ADN, hình bầu dục hoặc hình
trứng. Nhân thường nằm ở vị trí trung tâm hoặc gần vị trí trung tâm cơ
thể. Ngoài nhân, về phía cuối thân còn có thể kinetoplast chứa AND
(KADN). Từ kinetoplast có một roi chạy vòng quanh thân lên đầu và ra
phía ngoài cơ thể thành một roi tự do. Roi của tiên mao trùng có lớp vỏ
ngoài cùng giống lớp vỏ của thân. Trong roi có 9 cặp vi ống ở xung quanh
và một cặp ở trung tâm, xếp song song dọc chiều dài roi (Hoare, 1972
[40]; Nguyễn Quốc Doanh, 1999 [7]).
2.1.1.3. Cấu trúc kháng nguyên của tiên mao trùng Trypanosoma evansi
Kháng nguyên của T. evansi gồm hai loại: kháng nguyên ổn định
(kháng nguyên không biến đổi) và kháng nguyên biến đổi
* Kháng nguyên ổn định (kháng nguyên không biến đổi)
Phần lớn các thành phần kháng nguyên tiên mao trùng không biến đổi
trong quá trình sống ký sinh. Bằng phương pháp điện di miễn dịch huyết
thanh thỏ tối miễn dịch với T. evansi, Kageruka (1982) đã phát hiện tới 30
thành phần kháng nguyên khác nhau. Có ba loại kháng nguyên không biến đổi
ở màng nguyên sinh chất tế bào (ISG: Invanant Surface Glycoprotein): ISG
65, ISG 75 và ISG 100. Do cấu trúc không gian ba chiều và đặc tính ưa nước,

(VSG), làm tiêu tan tiên mao trùng thì đó cũng là nguyên nhân chính thúc đẩy
sự hoạt hoá của gen. Kết quả là các phân tử kháng nguyên VSG được thay đổi
hoàn toàn bằng các phân tử VSG mới. Lúc này, kháng thể đặc hiệu lúc trước
đã không còn tác dụng đối với kháng nguyên mới này.
Theo Barry và Tumer (1991) [38], Vanhamme và cs (1995) [46], các
VSG được mã hoá nhờ các gen chuyên biệt. Từ kho chứa hàng nghìn đến
khác nhau, một gen VSG được hoạt hoá một cách chọn lọc, dẫn đến tổng hợp
ra một loại kháng nguyên VSG. Mỗi bên VSG mới tạo ra một loại kháng
nguyên VSG mới. Trong bộ gen của tiên mao trùng tồn tại một số lớn gen
VSG, các gen này sử dụng nhiều cơ chế sắp xếp khác nhau, do vậy tiên mao
trùng đã tạo ra nhiều VSG khác nhau ở gia súc bị bệnh mãn tính. Cơ chế biến
đổi kháng nguyên theo 2 cách:

7
- Cách thứ nhất là sử dụng lần lượt các điểm biểu hiện trên (expression
side) khác nhau, không có sự sắp xếp của ADN. Các điểm biểu hiện khác
nhau sẽ mang các gen VSG khác nhau, sự luân phiên này dẫn đến sự thay đổi
type kháng nguyên. Cơ chế này quan sát được chủ yếu ở giai đoạn đầu của
quá trình cảm nhiễm. Có lẽ ở giai đoạn đầu này chưa có đáp ứng miễn dịch
của vật chủ đối với VSG, chính điều này không gây ra một cản trở hoạt hoá tự
nhiên của các điểm biểu hiện gen này.
- Cách thứ hai là tập hợp lại các đoạn ADN khác nhau để tái tổ hợp
gen, mà việc tái tổ hợp này cho phép thay thế hoàn toàn hoặc từng phần gen;
hoặc việc thay thế diễn ra dựa vào sự chuyển đổi gen chứ không phải dựa vào
tái tổ hợp gen. Trường hợp này được diễn giải như sau: một gen hoạt hoá
được thay thế bằng bản sao chép của một gen khác. Do có sự thay thế một
phần của gen nên đã tạo ra loại gen phức hợp và đặc trưng.
2.1.2. Dịch tễ học bệnh tiên mao trùng
2.1.2.1. Phân bố của bệnh
Bệnh tiên mao trùng phân bố rất rộng, từ phía Tây sang phía Đông bán

thú hoang, thấy nhiều hơn ở trâu, bò, ngựa, trâu bò rừng, hươu, nai, hổ, báo,
sư tử, chó, mèo, lạc đà, voi thỏ, chuột cống, chuột lang, chuột bạch , nhưng
không ký sinh ở người.
Sự lây truyền tiên mao trùng từ trâu, bò ốm sang trâu, bò khoẻ là nhờ
các loài ruồi hút máu (thuộc họ phụ Stomoxydinae) và các loài mòng hút máu
(thuộc họ Tabanidae). Ruồi và mòng hút máu của gia súc bị bệnh, hút luôn cả
tiên mao trùng vào vòi hút, sau đó lại hút máu gia súc khoẻ, trong khi hút máu
sẽ truyền tiên mao trùng từ vòi hút vào máu con vật khoẻ. Sự lây truyền này
mang tính chất cơ học. Như vậy, ruồi và mòng hút máu là những vật môi giới
truyền bệnh tiên mao trùng quan trọng.
Theo Phan Địch Lân (1974) [17], Phan Địch Lân (2004) [19], phần lớn
các loài mòng tập trung ở khu vực miền núi và trung du. Trong 53 loài mòng
thì có tới 44 loài phân bố ở vùng rừng núi có độ cao dưới 1 .000 mét so với
mặt nước biển, càng lên cao số loài càng ít dần (độ cao trên 1.000 mét chỉ có
26 loài). Ở vùng trung du (rừng thưa, độ cao không quá 500 mét so với mặt
nước biển có 27 loài; vùng đồi trọc chỉ có 9 - 11 loài; vùng rừng núi ven biển
phát hiện chỉ có 8 loài. Những loài mòng phổ biến ở tất cả các vùng là:
Tabanus rubidus, T. striatus, Chrysops dispar, Chrysozoma assamensis.

9
Những loài mòng chỉ gặp ở vùng núi là: Tabanus flavistriatus, T.
fumifer, Chrysops vander. Miền Bắc nước ta có 4 loài ruồi hút máu, 2 loài phổ
biến ở tất cả các vùng là Stomoxys calcitrans và Liperosis exigua; 2 loài chỉ
thấy ở những vùng sinh cảnh đặc biệt: loài Bdellolarynx sanguinolentus (chỉ
xuất hiện ở vùng có độ cao dưới 1.000mét), loài Stomoxys indica (chỉ thấy ở
vùng núi Cẩm Thuỷ - Thanh Hoá).
Loài ruồi Stomoxys calcitran là loài ruồi có kích thước trung bình 5 đến
8mm. Đầu có mắt kép màu nâu óng ánh, trán rất rộng, chiều rộng trán bằng ¼
chiều rộng của đầu, chiều rộng của trán giữa gấp 3 lần của trán cạnh. Con cái
chính giữa trán có một dải màu nhạt. Lông trán cạnh có hai hàng trở lên. Ruồi

hung hung đỏ. Râu miệng hung hung đỏ. Râu hàm dưới màu vàng hơi đỏ, lông
vàng nâu. Anten màu đỏ nâu hoặc nâu đen, đầu cuối đậm màu hơn. Ngực, mặt
lưng màu trắng xám hơi vàng có lông vàng và lông đen. Bụng giống con cái, nhỏ
thon đầu cuối nhọn màu vàng nâu đậm, lông vàng và lông đen.
Loài mòng Tabanus kiangsuesis là loài mòng to trung bình, màu nâu
vàng xám hoặc nâu vàng. Trán màu nâu ánh kim, chai trán gốc nối liền với
chai trán giữa hình thành gậy màu nâu đỏ, bóng. Chai trán phụ, má, mặt màu
vàng xám. Râu miệng màu trắng vàng. Râu hàm dưới màu trắng vàng, lông
đen xen lẫn lông trắng. Anten màu nâu đỏ đầu cuối hơi sẫm. Mặt lưng của
ngực màu nâu đỏ sẫm, lông đen xen lẫn lông vàng, có ba sọc dọc màu nâu
xám nhạt. Màng cánh nâu nhạt, không có nhánh phụ. Chân màu đỏ nhạt. Mặt
lưng của bụng màu nâu đỏ xám. Từ đốt thứ nhất tới đốt thứ năm có một đai
dọc, giữa màu nâu vàng không rõ rệt lắm. Cạnh đai dọc giữa từ đốt thứ nhất
đến đốt thứ năm có đốm bên hình chữ nhật nằm chếch với đai giữa cùng màu
(Phan Địch Lân, 1983) [18] ; (Phan Văn Chinh, 2006) [4].
Phan Địch Lân (2004) [19] cho biết, kiểm tra ở nhiều địa điểm thấy hai
loài mòng T. rubidus và T. striatus mang tiên mao trùng với tỷ lệ 15,2% và
14,0%; ruồi hút máu Stomoxys calcitrans mang tiên mao trùng với tỷ lệ 12,5%.
Ở những vùng đang có bệnh tiên mao trùng, kiểm tra ruồi và mòng hút máu dễ
dàng tìm thấy tiên mao trùng. Sau khi theo máu vào vòi hút ruồi và mòng, tiên
mao trùng vẫn sống đến giờ thứ 53, thời gian hoạt động mạnh nhất là từ giờ thứ
nhất đến giờ thứ 34 trung bình là 24giờ. Sự hoạt động của tiên mao trùng yếu
dần từ giờ thứ 35 đến 42. Từ 46 - 53 giờ thì tiên mao trùng ngừng hoạt động.

11
Hình thái tiên mao trùng khi ở trong vòi ruồi, mòng biến đổi theo thời
gian: từ 1 -34 giờ có hình thái, kích thước bình thường; 35 - 45 giờ: tiên mao
trùng có hình dạng thay đổi, tăng kích thước chiều rộng và thô dần; 46 - 53
giờ: tiên mao trùng trương to, duỗi thẳng, mất khả năng di động và ngừng
hẳn hoạt động.

với nước cất, cồn và thuốc sát trùng.
2.1.3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh
2.1.3.1. Đặc điểm bệnh lý
Khi ruồi trâu, mòng đốt, hút máu và truyền tiên mao trùng vào trâu, bò,
ngựa, tiên mao trùng xâm nhập vào da, gây ra vết viêm trên mặt da. Theo dõi
có thể quan sát được phản ứng viêm ở da của thỏ, cừu, dê và bò gây nhiễm
thực nghiệm tiên mao trùng, kích thước chỗ viêm phụ thuộc vào số lượng tiên
mao trùng được tiêm truyền (ước chừng khoảng 108 tiên mao trùng có thể
gây viêm da - ở vị trí tiêm truyền), một số lượng lớn tiên mao trùng phát triển
ở tại chỗ viêm này.
Vào máu, tiên mao trùng nhân lên theo cấp số nhân ở trong máu, trong
bạch huyết và ở trong các mô khác của cơ thể vật chủ theo cách phân chia
theo chiều dọc. Số lượng tiên mao trùng trong máu không phải lúc nào cũng
như nhau. Mật độ tiên mao trùng thay đổi theo ngày. Biểu đồ sóng tiên mao
trùng cho thấy, xen kẽ giữa những sóng tiên mao trùng mạnh là những đợt
sóng yếu. Mỗi đợt sóng tiên mao trùng bắt đầu bằng sự tăng số lượng tiên
mao trùng trong máu, sau đó giảm và khó phát hiện thấy tiên mao trùng. Mỗi
đợt tiên mao trùng tăng lên trong máu là biểu hiện sự xuất hiện một quần thể
tiên mao trùng có tính kháng nguyên bề mặt mới, quần thể này có thể tiếp tục
sinh sản và tồn tại một thời gian cho đến khi cơ thể xuất hiện kháng thể đặc
hiệu với chúng.
Phạm Sỹ Lăng, Tô Long Thành (2006) [16] cho biết tiên mao trùng
phát triển nhanh trong máu, tiêu thụ Glucose và các chất đạm, chất béo và
khoáng chất trong máu ký chủ bằng phương thức thẩm thấu qua bề mặt cơ thể
để duy trì hoạt động và sinh sản. Ở súc vật bị bệnh, trong 1 ml máu có thể có
10.000 - 30.000 tiên mao trùng. Với số lượng nhiều như vậy, tiên mao trùng
chiếm đoạt dinh dưỡng nhiều, làm cho súc vật bệnh gây còm, thiếu máu và
mất dần khả năng sản xuất sữa, thịt, mất dần khả năng sinh sản và giảm sức
đề kháng với các bệnh khác.


Trâu, bò bị bệnh mạn tính thường kéo dài, cơ thể suy yếu, liệt hai chân
sau, nằm tư thế quỳ và không đi lại được. Mặc dù nằm liệt nhưng vẫn ăn và
nhai lại cho đến khi sắp chết.
- Phù thũng dưới da: phù thũng thường thấy ở vùng thấp của cơ thể như
ở bốn chân (từ khớp khuỷu trở xuống), phần yếm, ngực, bộ phận sinh dục.

14
- Viêm giác mạc và kết mạc mắt: triệu chứng này thấy ở hầu hết trâu,
bò bệnh. Mắt có dử trắng hay vàng, chảy liên tục, nếu nặng thì mắt sưng đỏ
ngầu. Khi khỏi bệnh, mắt có màng trắng (củi nhãn) kéo che kín giác mạc.
- Hội chứng tiêu hoá: một số trâu, bò bệnh bị ỉa chảy nặng, phân lỏng,
màu vàng, sau chuyển màu xám, có lẫn bọt và chất nhầy. Các đợt ỉa chảy tiếp
theo những cơn sốt cách quãng. Ỉa chảy trong bệnh tiên mao trùng thường dai
dẳng và con vật vẫn ăn được.
- Gầy yếu, suy nhược: ở thể bệnh cấp tính trâu, bò gầy sút nhanh, chỉ
sau 7 – 14 ngày từ khi phát bệnh con vật đã gầy rộc, mắt trũng sâu. Nếu bệnh
kéo dài thì con vật gầy xơ xác, lông dựng ngược, da khô nhăn nheo, niêm mạc
mắt nhợt nhạt, lông dễ rụng, dần dần suy nhược cơ thể nặng, mất khả năng
cày kéo và sinh sản. Nếu gặp điều kiện bất lợi như thiếu ăn, rét mướt thì trâu,
bò dễ chết. Trong thực tế, có khoảng 3% trâu bệnh ở thể ẩn vẫn béo khoẻ, làm
việc bình thường khi được chăm sóc nuôi dưỡng tốt.
Tình trạng thiếu máu thể hiện rõ trong bệnh do T. evansi gây ra. Theo
Hoare C. A. (1972) [40], số lượng hồng cầu và hàm lượng huyết sắc tố giảm,
số lượng bạch cầu tăng, thành phần bạch cầu thay đổi: bạch cầu lymphô, bạch
cầu ái toan tăng nhưng bạch cầu trung tính giảm, protein tổng số và Albumin
giảm rõ rệt.
Phạm Sỹ Lăng (1986) [15] cho biết, khi protein tổng số và Albumin giảm
thì các thành phần α, β và γglobulin đều tăng, chỉ số A/G < 0,5.
Theo nhiều tác giả trong và ngoài nước, triệu chứng tương đối điển hình
của bệnh đó là hiện tượng sảy thai ở những gia súc có nhiều T. evansi. Ở Việt

da thuỷ thũng.
2.1.4. Phương pháp chẩn đoán bệnh tiên mao trùng
2.1.4.1. Chẩn đoán lâm sàng
Các biểu hiện lâm sàng đặc trưng của bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò,
ngựa không phải lúc nào cũng phát hiện được. Rất nhiều gia súc mang bệnh
nhưng khó phát hiện các triệu chứng đặc trưng, nhất là đối với những gia súc
mắc bệnh tiên mao trùng mãn tính. Đối với gia súc mắc bệnh ở thể cấp tính,
các biểu hiện bệnh đặc trưng là sốt cao, bỏ ăn, có triệu chứng thần kinh (điên
loạn) và chết nhanh. Trâu bị bệnh mãn tính có thể thấy triệu chứng: sốt gián
đoạn, gầy còm, thiếu máu kéo dài, viêm giác mạc, phù thũng ở bụng và chân
sau, chết do kiệt sức (Phạm Sỹ Lăng, 1982) [14]. Triệu chứng sảy thai có thể
thấy ở trâu, bò bị bệnh tiên mao trùng (Nguyễn Đăng Khải, 1995) [11].

16
2.1.4.2. Chẩn đoán thí nghiệm
Có nhiều phương pháp chẩn đoán tiên mao trùng trong phòng thí
nghiệm, mục đích là phát hiện tiên mao trùng trong máu gia súc. Tùy từng
trường hợp bệnh, tuỳ điều kiện mà có thể làm cùng lúc một số phương pháp
hoặc lựa chọn một phương pháp phù hợp và có độ chính xác cao.
* Phương pháp phát hiện tiên mao trùng trực tiếp:
Muốn phát hiện tiên mao trùng trực tiếp, có thể áp dụng những phương
pháp sau:
- Phương pháp xem tươi (Direct smear)
Khi bệnh súc sốt, T. evansi thường xuất hiện trong mao quản ngoại vi;
vì vậy, nên lấy máu vùng ngoại vi để xem tươi. Cho 1 giọt máu nhỏ lên phiến
kính, đậy la men lên để máu dàn theo la men thành một lớp mỏng. Soi dưới
kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 20 và 10 x 40) để phát hiện tiên mao trùng
thông qua sự di chuyển của chúng.
- Phương pháp nhuộm Giemsa tiêu bản máu khô (Romanovsky)
+ Phương pháp giọt dầy: Đặt 1 giọt máu to vào giữa phiến kính, dùng

này không thể đáp ứng được (Lê Ngọc Mỹ và cs, 1994 [22]; Đoàn Văn Phúc
và cs, 1994 [26]).

* Phương pháp chẩn đoán huyết thanh học:
Bằng phương pháp huyết thanh học, có thể phát hiện kháng thể
hoặc kháng nguyên tiên mao trùng. Đây là các phương pháp huyết thanh
học đặc hiệu.
* Các phương pháp phát hiện kháng thể kháng tiên mao trùng
Khi tiên mao trùng ký sinh, cơ thể vật chủ sinh ra kháng thể đặc hiệu
chống lại tiên mao trùng. Những phương pháp sau cho phép phát hiện kháng
thể kháng tiên mao trùng trong máu vật chủ:
+ Phương pháp ngưng kết trên phiến kính (SAT: Slice Agglutination
Test): hoà tan 1 giọt huyết thanh gia súc nghi mắc bệnh vào 1 giọt nước muối
sinh lý trên phiến kính, sau đó cho 1 giọt máu chuột bạch có nhiều tiên mao
trùng vào, trộn đều, đậy la men và soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 20
hoặc 10 x 40). Nếu thấy ngưng kết hình hoa cúc là (+) và ngược lại là (-).
Phương pháp này đơn giản, dễ làm và có thể áp dụng trên diện rộng.
+ Phương pháp LATEX (Latex Agglutination Test)
LATEX là phương pháp được dùng để phát hiện kháng thể lưu động có
trong máu của gia súc mắc bệnh tiên mao trùng.
Nguyên lý của phương pháp LATEX: khi kháng nguyên bề mặt T.
evansi gắn lên các hạt latex kết hợp với kháng thể đặc hiệu kháng tiên mao

18
trùng ở trên bản nhựa, thì sẽ xảy ra phản ứng ngưng kết giữa kháng nguyên
với kháng thể. Hiện tượng ngưng kết có thể quan sát được bằng mắt thường,
và được giải thích là do kháng nguyên bề mặt tiên mao trùng được gắn lên các
hạt latex là loại kháng nguyên hữu hình, có nhiều điểm quyết định tính kháng
nguyên bề mặt (epitop surface). Còn kháng thể đặc hiệu kháng tiên mao trùng
lại có nhiều điểm thụ thể (receptor) tương ứng, đặc hiệu với các điểm quyết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status