: Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa bê, nghé ở huyện Đông Sơn và Triệu Sơn tỉnh Thanh Hóa và biện pháp phòng trị. - Pdf 23

Trêng ®¹i häc n«ng nghiÖp hµ néi
NGUYỄN VĂN VÂN
Chuyên ngành: Thú y
Mã số:60.62.01.01
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH GIUN ĐŨA BÊ, NGHÉ Ở HUYỆN
ĐÔNG SƠN VÀ TRIỆU SƠN- TỈNH THANH HÓA VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS-TS. Nguyễn Văn Thọ
1
Hà Nội: 2013
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu thực sự của tôi. Các kết quả nghiên
cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị
nào. Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn. Các thông tin, tài
liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả
Nguyễn Văn Vân
3

LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự quan
tâm, chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè; sự
động viên khích lệ của gia đình để tôi hoàn thành luận văn này. Nhân dịp này tôi xin được bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
PGS -TS. Nguyễn Văn Thọ đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong quá
trình hoàn thành luận văn này.
Đồng thời tôi xin cảm lãnh đạo UBND huyện Đông Sơn, Triệu Sơn và Trường trung cấp Nông
Lâm Thanh Hóa, đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả

2.3.2. Bệnh lý và lâm sàng của bê, nghé bị bệnh giun đũa 24
2.3.3. Nghiên cứu biện pháp phòng, trị bệnh giun đũa bê, nghé 24
2.4. BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.4.1. Bố trí điều tra và phương pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ
bệnh giun đũa bê, nghé ở hai huyện của tỉnh Thanh Hóa 25
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu bệnh lý và lâm sàng của bê, nghé bị
bệnh giun đũa 30
6
2.4.3. Bố trí thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng
trị bệnh đũa bê, nghé 30
2.5. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 32
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa bê, nghé ở hai
huyện thuộc tỉnh Thanh Hóa 35
3.1.1. Nghiên cứu tình hình nhiễm giun đũa bê, nghé 35
3.1.2. Nghiên cứu sự phát triển của trứng giun đũa bê nghé và sự tồn
tại của trứng có sức gây bệnh ở ngoại cảnh 45
3.2. Biểu hiện lâm sàng của bệnh giun đũa bê, nghé 50
3.2.1. Ảnh hưởng của giun đũa trong hội chứng tiêu chảy của bê, nghé 50
3.2.2. Tỷ lệ bê nghé có biểu hiện lâm sàng khi bị bệnh giun đũa 52
3.3. Nghiên cứu và đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun đũa bê nghé 53
3.3.1. Khả năng diệt trứng và trứng giun đũa bê, nghé có sức gây
bệnh của thuốc sát trùng 53
3.3.2. Nghiên cứu công thức ủ phân có khả năng sinh nhiệt cao để
diệt trứng giun đũa bê nghé 54
3.3.3. Hiệu lực thuốc tẩy giun đũa bê, nghé 58
3.3.4. Đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun đũa cho bê, nghé 59
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 61
1. KẾT LUẬN 61
2. ĐỀ NGHỊ 62

xung quanh chuồng trâu,
bò. 45
Bảng 3.9. Sự phát tán trứng giun đũa bê nghé ở khu vực bãi chăn thả trâu,
bò. 46
Bảng 3.10. Sự phát triển của trứng giun đũa bê, nghé trong phân thành trứng có
sức gây
bệnh 48
Bảng 3.11. Khả năng tồn tại của trứng giun đũa bê, nghé có sức gây bệnh trong
phân 49
1
Bảng 3.12. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa ở bê, nghé bình thường và tiêu
chảy 50
Bảng 3.13. Tỷ lệ bê nghé có biểu hiện lâm sàng của bệnh giun
đũa . 53
Bảng 3.14. Khả năng diệt trứng và trứng giun đũa bê, nghé có sức gây bệnh của
thuốc sát
trùng. 54
Bảng 3.15. Sự tăng nhiệt và tác dụng diệt trứng giun đũa bê nghé của công thức
1 55
Bảng 3.16. Sự tăng nhiệt và tác dụng diệt trứng giun đũa bê nghé của công thức
2 55
Bảng 3.17. Sự tăng nhiệt và tác dụng diệt trứng giun đũa bê nghé của công thức
3 56
Bảng 3.18. Tổng hợp khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt trứng giun đũa bê nghé
của 3 công thức
ủ 57
Bảng 3.19. Hiệu lực của một số thuốc tẩy giun đũa bê,
nghé 58
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Cấu tạo giun đũa bê nghé Neoascaris

thường phát vào vụ đông - xuân, ở bê nghé dưới 3 tháng tuổi. Bê nghé ở
miền núi nhiễm giun đũa cao hơn trung du và đồng bằng.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9], Phan Địch Lân và cs
(2005) [11], bệnh do giun Neoascaris vitulorum gây ra, chúng ký sinh trong
ruột non của bê nghé và gây ra các tác hại như: gây tổn thương ruột non,
một số cơ quan (gan, phổi,…) do ấu trùng di hành, giun lấy chất dinh dưỡng
làm cho bê nghé gầy còm, chậm lớn. Ngoài ra, giun đũa còn tiết độc tố làm
cho bê nghé bị trúng độc, sốt cao, ỉa chảy, gầy sút và dễ chết nếu không
được điều trị kịp thời.
1
Thanh Hóa là một tỉnh có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển chăn
nuôi trâu bò, bê, nghé. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc nghiên cứu về
bệnh giun đũa bê nghé và biện pháp phòng trị vẫn chưa được chú ý. Vì vậy, bê
nghé ở các địa phương của tỉnh Thanh Hóa còn bị bệnh phân trắng nhiều, gây
thiệt hại kinh tế đáng kể. Trong mấy năm gần đây, điều kiện tự nhiên và thời tiết
khí hậu ở nước ta nói chung và ở các tỉnh miền trung nói riêng có nhiều biến đổi.
Điều đó có thể ảnh hưởng và làm thay đổi quy luật sinh tồn của ký sinh trùng, từ
đó ảnh hưởng đến đặc điểm dịch tễ của bệnh.
Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết của thực tế chăn nuôi ở tỉnh Thanh Hóa
và những vấn đề đề cập ở trên, chúng tôi thực hiện đề tài: "Nghiên cứu
đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa bê, nghé ở huyện Đông Sơn và Triệu Sơn
- tỉnh Thanh Hóa và biện pháp phòng trị".
2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu để bổ sung những thông tin khoa học về đặc điểm dịch
tễ học của bệnh giun đũa bê nghé trong điều kiện sinh thái hiện nay.
- Xây dựng quy trình phòng chống bệnh giun đũa bê nghé để hạn chế
tỷ lệ nhiễm giun đũa, giảm thiệt hại do bệnh giun đũa gây ra, góp phần phát
triển chăn nuôi trâu bò.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1. Ý nghĩa khoa học

nối tiếp với ruột phình thành dạ dày nhỏ, vòng thần kinh và lỗ bài tiết ở
ngang nhau phần đầu. Giun đực không có cánh đuôi, dài 13 - 15 cm, rộng
nhất 0,35 cm, đuôi dài 0,21 - 0,46 mm, thon tròn, trước và sau hậu môn ở
phía bụng có 20 - 27 gai, có một đôi gai giao hợp dài 0,95 - 1,20 mm. Giun
cái dài 19 - 23 cm, chỗ rộng nhất là 0,5 cm, âm hộ ở khoảng 1/8 trước thân,
3
đuôi hình nón dài 0,37 - 0,42 mm, đuôi có nhiều gai bao phủ. Trứng giun
hơi tròn, có vỏ với nhiều chỗ lõm nhỏ, dài 0,080 - 0,090 mm, rộng 0,070 -
0,075 mm.
Hình 1.1. Cấu tạo giun đũa bê nghé Neoascaris vitulorum
(theo MOZGOVOI, DAVTIAN).
a) Miệng: 1- Đỉnh đầu; 2- Môi phía lưng;
3- Môi phía cạnh giáp bụng.
b) Đầu đuôi: 1- Đoạn đầu; 2- Gai giao hợp;
3- Đoạn đuôi con cái (phía cạnh).
c)1. Đoạn thân trước; 2.3. trứng .
Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [23], Phan Địch Lân
và cs (2005) [11], giun đũa Neoascaris vitulorum (Goeze 1782) ký sinh ở bê
nghé có kích thước: Giun đực ở nghé dài 13 - 15 cm, đường kính 0,3 cm; ở
4
bê dài 14 - 16 cm. Giun cái ở nghé dài 19 - 23 cm, đường kính 0,5 cm, trứng
70 - 75 x 80 - 90 µm; giun cái ở bê dài 20 - 26 cm, trứng 75 - 85 x 90 - 100
µm. Vị trí âm hộ của giun cái là 1/8 phần trước thân.
Phan Lục (2005) [19] cho biết , giun đũa có kích thước to , vàng nhạt , dài
13 - 22 cm,, trên đầu có 3 môi. Thực quản hình ống dài, phần cuối có chỗ phình
to ra gọi là dạ dày giả . Xung quanh lỗ hậu môn của giun đực có nhiều gai chồi,
có hai gai giao hợp to bằng n hau. Trứng có 4 lớp vỏ màu nhạt, lớp ngoài cùng lỗ
chỗ Như tổ ong, trứng dài 0,08 - 0,09 mm, rộng 0,07 - 0,75 mm.
Các nghiên cứu trên phù hợp với các tài liệu mô tả của Orlov (1970),
Euzeby (1981) Nhưng có khác với tài liệu mô tả của Skrjabin (1950), Neveu

sau 43 ngày có thể thấy giun đũa trưởng thành và con non ở cơ thể bê. Ngoài ra,
nếu cho bò mẹ trước khi đẻ 124 - 192 ngày nuốt trứng giun có súc gây bệnh thì
bê đẻ ra 20 - 31 ngày trong phân đã có trứng giun đũa. Điều đó chứngtỏ giun
đũa bê, nghé có thể qua máu truyền vào bào thai . Ở trâu mẹ thời kỳ chửa đầu
nuốt trứng giun cảm nhiễm thì tất cả nghé đẻ ra đều bị nhiễm giun qua nhau
thai. Giun đũa bê, nghé nhiễm vào cơ thể bằng 2 con đường nhiễm trực tiếp và
nhiễm qua bào thai.(Nguyễn Hùng Nguyệt và cs , 2008 [20]).
Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [23], trứng giun
thải ra môi trường ở thời kỳ đầu là trứng không cảm nhiễm. Skjabin và
Schulz (1973) cho biết, sự phát triển của trứng đến giai đoạn cảm nhiễm
kéo dài 12 - 13 ngày ở nhiệt độ 28-30
0
C và 17-19 ngày ở nhiệt độ 25
0
C.
Chẩn đoán bằng cách xét nghiệm phân tìm trứng giun Neoascaris
vitulorum hoặc trên cơ sở phát hiện thấy giun tự thải ra ở trong phân.
Phạm Sỹ Lăng (2005) [12] cũng cho biết , bệnh giun đũa bê nghé lây
nhiễm qua 2 con đường:
- Qua đường tiêu hóa do bê nghé ăn phải trứng giun đũa cảm
nhiễm.
6
- Ấu trùng từ máu trâu bò mang thai xâm nhập vào bào thai.
Theo Trịnh Văn Thịnh (1962) [26], trứng giun đũa ra ngoài thiên
nhiên gặp nhiệt độ nóng ẩm thích hợp thì phát triển thành phôi thai: ở nhiệt
độ 15 - 17
0
C thì phải 38 ngày, ở nhiệt độ 19 - 22
0
C thì phải sau 20 ngày.

nhiễm có chứa ấu trùng, có sức đề kháng cao với điều kiện ngoại cảnh.
Galila A.B. và cs (1990) [40] cho biết, ở 25
0
C trứng giun đũa phát
triển thành trứng chứa ấu trùng sau 7 ngày. Kết quả trên giống với nghiên
cứu của Refuerzo và cs (1952); Enyenihi (1969) tại 27
0
C. Nhưng theo báo
cáo của Schwartz (1922) là mất 10 - 12 ngày ở 25
0
C để phát triển thành
trứng chứa ấu trùng. Giai đoạn thứ hai của trứng chứa ấu trùng đã được
quan sát thấy ở vào ngày thứ 11 và có 91% trứng được phát triển đến giai
đoạn này vào ngày 15 ngày. Tawkif (1970) báo cáo rằng mất 9 ngày ở 26 -
28
0
C để phát triển đến giai đoạn trứng chứa ấu trùng.
Irfan và Sarwar (1954) đã nghiên cứu ở Pakistan, trứng phát triển đến
giai đoạn cảm nhiễm sau 11 ngày ở 26
0
C; trứng sẽ bị thoái hoá nếu để ở
nhiệt độ 30
0
C; ở 10
0
C trứng ngừng phát triển.
Euzeby (1981) đã theo dõi ở Malaixia cho biết, với nhiệt độ 15 - 17
0
C,
cần 38 ngày để trứng phát triển thành trứng có khả năng gây bệnh . Theo

0
C,
Nhưng phải cần 38 ngày ở nhiệt độ 15 - 17
o
C.
Dương Công Thuận và cs (1986) [31] đã lấy phân của bê nghé bị
nhiễm giun đũa có nhiều trứng, trộn với nước để giữ ẩm, cho vào đĩa Pettri,
để ở nhiệt độ trong phòng khoảng 15 - 22
0
C (tháng 10 - 11), thấy trứng phát
triển thành phôi thai sau 20 ngày, ở nhiệt độ 15 - 17
0
C phôi hình thành sau
38 ngày.
Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1999) [13] cho biết, con cái đẻ
trứng ở ruột non, theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ thích hợp trứng phát triển
thành trứng có khả năng gây bệnh (nhiệt độ 15 - 17
0
C cần 38 ngày, 19 -
9
22
0
C cần 20 ngày, 25
0
C cần 10 - 12 ngày, 28 - 30
0
C cần 65 ngày, nhưng khi
nhiệt độ đến 34 - 35
0
C thì trứng không phát triển).

Sarwar, 1954; Spirestava và Mehre, 1955 ). Đối với một số giun đũa khác
Như Ascaris của lợn, người, Parascaris của ngựa, thời gian từ khi con vật
bắt đầu cảm nhiễm trứng giun đũa cho đến khi thành giun trưởng thành có
khả năng đẻ trứng phải tối thiểu trên một tháng. Tuổi mắc bệnh quá sớm
của bê nghé làm người ta nghĩ đến bê nghé có thể mắc bệnh từ khi còn trong
bào thai. Mặt khác, nhiều thí nghiệm: gây bệnh cho bê, nghé một ngày tuổi
trở lên nuốt trứng giun đũa có phôi đều không thành công (Brampt, 1922;
Schmidt, 1933). Năm 1935, Davtian đã gây bệnh được bằng cách cho một
bê nuốt trứng giun 2 giờ sau khi đẻ, sau đó 30 ngày xuất hiện trứng trong
phân. Mổ khám sau khi chết, ngày thứ43 thấy một giun trưởng thành và 8
giun con.
1.1.2. Dịch tễ học của bệnh giun đũa bê, nghé
Bệnh giun đũa bê nghé do Neoascaris vitulorum gây ra, thường xảy ra
hầu khắp các nơi trên thế giới.
Travassos và Lacombe (1959) đã điều tra ở Braxin và cho biết, giun
đũa Neoascaris vitulorum là loại phổ biến ở nghé, ít thấy hơn ở bê.
Swain G.D. (1987) [53] cho biết, đã kiểm tra 12 nghé ở Ấn Độ, thấy 4
con có Neoascaris vitulorum, có con có tới 400 giun trong ruột. Tripathi
J.C. (1967) cũng cho biết, bê nghé ở Ấn Độ thường bị giun đũa ký sinh.
Theo Vichitr Sukhapesna (1981) [56], bê nghé nhiễm giun đũa
Neoascaris vitulorum chủ yếu qua bào thai và sữa.
Ranatunga (1960) điều tra ở Srilanka, tại nông trại Ridiyagana, thấy
nhiều nghé có trứng giun trong phân ở lứa tuổi 10 - 26 ngày sau khi đẻ. Theo
tác giả, tỷ lệ nghé chết về bệnh này còn cao hơn bệnh do cầu trùng gây ra.
Muangyai M. (1989) [45] thông báo rằng, giun đũa bê nghé
Neoascaris vitulorum là một trong những ký sinh trùng chủ yếu gây bệnh
cho bê nghé.
11
Theo Pandey V.S. và cs (1990) [47], kiểm tra phân của 20 bê nghé
trong giai đoạn 15 - 20 ngày tuổi ở đồng cỏ Zimbabwe, thấy trứng giun có

ngày (Lee - Nigeria, 1959), nghé là 10 ngày (Ranatuga, 1960). Theo Orlov
(1970), sau 3 tháng tuổi bê có hiện tượng tự thải giun đũa.
Ở Việt Nam, bệnh giun đũa bê nghé là một bệnh rất phổ biến. Nghé
có triệu chứng đặc trưng là phân có màu trắng, nên nhân dân thường gọi là
bệnh "Nghé ỉa cứt trắng". Năm 1923, Phạm Văn Long đã thông báo về một
ca bệnh trên nghé. Nhưng đến đầu năm 50, bệnh này mới thực sự được chú
ý vì nó gây thiệt hại lớn cho đàn trâu sinh sản ở miền núi.
Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [23] cho biết, do ảnh
hưởng của khí hậu thời tiết nên mầm bệnh lưu truyền từ mùa này sang mùa
khác. Trứng giun đũa có phôi thai có thể tồn tại từ mùa đông này qua mùa
đông năm sau, gặp đợt nghé đẻ ra chúng sẽ nhiễm vào nghé, gây bệnh tạo
thành vùng "nghé ỉa cứt trắng".
Do tập tính sinh sản của trâu bò miền núi phía bắc nước ta là đẻ vào
mùa đông khô lạnh, thiếu cỏ, thiếu nước nên bệnh giun đũa bê nghé gây tác
hại nhiều đối với nghé sơ sinh.
Theo Lê Đăng Đảnh và cs (2004) [5] thì bệnh giun đũa bê là bệnh
phổ biến ở nước ta , tuổi bê dễ mắc bệnh là 20 - 35 ngày sau khi đẻ, chưa
thấy bò trưởng thành mắc bệnh . Ở nghé nếu mắc phải giun đũa thì mẫn
cảm hơn là ở bê và có thể bị chết do tiêu chảy.
Phùng Quốc Quảng và cs (2006) [22] cho biết, bệnh giun đũa ở bê
phổ biến ở lứa tuổi 20 - 25 ngày sau khi đẻ. Bệnh phân bố khắp nơi trên thế
giới .Ở nước ta , bệnh thường phát vào mùa rét, tại các vùng nuôi bò thuộc
đồng bằng trung du, miền núi. Bệnh phổ biến hơn ở miền núi vì bê thường
thả rông đi theo mẹ đi ăn.
Tô Du (2005) [3] cho biết, bệnh giun đũa ở bê nghé hay mắc từ 15 -
13

Trích đoạn Đặc điểm bệnh lý và lõm sàng của bệnh giun đũa bờ, nghộ Chẩn đoỏn bệnh giun đũa bờ, nghộ Biện phỏp phũng trị bệnh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status