Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGYÊN
ĐẠI HỌC THÁI NGYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN TƢ TRỌNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH GIUN ĐŨA
BÊ, NGHÉ Ở HUYỆN NGHĨ A ĐÀ N VÀ QUỲ HỢ P
TỈNH NGHỆ AN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG, TRỊ
Chuyên ngành: Thú y
M s : 60 62 50
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Ngƣờ i hƣớ ng dẫ n khoa họ c: TS. Nguyễn Văn Quang
Lan đã đóng góp ý kiến và giúp đỡ nhiệt tình để tôi hoàn thành nhiệm vụ
nghiên cứu của mình.
Lnh đo Công ty , Ban quả n lý trang trạ i bò sƣ̃ a - Công ty Cổ
phầ n thƣ̣ c phẩ m sƣ̃ a TH đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
và thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Nguyễn Tƣ Trọ ng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
MC LC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục i
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt iii
Danh mục các bảng iv
Danh mục các hình v
MỞ ĐẦ U 1
CHƢƠNG I - TỔ NG QUAN TÀ I LIỆ U 3
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 3
1.1.1 Đặc điểm sinh học của giun đũa ký sinh ở bê, nghé 3
1.1.2. Dịch tễ học của bệnh giun đũa bê, nghé 11
1.1.3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh giun đũa bê, nghé 14
3.1.2. Nghiên cứu sự phát triển của trứng giun đũa bê nghé và sự tồn
tại của trứng có sức gây bệnh ở ngoại cảnh 55
3.2. Biểu hiện lâm sàng của bệnh giun đũa bê, nghé 62
3.2.1. Ảnh hƣởng của giun đũa trong hội chứng tiêu chảy của bê, nghé 62
3.2.2. T lệ bê nghé có biểu hiện lâm sàng khi bị bệnh giun đũa 65
3.3. Nghiên cứu và đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun đũa bê nghé 66
3.3.1. Khả năng diệt trứng và trứng giun đũa bê, nghé có sức gây
bệnh của thuốc sát trùng 66
3.3.2. Nghiên cứu công thức ủ phân có khả năng sinh nhiệt cao để
diệt trứng giun đũa bê nghé 68
3.3.3. Hiệu lực thuốc tẩy giun đũa bê, nghé 72
3.3.4. Đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun đũa cho bê, nghé 74
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 77
1. KẾT LUẬN 77
2. ĐỀ NGHỊ 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AS : Ánh sáng
cs : cộng sự
Nxb : Nhà xuất bản
TT : Thể trọ ng
Bảng 3.4. T lệ và cƣờng độ nhiễm giun đũa bê nghé theo địa hình 50
Bảng 3.5. T lệ và cƣờng độ nhiễm giun đũa bê nghé theo tính biệt 51
Bảng 3.6. T lệ và cƣờng độ nhiễm giun đũa bê nghé theo tình trạng vệ sinh
trong chăn nuôi. 52
Bảng 3.7. T lệ và cƣờng độ nhiễm giun đũa ở bê và nghé 54
Bảng 3.8. Tình trạng ô nhiễm trứng giun đũa bê nghé ở chuồng trại và khu vực
xung quanh chuồng trâu, bò. 55
Bảng 3.9. Sự phát tán trứng giun đũa bê nghé ở khu vực bãi chăn thả trâu, bò. 56
Bảng 3.10. Sự phát triển của trứng giun đũa bê, nghé trong phân thành trứng có
sức gây bệnh. 59
Bảng 3.11. Khả năng tồn tại của trứng giun đũa bê, nghé có sức gây bệnh trong
phân. 61
Bảng 3.12. T lệ và cƣờng độ nhiễm giun đũa ở bê, nghé bình thƣờng và tiêu
chảy. 63
Bảng 3.13. T lệ bê nghé có biểu hiện lâm sàng của bệnh giun đũa . 65
Bảng 3.14. Khả năng diệt trứng và trứng giun đũa bê, nghé có sức gây bệnh của
thuốc sát trùng. 67
Bảng 3.15. Sự tăng nhiệt và tác dụng diệt trứng giun đũa bê nghé của công
thức ủ 1 68
Bảng 3.16. Sự tăng nhiệt và tác dụng diệt trứng giun đũa bê nghé của công
thức ủ 2 69
Bảng 3.17. Sự tăng nhiệt và tác dụng diệt trứng giun đũa bê nghé của công
thức ủ 3 70
Bảng 3.18. Tổng hợp khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt trứng giun đũa bê nghé
của 3 công thức ủ 71
Bảng 3.19. Hiệu lực của một số thuốc tẩy giun đũa bê, nghé. 73
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v
Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [28], giun đũa Neoascaris
vitulorum gây tiêu chảy chiếm t lệ cao trong tổng số bê nghé sinh ra, t lệ
chết có thể tới 38,97% trong tổng số bê nghé bị bệnh.
Bệnh giun đũa là bệnh khá phổ biến ở bê nghé của nƣớc ta. Bệnh
thƣờng phát vào vụ đông - xuân, ở bê nghé dƣới 3 tháng tuổi. Bê nghé ở miền
núi nhiễm giun đũa cao hơn trung du và đồng bằng.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9], Phan Địch Lân và cs
(2005) [11], bệnh do giun Neoascaris vitulorum gây ra, chúng ký sinh trong
ruột non của bê nghé và gây ra các tác hại nhƣ: gây tổn thƣơng ruộ t non, một
số cơ quan (gan, phổi,…) do ấu trùng di hành, giun lấy chất dinh dƣỡng làm
cho bê nghé gầy còm, chậm lớn. Ngoài ra, giun đũa còn tiết độc tố làm cho
bê nghé bị trúng độc, sốt cao, ỉa chảy, gầy sút và dễ chết nếu không đƣợc
điều trị kịp thời.
Nghệ An là một tỉnh có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển chăn
nuôi trâu bò, bê, nghé. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc nghiên cứu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
về bệnh giun đũa bê nghé và biện pháp phòng trị vẫn chƣa đƣợc chú ý. Vì
vậy, bê nghé ở các địa phƣơng của tỉnh Nghệ An còn bị bệnh phân trắng
nhiều, gây thiệt hại kinh tế đáng kể. Trong mấ y năm gầ n đây , điề u kiệ n tƣ̣
nhiên và thờ i tiế t khí hậ u ở nƣớ c ta nó i chung và ở cá c tỉ nh miề n trung nó i
riêng có nhiề u biế n đổ i . Điề u đó có thể ả nh hƣở ng và là m thay đổ i quy luậ t
sinh tồ n củ a ký sinh trù ng, tƣ̀ đó ả nh hƣở ng đế n đặ c điể m dị ch tễ củ a bệ nh
Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết của thực tế chăn nuôi ở tỉnh Nghệ An và
nhƣ̃ ng vấ n đề đề cậ p ở trên , chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc
điểm dịch tễ bệnh giun đũa bê, nghé ở huyện Ngha Đn v Qu Hp - tỉnh
Nghệ An v biện pháp phòng trị”.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghành Nemathelminthes Schneider, 1873
Lớ p Nematoda Rudolphi, 1808
Phân Lớ p Rhabditia Pearse, 1942
Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940
Phân bộ Ascaridina Skrjabin, 1915
Họ Anisakidae Skrjabin et Karokhin, 1945
Giố ng Neoascaris Travassos, 1927
Loài Neoascaris vitulorum Goeze, 1782.
1.1.1.2. Đặc điểm hình thái của Neoascaris vitulorum.
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [6]; Nguyễn Thị Kim Lan và cs
(1999) [9], giun tròn Neoascaris vitulorum có thân màu vàng nhạt, đầu có ba
lá môi, rìa của những môi này có răng cƣa, thực quản dài 3 - 4,5 mm, chỗ nối
tiếp với ruột phình thành dạ dày nhỏ, vòng thần kinh và lỗ bài tiết ở ngang
nhau phần đầu. Giun đực không có cánh đuôi, dài 13 - 15 cm, rộng nhất 0,35
cm, đuôi dài 0,21 - 0,46 mm, thon tròn, trƣớc và sau hậu môn ở phía bụng có
20 - 27 gai, có một đôi gai giao hợp dài 0,95 - 1,20 mm. Giun cái dài 19 - 23
cm, chỗ rộng nhất là 0,5 cm, âm hộ ở khoảng 1/8 trƣớc thân, đuôi hình nón
dài 0,37 - 0,42 mm, đuôi có nhiều gai bao phủ. Trứng giun hơi tròn, có vỏ với
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
nhiều chỗ lõm nhỏ, dài 0,080 - 0,090 mm, rộng 0,070 - 0,075 mm.
Phan Lụ c (2005) [19] cho biế t, giun đũa có kích thƣớc to , vàng nhạt,
dài 13 - 22 cm, trên đầ u có 3 môi. Thƣ̣ c quả n hì nh ố ng dà i , phầ n cuố i có chỗ
phình to ra gọi là dạ dày giả . Xung quanh lỗ hậ u môn củ a giun đƣ̣ c có nhiề u
gai chồ i, có hai gai giao hợp to bằng n hau. Trƣ́ ng có 4 lớ p vỏ mà u nhạ t , lớ p
ngoài cùng lỗ chỗ nhƣ tổ ong, trƣ́ ng dà i 0,08 - 0,09 mm, rộ ng 0,07 - 0,75 mm.
Các nghiên cứu trên phù hợp với các tài liệu mô tả của Orlov (1970),
Euzeby (1981) nhƣng có khác với tài liệu mô tả của Skrjabin (1950),
Neveu - Lemaire (1952), Soulsby (1965), Drozdz (1967) là âm hộ giun cá i
ở 1/6 trƣớc thân.
Nguyễ n Thị Lê và cs (1996) [18] đã mô tả cấ u tạ o củ a giun đũ a : Giun
đƣ̣ c dà i 110 - 189 mm, rộ ng nhấ t 3,52 - 4,81 mm; đuôi dà i 0,21 - 0,46 mm,
thon dầ n về cuố i mú t ; thƣ̣ c quả n dà i 4,49 mm; gai sinh dụ c dà i 0,57 - 1,19
mm, có màng mỏng bao bọc ; ở phía trƣớc hậu môn có 20 - 27 nhú xếp thành
2 hàng, sau hậ u môn có 5 đôi nhú , đôi nhú thƣ́ nhấ t ké p . Giun cái dài 151 -
200 mm, rộ ng 4,0 - 5,7 mm; đuôi hì nh nó n , phủ nhiều gai , dài 0,37 - 0,42
mm; gầ n mú t đuôi có 2 nhú bên; lỗ sinh dụ c nằ m ở phầ n trƣớ c cơ thể , cách
mút đầu khoảng 1/10 - 2/10 chiề u dà i cơ thể ; trƣ́ ng hì nh cầ u kí ch thƣớ c 0,076
- 0,095 x 0,065 - 0,080 mm.
Theo những nghiên cứu của Taira và Fujita (1991) [54] từ năm 1982 -
1988, về giun tròn ở hai huyện Kyushu và Okinawa, Nhật bản. Hai tác giả đã
nghiên cứu 7 giun đũa đực và 21 giun đũa cái về hình thái học, cho thấy độ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
dài trung bình của giun đực là 15,64 cm (14,0 - 18,0 cm), giun cái 25,75 cm
(16,5 - 34,0 cm). Thân trắng đục và mềm. Trứng giun dài 81,6 µm và rộ ng
71,8 µm, bề mặt vỏ trứng trơn nhẵn, không nhăn nheo.
Prokopic J. và Sterba J. (1989) [48] đã quan sát giun đũa Neoascaris
vitulorum trên kính hiển vi điện tử, thấy cấu trúc bề mặt của giun gồm môi,
Chẩn đoán bằng cách xét nghiệm phân tìm trứng giun Neoascaris
vitulorum hoặc trên cơ sở phát hiện thấy giun tự thải ra ở trong phân.
Phạm S Lăng (2005) [12] cũng cho biế t, bệ nh giun đũ a bê nghé l ây
nhiễ m qua 2 con đƣờ ng:
- Qua đƣờ ng tiêu hó a do bê nghé ăn phả i trƣ́ ng giun đũ a cả m nhiễ m.
- Ấu trùng từ máu trâu bò mang thai xâm nhập vào bào thai.
Theo Trịnh Văn Thịnh (1962) [26], trứng giun đũa ra ngoài thiên nhiên
gặp nhiệt độ nóng ẩm thích hợp thì phát triển thành phôi thai: ở nhiệt độ 15 -
17
0
C thì phải 38 ngày, ở nhiệt độ 19 - 22
0
C thì phải sau 20 ngày. Nếu để phân
khô đi hoặc ủ phân theo phƣơng pháp nhiệt sinh học thì trứng sẽ ngừng phát
dục. Dƣới ánh nắng trực tiếp mùa hè thì một tuần, nếu ở sâu trong đất thì 12 -
15 ngày phôi chết, mùa đông phân khô thì sau một tháng phôi bị diệt.
Vichitr Sukhapesna (1982) [57] đã nghiên cƣ́ u 10 trâu bò mẹ n hiễm
Strongyloides papillosus và Neoascaris vitulorum cùng với bê nghé kể từ
khi bê nghé đƣợc sinh ra. Tác giả cho rằng trâu bò m là nơi chƣ́ a mầ m bệ nh
chính làm cho bê nghé con bị nhiễm S. papillosus và N. vitulorum. Bê nghé
đã bị nhiễm S. papillosus qua bú sữa tƣ̀ trâu bò mẹ , và nhiễm N. vitulorum
qua nhau thai.
Nghé đẻ ra sau 14 ngày đã có trứng giun trong phân (tức là có giun
trƣởng thành trong ruột) chứng tỏ nghé bị nhiễm bệnh từ trong bào thai.
Giun đũ a có c hu k phát triển trực tiếp, không qua ký chủ trung gian.
Giun trƣởng thành sống trong ruột non của bê nghé đẻ trứng, trứng theo phân
ra ngoài, gặ p điề u kiệ n thuậ n lợ i thì phát triển thành phôi thai trong trứng.
Trƣ́ ng có phôi thai là trƣ́ ng đã có sƣ́ c gây bệ nh . Sau đó trƣ́ ng nà y lại vào cơ
thể con vật theo thƣ́ c ăn, nƣớ c uố ng. Khi mới theo phân ra ngoài trứng không
phân chia. Tu theo điều kiện nhiệt độ và độ ẩm bên ngoài, thời gian trứng
0
C cần trên 28 ngày. Trứng giai đoạn
cảm nhiễm có chứa ấu trùng, có sức đề kháng cao với điều kiện ngoại cảnh.
Galila A.B. và cs (1990) [40] cho biế t, ở 25
0
C trứng giun đũ a phá t triể n
thành trứng chứa ấu trùng sau 7 ngày. Kết quả trên giố ng vớ i nghiên cƣ́ u củ a
Refuerzo và cs (1952); Enyenihi (1969) tại 27
0
C. Nhƣng theo bá o cá o củ a
Schwartz (1922) là mất 10 - 12 ngày ở 25
0
C để phát triển thành trứng chứa ấu
trùng. Giai đoạn thứ hai của trứng chứa ấu trùng đã đƣợc quan sát thấy ở vào
ngày thứ 11 và có 91% trứng đƣợc phát triển đến giai đoạn này vào ngày 15
ngày. Tawkif (1970) báo cáo rằ ng mấ t 9 ngày ở 26 - 28
0
C để phát triển đến
giai đoạ n trƣ́ ng chƣ́ a ấ u trù ng.
Irfan và Sarwar (1954) đã nghiên cứu ở Pakistan, trứng phát triển đến
giai đoạn cảm nhiễm sau 11 ngày ở 26
0
C; trứng sẽ bị thoái hoá nếu để ở nhiệt
độ 30
0
C; ở 10
0
C trứng ngừng phát triển.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
không bị diệt. Phạm Chức (1980) [2] cũng cho biết, Lysol 5% diệt trứng
giun đũa trong một giờ; Axit phêníc 5% diệt trứng trong thời gian 45 phút
đến một giờ.
Theo Đỗ Dƣơng Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [23], trứng giun đũa
phát dục thành phôi thai trong khoảng 20 ngày ở nhiệt độ 19 - 22
0
C, nhƣng
phải cần 38 ngày ở nhiệt độ 15 - 17
o
C.
Dƣơng Công Thuận và cs (1986) [31] đã lấy phân của bê nghé bị nhiễm
giun đũa có nhiều trứng, trộn với nƣớc để giữ ẩm, cho vào đĩa Pettri, để ở nhiệt
độ trong phòng khoảng 15 - 22
0
C (tháng 10 - 11), thấ y trứng phát triển thành
phôi thai sau 20 ngày, ở nhiệt độ 15 - 17
0
C phôi hình thành sau 38 ngày.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
Phạm S Lăng và Phan Địch Lân (1999) [13] cho biết, con cái đẻ trứng
ở ruột non, theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ thích hợp trứng phát triển thành
trứng có khả năng gây bệnh (nhiệt độ 15 - 17
0
C cần 38 ngày, 19 - 22
0
C cần 20
ngày, 25
hành qua phổi, khí quản, ruột giống nhƣ sƣ̣ di hành của giun đũa lợn, xuống
ruột, giun lớn lên nhanh chóng và phát triển thành giun trƣởng thành đẻ trứng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
Trong điều kiện tự nhiên, ở bê nghé từ 17 ngày tuổi trở lên đã có thể
tìm thấy trứng giun đũa trong phân. Thƣờng tuổi bê, nghé mắc bệnh là 15 - 42
ngày (Boulenger C.L., 1922 [37]; Spent, 1946; Keith, 1951; Irfan và Sarwar,
1954; Spirestava và Mehre, 1955 ). Đối với một số giun đũa khác nhƣ
Ascaris của lợn, ngƣời, Parascaris của ngựa, thời gian từ khi con vật bắt đầu
cảm nhiễm trứng giun đũa cho đến khi thành giun trƣởng thành có khả năng
đẻ trứng phải tối thiểu trên một tháng. Tuổi mắc bệnh quá sớm của bê nghé
làm ngƣời ta nghĩ đến bê nghé có thể mắc bệnh từ khi còn trong bào thai. Mặt
khác, nhiều thí nghiệm: gây bệnh cho bê, nghé một ngày tuổi trở lên nuốt
trứng giun đũa có phôi đều không thành công (Brampt, 1922; Schmidt, 1933).
Năm 1935, Davtian đã gây bệnh đƣợc bằng cách cho một bê nuốt trứng giun 2
giờ sau khi đẻ, sau đó 30 ngày xuất hiện trứng trong phân. Mổ khám sau khi
chết, ngày thứ 43 thấy một giun trƣởng thành và 8 giun con.
1.1.2. Dịch tễ học của bệnh giun đũa bê, nghé
Bệnh giun đũa bê nghé do Neoascaris vitulorum gây ra, thƣờng xảy ra
hầu khắp các nơi trên thế giới.
Travassos và Lacombe (1959) đã điều tra ở Braxin và cho biết, giun
đũ a Neoascaris vitulorum là loại phổ biến ở nghé, ít thấy hơn ở bê.
Swain G.D. (1987) [53] cho biết, đã kiểm tra 12 nghé ở Ấn Độ, thấy 4
con có Neoascaris vitulorum, có con có tới 400 giun trong ruột. Tripathi J.C.
(1967) cũng cho biết, bê nghé ở Ấn Độ thƣờng bị giun đũa ký sinh.
Theo Vichitr Sukhapesna (1981) [56], bê nghé nhiễm giun đũa
Neoascaris vitulorum chủ yếu qua bào thai và sữa.
Ranatunga (1960) điều tra ở Srilanka, tại nông trại Ridiyagana, thấy
Gupta và cs (1985) [41] cho biết, trong 1626 bê ở bang Haryana (Ấn
Độ) có 55,8% bị nhiễm ký sinh trùng, bao gồm: giun móc 44,2%; giun đũ a
15,2%; giun đầu gai 6,2%. T lệ nhiễm trong mùa thu (62,8%) cao hơn trong
mùa xuân (54,2%), mùa hè (52,4%) và mùa đông (52,2%). Trong 2411 nghé
ở Bang Haryana có 62,9% nhiễm ký sinh trùng, trong đó giun đũ a là 29,1%;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
giun móc 20,7%; giun đầu gai 9,2% và cầ u trù ng 5,2%. T lệ nhiễm trong
mùa thu (69,8%) và mùa hè (67,8%), cao hơn mùa xuân (51,9%) và mùa
đông (56,3%).
Kết quả điều tra cho thấy, có trƣờng hợp bê mắc bệnh sớm nhất là 15
ngày (Lee - Nigeria, 1959), nghé là 10 ngày (Ranatuga, 1960). Theo Orlov
(1970), sau 3 tháng tuổi bê có hiện tƣợng tự thải giun đũa.
Ở Việt Nam, bệnh giun đũa bê nghé là một bệnh rất phổ biến. Nghé có
triệu chứng đặc trƣng là phân có màu trắng, nên nhân dân thƣờng gọi là bệnh
"Nghé ỉa cứt trắng". Năm 1923, Phạm Văn Long đã thông báo về một ca bệnh
trên nghé. Nhƣng đến đầu năm 50, bệnh này mới thực sự đƣợc chú ý vì nó
gây thiệt hại lớn cho đàn trâu sinh sản ở miền núi.
Đỗ Dƣơng Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [23] cho biết, do ảnh
hƣởng của khí hậu thời tiết nên mầm bệnh lƣu truyền từ mùa này sang mùa
khác. Trứng giun đũa có phôi thai có thể tồn tại từ mùa đông này qua mùa
đông năm sau, gặp đợt nghé đẻ ra chúng sẽ nhiễm vào nghé, gây bệnh tạo
thành vùng "nghé ỉa cứt trắng".
Do tập tính sinh sản của trâu bò miền núi phía bắc nƣớc ta là đẻ vào
mùa đông khô lạnh, thiếu cỏ, thiếu nƣớc nên bệnh giun đũa bê nghé gây tác
hại nhiều đối với nghé sơ sinh.
Theo Lê Đăng Đả nh và cs (2004) [5] thì bệnh giun đũa bê là bệnh phổ
biế n ở nƣớ c ta , tuổ i bê dễ mắ c bệ nh là 20 - 35 ngày sau khi đẻ, chƣa thấ y bò
nghé đẻ ra.
1.1.3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh giun đũa bê, nghé
1.1.3.1. Cơ chế sinh bệnh.
Khi bê nghé nuốt phải trứng giun đũa có sức gây bệnh, sau 43 ngày có
thể thấy giun đũa trƣởng thành ở ruột non bê nghé. Trong thời k ấu trùng
giun đũa di hành đến một số khí quan nhƣ phổi, gan. Khi giun trƣởng thành ở
ruột non số lƣợng nhiều, vít chặt làm tắc ruột non, có khi làm thủng ruột hoặc
chui vào ống dẫn mật, gan.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Giun còn tiết chất độc làm cho bê nghé bị trúng độc, gây ỉa chảy, gầy
sút nhanh. Giun lấy chất dinh dƣỡng làm bê nghé gầy yếu (Phạm Văn Khuê
và Phan Lục, 1996 [6]) Giun đũa Neoascaris vitulorum cũng nhƣ các loài
giun sán khác, ngoài tác động chiếm đoạt chất dinh dƣỡng của vật chủ, còn
gây tổn thƣơng niêm mạc ruột, tạo điều kiện cho các vi khuẩn có trong đƣờng
tiêu hoá (E.coli, Salmonella, Proteus ) xâm nhập gây rối loạn quá trình phân
tiết, viêm ruột và tiêu chảy cấp tính hoặc mãn tính.
Ngoài ra, giun đũa còn gây viêm ruột cata, một số ít bị biến đổi hoại tử
ở gan. Giun ở trong ống dẫn mật gây viêm có mủ, viêm do tổn thƣơng ở phổi
cũng đƣợc phát hiện. Gia súc non mắc bệnh giun đũa bị viêm ruột thứ phát có
thể chết đến 80%.
Đặc điểm chủ yếu của bệnh là gây tiêu chảy song không liên tục, có sự
xen kẽ giữa tiêu chảy và bình thƣờng, cơ thể thiếu máu, da nhợt nhạt, bê nghé
có biểu hiện nôn từng cơn, kém ăn, thể trạng sa sút. Nếu không phát hiện sớm
và điều trị kịp thời bê nghé chết rất nhanh.
Theo Chu Thị Thơm và cs (2006) [29], ấu trùng sau khi xâm nhập vào
cơ thể bê nghé , ấu trùng di hành gây tổn thƣơng nhiều cơ quan . Chúng đem
theo nhiề u vi khuẩ n , virus gây cá c bệ nh truyề n nhiễ m kế phát. Giun chiế m
đứng lên nằm xuống, ỉa phân lúc đầu táo hoặc lổn nhổn, màu đen, dần dần
chuyể n thành màu trắng, lỏng.
Theo Đỗ Dƣơng Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [23], con vật ăn ké m,
ỉa chảy, đôi khi táo bón, chƣớng hơi, đi lại không yên, đau bụng, ho, co giật.
Trƣờng hợp tự thải giun hay đƣợc điều trị thì các triệu chứng sẽ mất đi, ở thể
mãn tính bệ nh kéo dài 2 - 3 tháng.
Phạm Xuân Dụ (1971) cho biết, bệnh ỉa chảy ở bê một phần do giun
đũa và bệnh viêm phổi, một phần do giun phổi.
Phan Địch Lân (1986) [10] đã thông báo bê Zê bu mắc bệnh giun đũa ở
Nông trƣờng Phú Mẫn (Hà Sơn Bình) có triệu chứng ỉa chảy, ủ rũ, nằm liệt tại
chỗ và có con chết.
Dƣơng Công Thuận và Nguyễn Văn Lốc (1986) [31], Phạm S Lăng
và cs (2002) [16] cho biết, bê nghé mắc bệnh thƣờng lù đù, chậm chập, đầu