BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
PHẠM DIỆU THÙY
“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH SÁN LÁ GAN TRÂU, BÒ
(FASCIOLOSIS) Ở TỈNH THÁI NGUYÊN, BẮC KẠN, TUYÊN QUANG
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
(2010 - 2013) Chuyên ngành: Ký sinh trùng và vi sinh vật học Thú y
Mã số: 62. 64. 01. 04 LUẬN ÁN TIẾN SĨ THÚ Y
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Thị Kim Lan
cho NCS trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
NCS xin trân trọng cảm ơn Chi cục Thú y, các Trạm Thú y thuộc các tỉnh Thái
Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang và các hộ chăn nuôi trâu, bò trên địa bàn các tỉnh
nghiên cứu đã tạo điều kiện giúp đỡ NCS trong quá trình thực hiện đề tài.
NCS xin chân thành cảm ơn các em sinh viên các Khóa 38, 39, 40, 41, 42
chuyên ngành Thú y và Chăn nuôi thú y, các học viên cao học khóa 18, 19 đã tham
gia và hỗ trợ NCS thực hiện thành công luận án này.
NCS chân thành cảm ơn Viện Sinh Thái và Tài nguyên sinh vật; phòng Siêu
cấu trúc - Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương đã giúp đỡ NCS thực hiện đề tài.
Cuối cùng, NCS xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đồng
nghiệp đã động viên và giúp đỡ NCS trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu.
Thái Nguyên, tháng 06 năm 2014
Nghiên cứu sinh Phạm Diệu Thùy iii
MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Sán lá Fasciola gây bệnh trên động vật nhai lại và người 4
1.1.1. Vị trí của sán lá Fasciola trong hệ thống phân loại động vật học 4
1.1.2. Đặc điểm hình thái của sán lá Fasciola 4
1.1.3. Vòng đời của sán lá Fasciola 6
1.2. Bệnh do sán lá Fasciola ở động vật nhai lại 11
trong ký chủ trung gian 46
2.3.3. Nghiên cứu tương quan giữa số trứng sán Fasciola spp. trong 1 gam
phân với số sán lá ký sinh ở trâu, bò 46
2.3.4. Nghiên cứu biện pháp phòng chống bệnh sán lá Fasciola spp. cho trâu, bò.46
2.3.4.1. Xác định thuốc tẩy sán lá Fasciola spp. có hiệu lực cao và an toàn 46
2.3.4.2. Nghiên cứu biện pháp phòng chống tổng hợp bệnh sán lá Fasciola spp.
cho trâu, bò 46
2.4. Phương pháp nghiên cứu 47
2.4.1. Phương pháp mổ khám, thu thập và định loại sán lá Fasciola spp. ký sinh
ở trâu, bò tại Thái Nguyên, Bắc Kạn và Tuyên Quang 47
2.4.2. Phương pháp điều tra tình trạng vệ sinh thú y và phòng chống bệnh sán
lá Fasciola spp. cho trâu, bò 48
2.4.3. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá Fasciola spp. ở trâu, bò 48
2.4.3.2. Bố trí thu thập mẫu 49
2.4.3.3. Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá F. gigantica
trên trâu, bò 49
2.4.4. Phương pháp nghiên cứu trứng và ấu trùng sán lá Fasciola spp. ở ngoại
cảnh và trong ký chủ trung gian 50
2.4.4.1. Phương pháp nghiên cứu sự ô nhiễm trứng sán lá Fasciola spp. ở nền
chuồng và khu vực xung quanh chuồng nuôi trâu, bò 50
2.4.4.2. Phương pháp nghiên cứu sự ô nhiễm trứng sán lá Fasciola spp. ở khu vực
chăn thả trâu, bò 51
2.4.4.3. Phương pháp thu thập và xác định loài ốc nước ngọt - ký chủ trung gian
của sán lá gan Fasciola 51
2.4.4.4. Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá Fasciola spp. của
ốc nước ngọt 51
2.4.5. Nghiên cứu thời gian sống của trứng sán lá Fasciola spp. ở ngoại cảnh
(khi không rơi vào môi trường nước) 52
2.4.5.1. Nghiên cứu thời gian sống của trứng sán lá Fasciola spp. trong phân
trâu, bò 52
3.2.3. Nghiên cứu về trứng và ấu trùng sán lá F. gigantica ở ngoại cảnh và trong
ký chủ trung gian 85
3.2.3.1. Sự ô nhiễm trứng sán lá F. gigantica ở chuồng trại, bãi chăn thả 85
3.2.3.2. Sự ô nhiễm trứng sán lá F. gigantica trên bãi chăn thả trâu, bò 88
3.2.3.3. Sự phân bố các loài ốc nước ngọt - ký chủ trung gian của sán lá F. gigantica.89
3.2.3.4. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan của ốc - ký chủ trung gian 92
vi
3.2.3.5. Tỷ lệ mẫu cỏ thủy sinh nhiễm Adolescaria 94
3.2.3.6. Nghiên cứu về thời gian sống của trứng sán lá F. gigantica ở ngoại cảnh
(khi chưa rơi vào môi trường nước) 96
3.2.3.7. Thời gian sống của trứng sán lá F. gigantica trong đất 99
3.2.3.8. Nghiên cứu về thời gian thoát vỏ của Miracidium và thời gian sống của
Miracidium trong nước 100
3.2.3.9. Nghiên cứu thời gian phát triển của ấu trùng sán lá F. gigantica trong ốc -
ký chủ trung gian 105
3.3. Nghiên cứu tương quan giữa số trứng sán F. gigantica trong 1 gam phân với
số sán lá ký sinh ở trâu, bò 107
3.4. Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh sán lá F. gigantica cho trâu, bò 110
3.4.1. Xác định thuốc tẩy sán lá F. gigantica có hiệu lực cao và an toàn 110
3.4.1.1. Xác định hiệu lực của một số thuốc tẩy sán lá F. gigantica đã được sử
dụng nhiều năm trên trâu, bò 110
3.4.2. Thử nghiệm biện pháp phòng trị bệnh sán lá F. gigantica trên trâu 116
3.4.2.1. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá F. gigantica sau 2 tháng thử nghiệm 118
3.4.2.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá F. gigantica sau 4 tháng thử nghiệm 119
3.4.3. Đề xuất biện pháp phòng chống tổng hợp bệnh sán lá F. gigantica
cho trâu, bò 120
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 123
1. Kết luận 123
2. Đề nghị: 125
Bảng 3.3. Kết quả xác định loài sán lá gan ký sinh ở trâu, bò 64
Bảng 3.4. Loài sán lá gan ký sinh ở trâu, bò tại ba tỉnh miền núi phía Bắc 65
Bảng 3.5. Thực trạng chăn nuôi và phòng chống bệnh ký sinh trùng cho đàn trâu,
bò ở ba tỉnh miền núi phía Bắc 66
Bảng 3.6: Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá F. gigantica ở trâu tại các địa phương 68
Bảng 3.7: Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở bò tại các địa phương 73
Bảng 3.8: Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá F. gigantica theo tuổi trâu 75
Bảng 3.9: Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá F. gigantica theo tuổi bò 77
Bảng 3.10: Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá F. gigantica ở trâu theo mùa vụ 79
Bảng 3.11. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở bò theo mùa vụ 80
Bảng 3.12. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá F. gigantica theo tính biệt của trâu 83
Bảng 3.13. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá F. gigantica theo tính biệt của bò 84
Bảng 3.14. Sự ô nhiễm trứng sán lá F. gigantica ở chuồng và khu vực 85
xung quanh chuồng nuôi trâu 85
Bảng 3.15. Sự ô nhiễm trứng sán lá F. gigantica ở chuồng và khu vực 86
xung quanh chuồng nuôi bò 86
Bảng 3.16. Sự ô nhiễm trứng sán lá F. gigantica ở khu vực bãi chăn thả trâu, bò 88
Bảng 3.17. Kết quả định loại các mẫu ốc nước ngọt 89
Bảng 3.18. Sự phân bố các loài ốc ở ba tỉnh nghiên cứu 91
Bảng 3.19. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá F. gigantica của ốc nước ngọt 92
Bảng 3.20. Tỷ lệ mẫu cỏ thủy sinh nhiễm Adolescaria 95
Bảng 3.21. Thời gian sống của trứng sán lá F. gigantica trong phân trâu 97
Bảng 3.22. Thời gian sống của trứng sán lá F. gigantica trong phân bò 98
Bảng 3.23. Thời gian sống của trứng sán lá F. gigantica trong đất 99
ix
Bảng 3.24. Thời gian Miracidium thoát vỏ trong nước (từ khi trứng sán lá F.
gigantica rơi vào môi trường nước) 101
Bảng 3.25. Thời gian sống của Miracidium trong nước 104
Bảng 3.26. Thời gian hoàn thành các giai đoạn ấu trùng của sán lá F. gigantica
Hình 3.10. Đồ thị biểu diễn phương trình y = a + bx về mối tương quan giữa số trứng
sán/ gam phân với số sán ký sinh/trâu 107
Hình 3.11. Đồ thị biểu diễn phương trình y = a + bx về mối tương quan giữa số trứng
sán/ gam phân với số sán lá ký sinh/bò 108
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bệnh sán lá gan ở trâu, bò (Fasciolosis) do hai loài sán lá Fasciola hepatica và
Fasciola gigantica gây ra, được coi là bệnh ký sinh trùng phổ biến và gây thiệt hại
rất lớn về kinh tế cho ngành chăn nuôi trâu, bò trên toàn thế giới (Soulsby E. J.,
1987 [167]). Trong những năm gần đây, bệnh sán lá gan ở trâu, bò đang trở nên phổ
biến và gia tăng do sự thay đổi khí hậu và sự di cư của động vật từ vùng này sang
vùng khác (Muhammad Kasib Khan và cs., 2013 [132]).
Sán lá Fasciola ký sinh gây nhiều tác động xấu như làm giảm sức sinh trưởng,
sinh sản ở trâu, bò: mỗi sán ký sinh làm khả năng tăng khối lượng giảm 200
gam/năm (Sewell M. M. H., 1966 [153]), tăng trọng hàng năm giảm 20 - 40 kg, tỷ
lệ có thai giảm 10% (Sothoeun S., 2007 [157]). Theo Suhardono D. (2001) [159],
việc tẩy sán lá gan cho bò đã rút ngắn khoảng cách giữa hai lần động dục của bò
xuống 18,5 tháng, trong khi những bò không được điều trị thì khoảng cách này kéo
dài tới 31,5 tháng. Theo Roberts J. A. và cs. (1991) [143], thiếu máu do sán ký sinh
đã làm giảm 7 - 15% khả năng lao tác (uớc tính, mỗi năm thiệt hại do trâu, bò bị nhiễm
sán lá Fasciola là từ 82 - 98 đô la Úc/trâu hoặc bò (Sothoeun S., 2007 [157]), tức là
khoảng từ 1,5 - 1,8 triệu đồng Việt Nam; chi phí này ở Thụy Sỹ là 52 triệu Euro
(Schweizer G. và cs., 2005 [151]), ở Kenya là 3,5 triệu KES (Mungube E. O. và cs.,
2006 [133]), ở Etiopia là 0,27 triệu đô la Mỹ (Berhe G. và cs., 2009 [69]). Như vậy, có
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn sản xuất, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên
cứu đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan trâu, bò (Fasciolosis) ở tỉnh Thái Nguyên, Bắc
Kạn, Tuyên Quang và biện pháp phòng trị (2010 - 2013) ”.
2. Mục tiêu của đề tài:
- Xác định được thành phần loài và một số đặc điểm dịch tễ bệnh do sán lá
Fasciola spp. gây ra trên trâu, bò ở ba tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn và Tuyên Quang.
- Xây dựng được biện pháp phòng, trị bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò tại ba tỉnh
Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về loài sán lá gan lớn ký sinh
trên trâu, bò nuôi tại các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn và Tuyên Quang; đặc điểm
3
dịch tễ của bệnh; sự phát triển của trứng và ấu trùng sán lá gan; mối tương quan
giữa số sán ký sinh/trâu, bò với số trứng sán/gam phân và biện pháp phòng chống
bệnh sán lá gan lớn cho trâu, bò.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng các
biện pháp phòng trị bệnh sán lá Fasciola, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại do
sán lá Fasciola gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn
nuôi trâu, bò phát triển.
3.3. Những đóng góp mới của đề tài
- Là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về đặc điểm dịch tễ và biện
pháp phòng trị bệnh sán lá Fasciola cho trâu, bò ở 3 tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn và
Tuyên Quang.
- Xác định được tương quan giữa số sán lá Fasciola gigantica ký sinh trên
nhiễm sán lá gan ở mức độ nặng.
Sán lá Fasciola ngày càng chứng tỏ vai trò gây bệnh quan trọng cho động vật
nhai lại và người (Mas - Coma S. và cs., 2009 [125]).
1.1. Sán lá Fasciola gây bệnh trên động vật nhai lại và người
1.1.1. Vị trí của sán lá Fasciola trong hệ thống phân loại động vật học
Theo Nguyễn Thị Lê và cs. (1996) [34], sán lá gan ký sinh và gây bệnh cho gia
súc nhai lại được xếp trong hệ thống phân loại động vật như sau:
Ngành Plathelminthes Schneider, 1873
Phân ngành Platodes Leuckart, 1854
Lớp Trematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp Prosostomadidea Skrjabin và Guschanskaja, 1962
Bộ Fasciolibda Skrjabin và Schulz, 1937
Phân bộ Fasciolata Skrjabin và Schulz, 1937
Họ Fasciolidae Railliet, 1895
Phân họ Fasciolinae Stiles và Hassall, 1898
Giống Fasciola Linnaeus, 1758
Loài Fasciola hepatica Linnaeus, 1758
Loài Fasciola gigantica Cobbold, 1885
1.1.2. Đặc điểm hình thái của sán lá Fasciola
Sán lá F. gigantica và F. hepatica có màu đỏ nâu. Trong đó, F. gigantica là loài
sán lá phổ biến ở nước ta. Loài sán này có chiều dài từ 25 - 75 mm, rộng từ 3 - 12 mm,
5
hình lá, u lồi hình nón của đầu là phần tiếp theo của thân, vì vậy sán không có ‘‘vai’’. Hai
rìa bên thân sán song song với nhau, có hai giác bám: giác bụng và giác miệng. Giác
miệng ở đầu sán thông với hầu, thực quản, ruột gồm hai manh tràng phân thành nhiều
nhánh nhỏ. Giác bụng tròn, lớn hơn giác miệng và ở gần giác miệng. Trứng sán F.
dưới nhau ở phần sau cơ thể. Mỗi tinh hoàn thông với ống dẫn tinh riêng rồi đổ vào
túi sinh dục. Phần cuối của túi sinh dục được kitin hóa, gọi là cirrus, có chức năng
như dương vật. Buồng trứng phân nhánh ở phía trước tinh hoàn. Tử cung sán chứa
đầy trứng, uốn khúc thành hình hoa ở giữa ống dẫn noãn hoàng và giác bụng. Tuyến
noãn hoàng xếp dọc 2 bên thân và phân nhánh.
Theo Itagaki T. và Tsutsumi K. (1998) [107], Mas - Coma S. và cs. (2009)
[126], ở châu Âu, châu Mỹ và châu Đại Dương chỉ có loài F. hepatica; trong khi ở
châu Á và châu Phi có cả 2 loài F. hepatica và F. gigantica.
Đối với khu vực Đông Nam Á, đặc biệt ở Việt Nam, tình hình nhiễm Fasciola
ở động vật nhai lại và người đang gia tăng (Tran V. H. và cs., 2001 [162], Mas -
Coma S. và cs., 2009 [125]).
1.1.3. Vòng đời của sán lá Fasciola
Năm 1752 Swammerrdam đã phát hiện những vĩ ấu (Cercaria) của sán lá F.
hepatica ở một ốc Gasterpoda. Song phải đến năm 1882 Thomas (nghiên cứu ở
Anh) và Leukart (nghiên cứu ở Đức) đã gần như cùng một lúc mô tả vòng đời của
sán lá gan.
Fasciola trưởng thành ký sinh trong ống dẫn mật của gia súc nhai lại. Sau khi
thụ tinh, mỗi sán đẻ hàng chục vạn trứng. Những trứng này theo dịch mật vào ruột
và theo phân ra ngoài. Nếu gặp điều kiện thuận lợi: được nước mưa cuốn trôi xuống
các vũng nước, hồ, ao, suối, ruộng nước ; nhiệt độ 15 - 30
o
C; pH = 5 - 7,7; có ánh
sáng thích hợp thì sau 10 - 25 ngày trứng nở thành Miracidium bơi tự do trong
nước. Nếu thiếu ánh sáng, Miracidium không có khả năng thoát vỏ nhưng vẫn tồn
tại đến 8 tháng trong vỏ. Miracidium có hình tam giác, xung quanh thân có lông và
di chuyển được trong nước.
7
C, trứng của
F. hepatica mất 7 ngày mới nở, nếu 25
o
C thì mất 9 - 10 ngày và 20
o
C thì mất 15 ngày,
trong khi đó nếu ở nhiệt độ 30
o
C, trứng của F. gigantica phải mất 11 - 12 ngày mới nở,
nếu 25
o
C thì mất 17 ngày và 20
o
C thì mất 31 ngày.
Grigoryan G. A. (1958) [98] cho biết, nhiệt độ 24 - 26
o
C và pH 6,5 - 7 là tốt
nhất cho sự phát triển của trứng sán lá gan. Tác giả cho rằng, trứng không sống ở
nhiệt độ trên 43
o
C, điều kiện khô hạn cũng làm trứng chết nhanh. Trứng F.
gigantica phát triển không đồng đều và nở thành Miracidium ở cùng một thời gian.
Vì vậy, trong cùng một điều kiện Miracidium có thể nở trong khoảng thời gian tới
vài tuần, tăng cơ hội nhiễm vào ốc. Cũng theo Guralp N. và cs. (1964) [99], thời
gian cho sự phát triển thành Miracidium trong trứng F. gigantica khác nhau phụ
thuộc vào nhiệt độ. Khoảng 10 - 11 ngày ở 37 - 38
o
C, 21 - 24 ngày ở 25
o
C và 33
Vĩ ấu (Cercaria) là ấu trùng ở pha sống tự do của sán lá gan, có thân hình tròn lệch,
kích thước 0,28 - 0,30 x 0,23 mm, có đuôi dài hơn thân, đuôi giúp vĩ ấu di chuyển dễ
dàng trong nước. Cấu tạo của vĩ ấu gồm giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản và
ruột phân nhánh.
Trong cơ thể Cercaria có những hạt glycogen cung cấp năng lượng cho hoạt
động sống của ấu trùng, đặc biệt là cho sự vận động không ngừng của đuôi. Đuôi là
cơ quan vận động của vĩ ấu. Theo một số tác giả, đuôi làm nhiệm vụ thay đổi vị trí
của ấu trùng trong môi trường nước. Nhờ sự hoạt động tích cực của đuôi mà vĩ ấu
có thể tiếp cận để bám vào các cây thuỷ sinh, tạo thành kén (Adolescaria).
Từ khi Miracidium xâm nhập vào ốc đến khi phát triển thành Cercaria cần
khoảng 50 - 80 ngày. Sau khi thành thục, Cercaria thoát khỏi ốc, ra môi trường ngoài,
bơi tự do trong nước. Sau vài giờ bơi trong nước, Cercaria rụng đuôi, tiết chất nhầy
xung quanh thân, chất nhầy gặp không khí khô rất nhanh. Lúc này Cercaria đã biến
thành Adolescaria (ấu trùng sán lá Fasciola có sức gây bệnh).
9
Theo Guralp N. và cs., 1964 [99], khoảng 80% Cercaria ra khỏi ốc vào buổi tối.
Tại Brazil, Gomes D. L. (1985) [168] đã thu được Cercaria sau 56 ngày gây nhiễm
Miracidium cho ốc ở nhiệt độ 27 - 29
o
C.
Tổng số Cercaria có thể có trong mỗi ốc thường là hàng trăm, nhưng có thể
khác nhau từ vài trăm đến hàng nghìn. Bitakaramire P. K. (1968) [70] đã thu được
trung bình 653 Cercaria của sán F. gigantica/ốc L. natalensis được gây nhiễm,
nhưng Grigoryan G. A. (1958) [98] đã thu được 2.700 Cercaria/ốc, Guralp N. và cs.
(1964) [99] thu được 7.179 Cercaria/ốc trong thời gian 75 ngày.
Sharma R. L. và cs. (1989) [154] cho biết, ở 25 - 27
- Một số ấu trùng khác cũng dùng tuyến xuyên xuyên qua thành ruột vào
xoang bụng, đến gan, xuyên qua nhu mô gan vào ống mật.
- Một số ấu trùng từ tá tràng ngược dòng dịch mật để lên ống dẫn mật.
Sau khi vào ống dẫn mật, ấu trùng ký sinh ở đó, hút máu vật chủ và phát triển
thành sán lá gan trưởng thành. Theo Skerman (1966), thời gian hoàn thành vòng đời
của sán lá F. hepatica là 92 - 117 ngày. Sán Fasciola trưởng thành có thể ký sinh
trong ống dẫn mật của súc vật nhai lại 3 - 5 năm, có khi tới 11 năm.
1. Trứng sán lá gan
2. Miracidium
3. Ấu trùng trong ốc
4. Cercaria
5. Adolescaria
6. Sán trưởng thành trong ống dẫn mật
Hình 1.2. Vòng đời của sán lá gan [171]
Sự phát triển của F. hepatica trong ký chủ có xương sống đã được nghiên cứu
bởi Winkrhauser T. (1960) [165] và Hughes D. L. (1963) [105]. Sự phát triển của F.
gigantica ở ốc L. truncatula vào mùa hè là 75 ngày, mùa lạnh tới 175 ngày. Ở ký
chủ cuối cùng, sự di hành và phát triển của F. gigantica tương tự như F. hepatica
nhưng thời gian dài hơn, thời gian di hành đến ống mật là 9 - 12 tuần sau khi nhiễm
(Dinnik J. A. và Dinnik N. N., 1964) [88].
Phan Địch Lân (2004) [33] cho biết, trong điều kiện nhiệt độ thích hợp (28 -
30
o
C), có ốc - vật chủ trung gian (L. swinhoei và L. viridis), có vật chủ cuối cùng
(trâu, bò, dê, cừu) thì vòng đời của sán lá gan ở nước ta được xác định với các mức
thời gian sau:
12
quá nhiều. Kết quả điều tra ở huyện Bình Lục - Hà Nam, tỷ lệ nhiễm sán lá gan
ở trâu là 51,2 - 57,5%.
Kết quả nghiên cứu của Hồ Thị Thuận và Nguyễn Ngọc Phương (1987) [54] ở
các tỉnh miền Nam cho thấy tỷ lệ trâu, bò nhiễm sán lá gan từ 1,4 - 36,2%.
Nguyễn Đức Dương (1995) [7] đã xét nghiệm phân của 537 hươu tại các trại
nuôi hươu ở Hà Tĩnh, Quỳnh Lưu, Diễn Châu (Nghệ An) và công viên Thủ Lệ - Hà
Nội, phát hiện 13,22% số hươu nhiễm sán F. gigantica.
Theo Nguyễn Quang Sức và Nguyễn Thế Hùng (1995) [43], đàn dê Bách
Thảo nuôi tại Trung tâm nghiên cứu dê, thỏ Sơn Tây và một số hộ gia đình nuôi dê
nhiễm sán lá gan với tỷ lệ 30,4%.
Đoàn Văn Phúc và cs. (1995) [42] đã kiểm tra 64 bò tại trại bò sữa Hà Nội, tỷ
lệ nhiễm sán Fasciola là 73,43%. Tác giả cho biết, bệnh sán lá gan đã ảnh hưởng rõ
rệt đến sức khoẻ và sản lượng sữa của đàn bò.
Kết quả xét nghiệm phân trâu, bò ở một số địa phương xung quanh Hà Nội, Bắc
Giang, Thái Nguyên và Hoà Bình cho thấy, tỷ lệ nhiễm sán lá Fasciola là 44,53%.
Trong đó, trâu nhiễm 33,92%, bò nhiễm 54,21% (Lương Tố Thu và Bùi Khánh Linh,
1996 [51]).
Nguyễn Thị Lê và cs. (1996) [35] đã xét nghiệm phân của đàn bò sữa nuôi ở
Ba Vì, tỷ lệ nhiễm sán lá gan tới 46,23%.
Theo Nguyễn Trọng Kim và Phạm Ngọc Vĩnh (1997) [21], tỷ lệ nhiễm sán lá
gan trâu, bò ở tỉnh Hà Bắc (cũ) là 49,95%; ở Nghệ An là 25,27 - 32,65%; tỷ lệ
nhiễm sán lá Fasciola chung ở miền Bắc Việt Nam là 43,56%.
Nguyễn Thị Kim Lan (2000) [25] đã nghiên cứu và cho biết, đàn dê địa
phương nuôi ở các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang và Cao Bằng nhiễm
sán lá Fasciola biến động từ 5,3% đến 27,9% tuỳ theo địa phương.
trưởng thành.
Vũ Đức Hạnh và Nguyễn Thị Kim Lan (2009) [10] đã xét nghiệm 1.170 mẫu
phân trâu, bò ở một số xã của huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Kết quả thấy, có
641 trâu, bò nhiễm sán lá gan, chiếm tỷ lệ 54,79%.
Nguyễn Hữu Hưng (2009) [14] đã kiểm tra 981 mẫu phân bò, kết hợp mổ
khám 309 bò tại 4 huyện của tỉnh Đồng Tháp. Tác giả cho biết: bò nhiễm sán lá gan
với tỷ lệ khá cao (53,31%), tỷ lệ nhiễm tăng dần theo lứa tuổi, nhiễm thấp nhất ở
lứa tuổi dưới 1 năm tuổi (15,31%), cao nhất ở bò trên 2 năm tuổi (63,09%).
14
Võ Thị Hải Lê (2010) [36] đã xét nghiệm 269 mẫu phân trâu, bò (150 trâu,
119 bò) tại 2 huyện thuộc tỉnh Nghệ An, tỷ lệ nhiễm là 61,6 % ở trâu và 26,86% ở
bò. Mổ khám 150 trâu và 131 bò, kết quả cho thấy, tỷ lệ nhiễm ở trâu là 67,76%, ở
bò là 30,68%.
Nguyễn Đức Tân và cs. (2010) [44] đã công bố, tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn ở
bò và bê là 47,16% ; trong đó ở Phú Yên là 59,32%; ở Khánh Hòa là 44,06%; tỷ lệ
nhiễm ở trâu là 37,74%, trong đó ở Phú Yên là 26,41%; ở Khánh Hòa là 44,06%.
Tác giả còn cho biết, tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn ở nhóm trâu, bò trên 2 năm tuổi cao
hơn so với nhóm dưới 2 năm tuổi, trong đó ở bò là 41,12% và 29,54% (P < 0,05), ở
trâu là 61,02%, 37,68% (P < 0,05). Sán lá gan ký sinh ở trâu, bò tại khu vực Nam
Trung Bộ là loài F. gigantica.
Kết quả nghiên cứu của Hoàng Văn Hiền và cs. (2011) [11] cho thấy, tỷ lệ
nhiễm sán lá gan ở trâu, bò của cả 3 miền Bắc, Trung và Nam của Việt Nam là
35,0%, biến động từ 0 - 60%. Tỷ lệ này giảm dần từ miền Bắc đến miền Nam (tỷ lệ
nhiễm trung bình ở miền Bắc là 50,0%, dao động từ 36 đến 60%, ở miền Trung và
Tây Nguyên là 38,7%, dao động từ 24 đến 56%, ở miền Nam là 7,0%, dao động từ
0 đến 28%).