nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh cầu trùng đường tiêu hoá thỏ ở thành phố hải phòng và biện pháp phòng trị - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRƢƠNG THỊ TÍNH
“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH CẦU TRÙNG
ĐƢỜNG TIÊU HÓA THỎ Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ”

Chuyên ngành: Thú y
Mã số: 60 62 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Minh


2
LỜI CẢM ƠN Trong suốt 2 năm học tập, với nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự
giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể, đến nay luận văn
của tôi đã hoàn thành. Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn
và cảm ơn chân thành tới cô giáo hướng dẫn TS. Lê Minh đã tận tình chỉ
bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận
văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân trọng cảm ơn sự giúp đỡ to lớn về cơ sở vật chất của khoa

Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, Khoa Sau
Đại học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tạo điều kiện
cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường.
Tôi xin chân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình cán bộ trạm thú y và nhân
dân của các huyện Thuỷ Nguyên, Tiên Lãng, Kiến Thuỵ, Vĩnh Bảo…TP. Hải
Phòng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi cũng nhận được sự quan tâm, động
viên sâu sắc của gia đình và bạn bè.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ quý báu đó.

Thái Nguyên, tháng 10 năm
2011Tác
giả

Bảng 3.12. Thời gian sống của Oocyst cầu trùng thỏ có sức gây bệnh trong
phân ở ngoại cảnh 79
Bảng 3.13. Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng của thỏ nhiễm cầu trùng 81
Bảng 3.14. Tỷ lệ thỏ có bệnh tích do cầu trùng gây ra 83
Bảng 3.14. Thử nghiệm thuốc điều trị bệnh cầu trùng cho thỏ 85
Bảng 3.15. Hiệu lực của thuốc trị cầu trùng cho thỏ trên diện rộng 86

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Ý nghĩa khoa học 2
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Cầu trùng giống eimeria ký sinh ở thỏ 3
1.1.1. Thành phần loài cầu trùng thỏ 3
1.1.2. Đặc điểm, hình thái, kích thước các loài cầu trùng thỏ đã được nghiên
cứu 4
1.1.3. Cấu trúc của Oocyst cầu trùng 8
1.1.4. Vòng đời phát triển của cầu trùng thỏ 10
1.1.5. Cơ chế sinh bệnh 13
1.1.6. Tính chuyên biệt của cầu trùng 15
1.1.6. Tính chuyên biệt của cầu trùng 16
1.1.7. Dịch tễ học bệnh cầu trùng 18
1.1.7.1. Thời tiết, khí hậu ảnh hưởng đến sức sống của Oocyst cầu trùng 18
1.1.8. Miễn dịch học trong bệnh cầu trùng 23
1.2. Bệnh cầu trùng ở thỏ 29
1.2.1. Những thiệt hại kinh tế do cầu trùng gây ra 29

được tính theo công thức 54
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 55
3.1. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh cầu trùng thỏ 55
3.1.1. Tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm cầu trùng ở thỏ nuôi tại một số địa
phương thuộc thành phố Hải Phòng 55
3.1.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng theo lứa tuổi thỏ 59
3.1.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng theo mùa vụ 62
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3.1.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng thỏ theo tình trạng vệ sinh thú y 63
3.1.5. Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở thỏ theo trạng thái phân 66
3.2. Xác định loài cầu trùng ký sinh ở thỏ tại thành phố hải phòng 67
3.2.1. Xác định thành phần loài cầu trùng ký sinh ở thỏ của thành phố
Hải Phòng 67
3.2.2. Xác địnhtỷ lệ nhiễm theo loài cầu trùng ở thỏ 70
3.3. Nghiên cứu sự ô nhiễm oocyst cầu trùng thỏ ở ngoại cảnh 71
3.3.1. Sự ô nhiễm Oocyst cầu trùng ở đáy lồng nuôi thỏ 71
3.3.1. Sự ô nhiễm Oocyst cầu trùng ở nền chuồng nuôi thỏ 73
3.3.3. Sự ô nhiễm Oocyst cầu trùng ở mẫu đất khu vực xung quanh chuồng và
lồng nuôi thỏ 75
3.3.4. Thời gian Oocyst cầu trùng phát triển thành Oocyst có sức gây bệnh
trong phân ở ngoại cảnh 77
3.3.4.Thời gian sống của Oocyst cầu trùng thỏ có sức gây bệnh trong phân ở
ngoại cảnh 78
3.4. Tỷ lệ thỏ có triệu chứng lâm sàng và bệnh tích của bệnh cầu trùng 81
3.4.1. Tỷ lệ thỏ có biểu hiện lâm sàng trong số thỏ nhiễm cầu trùng 81
3.4.2. Bệnh tích của thỏ mắc bệnh cầu trùng 82
3.4.3. Biện pháp phòng, trị bệnh cầu trùng cho thỏ 84
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

phát sinh thành những ổ dịch lớn có tính chất hủy diệt gây ra những thiệt hại to

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
lớn về kinh tế cho người chăn nuôi, tỷ lệ chết lên tới 70 - 100% (Phạm Sỹ Lăng,
2006) [16].
Những năm gần đây, nghề chăn nuôi thỏ ở Hải Phòng khá phát triển.
Trong khi đó việc nghiên cứu về tình hình nhiễm cầu trùng thỏ và vai trò của
cầu trùng trong hội chứng tiêu chảy ở thỏ tại Hải Phòng chưa được chú ý, vì
vậy cũng chưa có biện pháp phòng trị cầu trùng cho thỏ.
Xuất phát từ nhu cầu cấp bách của thực tế chăn nuôi thỏ ở thành phố Hải
phòng chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh cầu
trùng đường tiêu hoá thỏ ở thành phố Hải Phòng và biện pháp phòng trị”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu bệnh cầu trùng đường tiêu hoá thỏ để có cơ sở khoa học
đề xuất biện pháp phòng trị bệnh cầu trùng thỏ ở các huyện, quận của thành
phố Hải Phòng có hiệu quả cao, từ đó xây dựng quy trình phòng trị bệnh
cầu trùng cho thỏ.
3. Ý nghĩa khoa học
* Ý nghĩa khoa học
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về bệnh cầu trùng thỏ ở thành
phố Hải Phòng.
* Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Xây dựng được quy trình phòng trị bệnh cho thỏ có hiệu quả. Từ đó, góp
phần hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở thỏ, góp phần nâng cao
năng suất chăn nuôi thỏ.

Giống Isospora

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
Cho đến nay, các nhà khoa học trên thế giới đã phát hiện được 25 loài
Eimeria ký sinh và gây bệnh cho thỏ.
Theo Toula F. H. và cs (1998) [68], tỷ lệ các loài cầu trùng gây bệnh cho
thỏ như sau: E. perforans (65%), E. magna (45%), E. stiedae (25%), E. exigua
(20%) và E. piriformis (10%). Có 90% thỏ bị nhiễm 2 hoặc 3 loài cầu trùng.
Grés V. và cs (2003) [49] đã kiểm tra 254 thỏ hoang tại Pháp phát hiện thấy
10 loài cầu trùng ký sinh là: E. perforans, E. flavescens, E. pirifomis, E. exigua,
E. media, E. magna, E. coecicola, E. stiedae, E. roobroucki, E. intestinalis.
Ở Brazil, De Almeida A. J. và cs (2006) [41] cho biết, có 10 loài cầu
trùng ký sinh ở thỏ giống thịt là E. perforans, E. magna, E. coecicola, E.
irresidua, E. media, E. flavescens, E. nagpurensis, E. intestinalis, E. exigua
và E. stiedae và tỷ lệ nhiễm chung là 81,82%.
Theo Lê Văn Năm (2006) [24], có ít nhất 5 loài cầu trùng ký sinh và gây
bệnh cho thỏ là: E. perforans, E. media, E. magna, E. stiedae, E. irresidua.
Nguyễn Hữu Hưng và cs (2008) [11] đã xác định có 5 loài cầu trùng ký
sinh trên thỏ nuôi tại thành phố Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng là: E. perforans,
E. media, E. magna, E. stiedae, E. irresidua.
1.1.2. Đặc điểm, hình thái, kích thước các loài cầu trùng thỏ đã được
nghiên cứu
Eimeria stiedae (Lindemann, 1864; Kisskalf và Hartmann, 1907)
Các nang trứng hình bầu dục hay hình elip mầu vàng nâu, vỏ nang trứng
trơn nhẵn, có lỗ noãn ở phần hẹp của nang trứng. Sau giai đoạn sinh sản bào
tử trong nang trứng và trong bào tử có những thể cặn. Kích thước nang trứng
31- 42 x 17 - 25µm, trung bình là 37 x 20 µm. Sinh bào tử kéo dài tối đa là 3 -
4 ngày. Chu kỳ nội sinh tiến triển trong biểu bì ống dẫn mật

Nang trứng hình quả trứng hay hình quả lê, mầu nâu vàng. Ở phần hẹp của
nang trứng có lỗ noãn trông rất rõ. Kích thước nang trứng 26 - 33 x 15 - 21 µm,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
trung bình là 29 - 32 x 18 - 19 µm. Chỉ có thể cặn trong bào tử sau khi sinh bào
tử. Phát triển nội sinh trong ruột già, chủ yếu là những khe biểu bì. Thời gian
sinh bào tử 2 - 6 ngày.
Eimeria coecicola (Cheissin, 1947)
Trong một thời gian dài người ta coi cầu trùng này như loài Eimeria
magna hay Eimeria media, sau những nghiên cứu của Khâyxin E. M. (1967)
cho thấy các nang trứng của Eimeria coecicola khác với hai loài kể trên về
mặt hình thái và sinh vật học. Nó có hình trụ hay hình bầu dục. Lỗ noãn trông
rất rõ. Nang trứng mầu vàng sáng hay nâu sáng. Kích thước 25,3 - 39,9 x 14,6
- 21,3 µm, trung bình là 33,1 - 35,5 x 16,9 - 19,6 µm. Hình thành thể cặn
trong bào tử và nang trứng sau thời kỳ sinh sản bào tử. Thời gian sinh bào tử
gần 3 ngày. Cầu trùng phát triển nội sinh ở phần dưới ruột non. Các giao tử
cầu trùng này có thể gặp cả trong manh tràng.
Eimeria intestinalis (Kheisin, 1948)
Loài cầu trùng này trước đây người ta coi như Eimeria pirifomis, sau đó
Khâyxin E. M. (1967) phân nó thành một loài độc lập. Nang trứng Eimeria
intestinalis có dạng quả lê hay quả trứng, lỗ noãn trông rất rõ, xung quanh có
màng dầy, mềm. Vỏ nang trứng mầu nâu sáng hay vàng sáng. Kích thước 21 -
36 x 15 - 21 µm, trung bình 27 - 32 x 17 - 20 µm. Thời gian sinh bào tử từ 1 -
6 ngày, sau thời kỳ sinh sản bào tử cầu trùng sinh sản nội sinh trong biểu bì
nhung mao, các khe ở phần dưới ruột non và ruột già.
Eimeria exigua (Yakimoff, 1934)
Nang trứng có dạng hình tròn hoặc hình bầu dục. Vỏ nang trứng màu
vàng nhạt hoặc không mầu. Kích thước 12 - 21 x 10 - 18 µm. Thời gian hình

làm hai lớp vỏ ngoài dày, vỏ trong mỏng. Vỏ ngoài và vỏ trong có thể tách rời
nhau bằng cách làm nóng Oocyst ở trong nước hoặc xử lý bằng axit H
2
SO
4

hoặc bằng cách làm nóng Oocyst trong nước.
Về mặt cấu tạo hóa học: vỏ ngoài là lớp quinonon protein, vỏ trong là
lớp lipit kết hợp với protein để tạo nên khúc xạ kép (lipoprotein). Nghiên cứu
về bản chất hóa học của thành Oocyst, Ryley J, F. và cs (1976) [65] cho biết:
lớp ngoài của vỏ Oocyst chiếm 20%, có chứa carbohydrat và một protein đặc
trưng. Nyberg và Knapp (1976) khi quan sát trên kính hiển vi điện tử thấy lớp
ngoài của vỏ Oocyst có thể bị khử bằng dung dịch sodium hypochlorid 2 –
3% trong 15 phút. Stotish R.L., Wang C. C (1978) [67] khi nghiên cứu về bản
chất hóa học của màng Oocyst bằng cách sử dụng Sodium hypochlorid 5%
cho biết: Sodium hypochlorid 5% không tác động được đến màng Oocyst còn
nguyên vẹn mà chủ yếu tác động đến Micropyle. Lớp trong của vỏ Oocyst
chiếm 80% gồm: một lớp glycoprotein dày 90 µm, được bao bọc bởi một lớp
lipit dày 10 µm. Lớp lipit chủ yếu là phospho lipit, chính lớp này bảo vệ
Oocyst cầu trùng chống lại sự tấn công về mặt hóa học.
Một số loài cầu trùng ở phía đầu nhỏ của Oocyst có một cái “nắp” khúc xạ
được gọi là Micropyle (lỗ noãn). Micropyle là vị trí có khe hở của màng bao quanh
Macrogamete khi thụ tinh. Sau khi thụ tinh thì khe hở đóng lại và vì vậy nhiều loài
cầu trùng không thấy Micropyle nữa (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008 [14]).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
Goodrich H. P. (1994) [48] khi nghiên cứu cấu trúc vỏ Oocyst cho rằng,
lớp ngoài là vỏ bọc liên tục kể cả khi có Micropyle và sau khi thụ tinh

Hình 1.2. Cấu tạo noãn nang Oocyst
1. Nắp Oocyst (Micropyle cap)
2. Lỗ Oocyst ( Micropyle)
3. Hạt cực (Polar granule)
4. Thể Stieda (Stieda Body)
5. Hạt triết quang nhỏ trong Sporozoite
6. Hạt triết quang lớn trong Sporozoite
7. Bào tử trùng (Sporocyst)
8. Thể cặn Sporocyst (Sporocyst residuum)
9. ThÓ cÆn Oocyst
10. Lớp vỏ trong
11. Lớp vỏ ngoài Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
1.1.4. Vòng đời phát triển của cầu trùng thỏ
Vòng đời của cầu trùng thỏ không cần ký chủ trung gian, vòng đời của
cầu trùng được tính từ khi thỏ nuốt phải noãn nang có sức gây bệnh, qua quá
trình sinh trưởng, phát triển trong và ngoài cơ thể cho đến khi chúng tạo ra
những noãn nang có sức gây bệnh.
Sự lưu truyền rộng khắp của cầu trùng trên hành tinh của chúng ta là nhờ
vào cấu trúc và vòng đời phức tạp cũng như khả năng thích nghi nhanh để tiếp
tục phát triển, tồn tại lâu trong thiên nhiên (Lê Văn Năm, 2006) [24].
Chu trình phát triển sinh học của các loài cầu trùng thỏ giống như ở các
loài động vật khác. Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [13], vòng đời
giống Eimeria phức tạp và đã được tập trung nghiên cứu nhiều, nó đặc trưng
bằng 3 giai đoạn phát triển.


trở thành thể phân lập thế hệ mới gọi là Schizont 2.
Quá trình sinh sản vô tính như vậy được lặp đi lặp lại nhiều lần và tạo ra
thể phân lập thế hệ 3, 4, 5…
Mỗi chủng cầu trùng khác nhau có giai đoạn sinh sản vô tính khác nhau,
để hình thành nên các thể phân lập và số thế hệ thể phân lập tuỳ theo loài. Sau
khi kết thúc giai đoạn sinh sản vô tính, chúng chuyển sang giai đoạn sinh sản
hữu tính.
* Giai đoạn sinh sản hữu tính (Gametogony):
Giai đoạn sinh sản hữu tính bắt đầu phát triển từ thể phân lập thế hệ cuối
cùng của cầu trùng. Từ thể phân lập thế hệ cuối cùng, chúng phân chia thành

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
các thể phân đoạn và xâm nhập vào các tế bào biểu bì ký chủ, biến thành các
thể sinh dưỡng. Các thể sinh dưỡng này lại tiếp tục phát triển tạo nên các giao
tử đực (Microgametogony) và giao tử cái (Macrogametogony). Sau đó các tế
bào giao tử cái biến thành những tế bào sinh dục cái lớn, ít hoạt động và có lỗ
noãn. Giao tử đực nhỏ hơn và nhân của nó cũng nhỏ hơn, chúng chuyển động
nhanh nhờ 2 lông roi. Qua lỗ noãn (Micropyle) của giao tử cái, giao tử đực
chui vào và thực hiện quá trình thụ tinh tạo ra hợp tử. Hợp tử được bao bọc
bởi một lớp màng bọc gọi là noãn nang (Oocyst) chúng có hình bầu dục,
hình tròn, hình quả trứng, hình quả lê hoặc hình elip (phụ thuộc vào từng
loài cầu trùng). Đến đây, các Oocyst rơi vào lòng ruột và kết thúc giai đoạn
sinh sản hữu tính.
Màng vỏ bọc của Oocyst cầu trùng gồm 2 lớp, còn nguyên sinh chất ở dạng
hạt. Đôi khi ở một số loài cầu trùng riêng biệt, một trong 2 cực của nang trứng có
cả nắp trứng, lỗ noãn, điểm sáng hay hạt cực. Như vậy, tuỳ loài cầu trùng mà
hình dạng và kích thước nang trứng khác nhau, có hay không có nắp trứng, lỗ
noãn, điểm sáng (hạt cực), cũng như khi sinh sản bào tử (hình thành bào tử hay

Cầu trùng (bộ Coccidia, họ Eimeridae) là những bào tử trùng có hình
trứng hay hình cầu, giữa nguyên sinh chất có một nhân tương đối to; thông
thường ký sinh ở các tế bào biểu bì của súc vật.
Sự tiến triển của cầu trùng gồm hai phương thức sinh sản: Một là vô
tính, hai là hữu tính.
Phương thức sinh sản vô tính hay liệt thực sinh thực (Schizogony) thực
hiện theo cách sau: Cầu trùng non lớn dần trong tế bào biểu bì, cuối cùng tế
bào này mất đi; khi đã thành thục nhân của cầu trùng trở thành một số các
nhân khác, nhiều dần thêm, xung quanh nhân bọc một khối nguyên sinh chất
và chẳng bao lâu những thể nhỏ và dài có nhân được giải phóng ra. Đó là
những liệt thực thể (merozoit) sẽ tấn công các tế bào biểu bì mới, và như thế
phân tán ký sinh trong cơ thể ký chủ. Phương thức sinh sản liệt thực này có
thể nhắc lại rất nhiều lần.
Phương thức sinh sản hữu tính hay bào tử sinh thực (sporogony) hình
như xuất hiện khi khả năng sinh sản bằng liệt thực sinh thực đã cạn; nó cho
phép ký sinh trùng được truyền bá ngoài cơ thể ký chủ của nó một số cầu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
trùng ở trong tế bào trỏ thành đại phối tử bào (macrogametocyt) hay tế bào
phối tử cái, rồi biến thành đại phối tử (macrogamet) một số khác trở thành tiểu
phối tử (microgametocyt) hay tế bào phối tử đực, sinh sản dần dần nhiều tiểu
phối tử (microgamet), sẽ kết hợp với tiểu phối tử cái. Khi phối tử cái được thụ
tinh thì tự bọc một cái màng và biến thành trứng hay noãn nang (zygot, Oocyst),
không tăng thể tích sau khi hình thành. Noãn nang sẽ chia thành một số túi phối
bào tử (sporocyst) hay bào tử (spore), thường với số lượng hai hay bốn, mỗi
bào tử cũng tự bọc một cái màng và trong mỗi túi hình thành một bào tử thể hay
thoa trùng (sporozoit) với số lượng hai hay bốn. Chỉ còn lại trong túi bào tử một
chất cặn bã, nguyên sinh chất không dùng đến gọi là chất tồn tại của bào tử.

Túi bào tử (sporocyst)
Liệt thực thể
(merozoit)
Ở con
vật bị

sinh
(Ký
chủ)
Cầu trùng non trong tế bào
Đại phối tử bào
(macrogametocyt) ♀
Tiểu phối tử bào
(microgametocyt) ♂
Đại phối tử

* Đối với giống Eimeria
Tính chuyên biệt của cầu trùng Eimeria thể hiện rất nghiêm ngặt, chúng
chỉ có thể gây bệnh cho ký‎ chủ mà chúng thích nghi trong quá trình tiến hóa.
Ví dụ: Các cầu trùng cừu không thể nhiễm vào gà, trâu bò và các gia
súc khác. Cầu trùng thỏ chỉ có thể nhiễm vào thỏ mà không thể nhiễm vào
các loại khác.
Theo Kolapxki N. A. và cs (1980) [38], những loài cầu trùng riêng biệt ký
sinh ở những gia súc khác nhau thường khó phân biệt về mặt hình thái. Ví dụ:
Một số loài cầu trùng cừu, dê hoặc gà tây và gà rất giống nhau về đặc điểm
hình thái. Tuy nhiên, những thí nghiệm của Krulop M. V. (1963) đã chỉ rõ, cầu
trùng cừu không nhiễm được vào dê. Còn theo Svonbaep X. K. (1968) khi
nghiên cứu các cầu trùng gà tây, những loài về mặt hình thái rất giống nhau với
một số loài cầu trùng gà, ông đã phát hiện ra rằng hai loài cầu trùng trên không
đồng nhất với nhau khi cho nhiễm bệnh chéo: Cầu trùng gà không gây bệnh
cho gà tây và ngược lại.
Đặc tính chuyên biệt nghiêm ngặt của cầu trùng giống Eimeria biểu
hiện không chỉ đối với ký‎ chủ của chúng, mà mỗi loại cầu trùng chỉ khu trú
tại một vùng, một cơ quan nào đó nhất định trong cơ thể k‎ý chủ. Ví dụ
Eimeria tenella chỉ k‎ý ‎sinh và gây bệnh trong niêm mạc tá tràng gà. Ở lợn,
chủng Eimeria debliecki cư trú ở tá tràng làm cho niêm mạc tá tràng bị
viêm rồi xuất huyết hoại tử (Phạm Văn Khuê và cs, 1996) [12].
Như vậy, nếu xét tính chuyên biệt của cầu trùng thì cầu trùng giống
Eimeria biểu hiện rõ nét hơn và tính chuyên biệt đó phát sinh trong quá trình
thích ứng lâu dài của ký sinh trùng đối với một ký chủ nhất định cũng như đối

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
với từng cơ quan, từng mô bào riêng biệt. Điểm này là điều kiện cơ bản giúp
cho nhiều loại cầu trùng ký sinh đồng thời trên cùng một ký chủ.

Bệnh cầu trùng là bệnh khá phổ biến ở các loài gia súc, gia cầm, trong đó
có thỏ, tuy nhiên tỷ lệ nhiễm cao hay thấp còn phụ thuộc vào các yếu tố tác
động của môi trường sống của chúng.
1.1.7.1. Thời tiết, khí hậu ảnh hưởng đến sức sống của Oocyst cầu trùng
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [12], có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến
sự tồn tại và phát triển của Oocyst cầu trùng. Thời tiết, khí hậu là một trong
những yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến sức đề kháng của cầu trùng.
Theo Hoàng Thạch (1996) [29]; (1997) [30] bệnh cầu trùng xảy ra quanh
năm, nhưng thường tập trung vào các tháng nóng ẩm trong năm (mùa xuân và
mùa hè). Ở thời điểm này, điều kiện thời tiết, khí hậu rất thuận lợi cho Oocyst
cầu trùng tồn tại và phát triển ở ngoại cảnh và lây nhiễm cho đàn gà.
Môi trường ẩm ướt và nhiệt độ ôn hòa là những điều kiện rất thuận lợi
cho sự phát triển của cầu trùng. Ở mùa xuân và mùa hè, gà bị nhiễm cầu
trùng nhiều và nặng hơn các mùa khác trong năm. Vì vậy, việc phòng bệnh
cầu trùng cho gà ở mùa xuân và mùa hè cần chú hơn (dẫn theo Phạm Văn
khuê và cs, 1996 [12]; Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999 [13]).
Hamadejova K. và cs (2005) [50] cho biết, tỷ lệ nhiễm Isospora suis có
liên quan mật thiết với mùa vụ chăn nuôi.
1.1.7.2. Các yếu tố khác ảnh hưởng đến sự tồn tại và nhiễm Oocyst vào vật chủ
* Điều kiện vệ sinh thú y
Khảo sát tình hình nhiễm cầu trùng ở gà nuôi trong các điều kiện khác
nhau, Hoàng Thạch (1996) [29]; (1997) [30]; cho biết: tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở
gà nuôi lồng là 0,37%, gà nuôi trong chuồng có đệm lót là trấu nhiễm 22,49 –
57,38%. Như vậy, gà nuôi trong lồng không tiếp xúc với phân thì tỷ lệ nhiễm
cầu trùng giảm rất thấp.
Tình trạng vệ sinh thú y trong chăn nuôi là một trong những yếu tố ảnh
hưởng rất lớn đến khả năng nhiễm cầu trùng ở vật nuôi.

Trích đoạn Phương pháp xác định hiệu lực thuốc điều trị cầu trùng cho thỏ Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng theo lứa tuổi thỏ Xác địnhtỷ lệ nhiễm theo loài cầu trùng ở thỏ Sự ô nhiễm Oocyst cầu trùng ở đáy lồng nuôi thỏ Sự ô nhiễm Oocyst cầu trùng ở nền chuồng nuôi thỏ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status