nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh giun kết hạt (oesophagostomosis) ở lợn tại một số huyện thuộc tỉnh thái nguyên - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ BÍCH NGÀ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ,
BỆNH LÝ, LÂM SÀNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
BỆNH GIUN KẾT HẠT (OESOPHAGOSTOMOSIS) Ở LỢN
TẠI BA HUYỆN THUỘC TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: THÚ Y
Mã số: 60 62 50
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN QUANG
Thái nguyên - 2011


Xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã tạo điều
kiện giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành
luận văn.
Xin chân thành cảm ơn.
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2011
TÁC GIẢ LUẬN VĂN Nguyễn Thị Bích Ngà Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các ký hiệu viết tắt vii
Danh mục các bảng viii
Danh mục các hình ix
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Mục đích nghiên cứu 2
4. Ý nghĩa của đề tài 2
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.2.1. Mẫu nghiên cứu 24
2.2.2. Hoá chất và dụng cụ thí nghiệm 25
2.3. Nội dung nghiên cứu 25
2.3.1. Đặc điểm dịch tễ bệnh giun kết hạt ở lợn 25
2.3.1.1. Tình hình nhiễm giun kết hạt lợn ở một số địa phƣơng thuộc
tỉnh Thái Nguyên. 25
2.3.1.2. Nghiên cứu sự ô nhiễm, sự tồn tại của trứng và ấu trùng giun
kết hạt lợn ở ngoại cảnh 25
2.3.2. Nghiên cứu bệnh lý và lâm sàng bệnh giun kết hạt ở lợn 26
2.3.3. Nghiên cứu phòng trị bệnh giun kết hạt cho lợn 26
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu 26
2.4.1. Quy định một số yếu tố dịch tễ 26
2.4.2. Phƣơng pháp lấy mẫu 27
2.4.3. Phƣơng pháp xét nghiệm mẫu 28
2.4.4. Phƣơng pháp xác định tỷ lệ và cƣờng độ nhiễm giun kết hạt 28
2.4.5. Phƣơng pháp xác định loài giun kết hạt ký sinh ở lợn 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

v
2.4.6. Phƣơng pháp xác định thời gian phát triển, tồn tại của trứng và ấu
trùng giun kết hạt ở ngoại cảnh 29
2.4.7. Phƣơng pháp theo dõi các biểu hiện lâm sàng của lợn bị bệnh
giun kết hạt 31
2.4.8. Phƣơng pháp xét nghiệm máu để xác định một số chỉ số huyết
học của lợn khoẻ và lợn bị bệnh giun kết hạt 31
2.4.9. Phƣơng pháp xác định mối tƣơng quan giữa số lƣợng giun kết hạt
ký sinh với số trứng trong một gam phân 32
2.4.10. Phƣơng pháp xác định bệnh tích đại thể và những biến đổi vi
thể ở cơ quan tiêu hoá do giun kết hạt gây ra 32

3.2.1. Tỷ lệ lợn nhiễm giun kết hạt có biểu hiện lâm sàng của bệnh 58
3.2.2. Một số chỉ số máu của lợn bị bệnh giun kết hạt và lợn khoẻ 60
3.2.3. So sánh công thức bạch cầu của lợn khoẻ và lợn bị bệnh giun kết hạt . 62
3.2.4. Tỷ lệ và cƣờng độ nhiễm giun kết hạt giữa lợn tiêu chảy và lợn khoẻ 64
3.2.4. Xác định mối tƣơng quan giữa số lƣợng giun kết hạt ký sinh ở
lợn và số trứng giun kết hạt trong một gam phân 65
3.2.5. Bệnh tích do giun kết hạt gây ra ở lợn 68
3.2.5.1. Bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hoá lợn nhiễm giun kết hạt 68
3.2.5.2. Những biến đổi vi thể ở cơ quan tiêu hoá lợn do giun kết hạt
gây ra 69
3.3. Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh giun kết hạt cho lợn 71
3.3.1. Thử nghiệm thuốc tẩy giun kết hạt cho lợn trên diện hẹp 71
3.3.2. Sử dụng thuốc tẩy giun kết hạt cho lợn trên diện rộng 72
3.3.2. Đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun kết hạt cho lợn 73
KẾT LUẬN 75
Tµi liÖu tham kh¶o 77 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

vii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

-
: Đến
%
: Tỷ lệ phần trăm

: Nhỏ hơn hoặc bằng
<
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

viii
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1. Các loài giun kết hạt ký sinh ở lợn tại các địa phƣơng nghiên cứu 38
Bảng 3.2. Tỷ lệ và cƣờng độ nhiễm giun kết hạt lợn tại các địa phƣơng nghiên cứu 39
Bảng 3.3. Tỷ lệ và cƣờng độ nhiễm giun kết hạt theo tuổi lợn 43
Bảng 3.4 . Tỷ lệ và cƣờng độ nhiễm giun Oesophagostomum sp. theo mùa vụ 46
Bảng 3.5. Tỷ lệ và cƣờng độ nhiễm giun kết hạt theo phƣơng thức chăn nuôi 48
Bảng 3.6. Sự ô nhiễm trứng giun kết hạt lợn ở ngoại cảnh trong phân lợn 52
Bảng 3.8. Khả năng sống của ấu trùng giun kết hạt cảm nhiễm trong phân lợn 54
Bảng 3.9. Sự phát triển của trứng giun kết hạt ở lớp đất bề mặt có độ ẩm khác nhau 56
Bảng 3.10. Khả năng sống của ấu trùng cảm nhiễm trong đất có độ ẩm khác nhau 57
Bảng 3.11. Tỷ lệ lợn nhiễm giun kết hạt có biểu hiện lâm sàng 59
Bảng 3.12. So sánh số lƣợng hồng cầu, bạch cầu và hàm lƣợng huyết sắc tố của lợn bị
bệnh giun kết hạt và lợn khoẻ 60
Bảng 3.13. So sánh công thức bạch cầu của lợn khoẻ và lợn bị bệnh giun kết hạt 62
Bảng 3.14. Tỷ lệ và cƣờng độ nhiễm giun kết hạt giữa lợn tiêu chảy và lợn khoẻ 65
Bảng 3.15. Mối tƣơng quan giữa số lƣợng giun kết hạt ký sinh ở lợn và số trứng giun
kết hạt trong một gam phân 66
Bảng 3.16. Bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hoá lợn nhiễm giun kết hạt 68
Bảng 3.17. Tỷ lệ tiêu bản có bệnh tích vi thể trong số tiêu bản nghiên cứu 69
Bảng 3.18. Thử nghiệm thuốc tẩy giun kết hạt cho lợn trên diện hẹp 71
Bảng 3.19. Thử nghiệm thuốc tẩy giun kết hạt cho lợn trên diện rộng 72 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, chăn nuôi lợn vẫn chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển
kinh tế của nƣớc ta, là nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu cho nhu cầu trong
nƣớc và xuất khẩu. Chăn nuôi lợn tạo ra sản phẩm có tỷ trọng cao và chất
lƣợng tốt cho con ngƣời, là nguồn cung cấp phân bón rất lớn cho ngành trồng
trọt. Chăn nuôi lợn kết hợp với trồng trọt, thủy sản tạo nên mô hình VAC
mang lại hiệu quả kinh tế cao và có ý nghĩa lớn trong việc cải thiện môi
trƣờng sinh thái.
Thái Nguyên là tỉnh có nghề chăn nuôi lợn khá phát triển. Trong những
năm qua, số lƣợng đàn lợn của tỉnh không ngừng tăng lên, nhiều trang trại
đƣợc xây dựng mới, ngƣời dân đầu tƣ cho con lợn và xem đó là nghề ổn định
của gia đình mình. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, ở nhiều địa phƣơng, chăn nuôi
lợn còn gặp nhiều khó khăn, hiệu quả chăn nuôi còn thấp: lợn chậm lớn, còi
cọc, tiêu chảy Một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng đó là bệnh
ký sinh trùng. Đây là bệnh khá phổ biến đối với gia súc, gia cầm; bệnh gây ra
những thiệt hại đáng kể, làm giảm năng suất chăn nuôi, tạo điều kiện cho các
bệnh khác kế phát. Giun kết hạt (Oesophagostomum) là ký sinh trùng gây
bệnh cho nhiều loài động vật khác nhau. Giun trƣởng thành ký sinh ở xoang
ruột, ấu trùng ký sinh ở thành ruột tạo nên những u kén ở ruột gia súc. Súc vật
khi nhiễm giun kết hạt nặng có thể bị chết. Căn bệnh này đã đƣợc biết đến từ
những năm đầu của thế kỷ XX, nhƣng ở Việt Nam có rất ít công trình nghiên
cứu sâu về bệnh do giun kết hạt gây ra ở lợn.
Để có thêm những dẫn liệu về bệnh giun kết hạt ký sinh ở lợn, làm cơ sở
đề xuất các biện pháp phòng trị có hiệu quả cho đàn lợn ở Thái Nguyên,
chúng tôi thực hiện đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

2

3
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Đặc điểm sinh học của giun kết hạt Oesophagostomum
1.1.1.1. Vị trí của giun kết hạt Oesophagostomum trong hệ thống phân loại
động vật học
Oesophagostomum dentatum và Oesophagostomum longicaudum thuộc giống
Oesophagostomum, là tác nhân gây ra bệnh giun kết hạt (Oesophagostomatosis) ở lợn.
Theo Skrjabin và cs (1963) [44], Phan Thế Việt và cs (1977) [41], giun kết
hạt Oesophagostomum ở lợn có vị trí trong hệ thống phân loại động vật nhƣ sau:
Ngành: Nemathelminthes Shneider, 1873
Phân ngành: Nemathelmintha Shaneider và Schulz, 1940
Lớp: Nematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp: Secerentea Chitwood, 1933
Bộ: Rhabditida Chitwood, 1933
Phân bộ: Strogylata Railliet, 1916
Họ: Trichonematidae Cram, 1927
Phân họ: Oesophagostomatinae Railliet et Henr, 1913
Giống : Oesophagostomum Molin, 1861
Loài : Oesophagostomum dentatum Rudolphi, 1803
Loài : Oesophagostomum longicaudum Goodey, 1925

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

4
1.1.1.2. Đặc điểm hình thái và cấu tạo giun kết hạt lợn
Đề cập đến hình thái và cấu tạo giun kết hạt, Skrjabin và cs (1963) [44]
cho biết :


Hình 1.1. Loài O. dentatum
(Rudolphi, 1803)
1, 2. Phần đầu cơ thể; 3. Phần đuôi cá
thể cái; 4. Mút và gốc gai giao phối;
5. Cơ quan điều chỉnh; 6. Túi đuôi cá
thể đực; 7. Nón sinh dục.
(Nguồn: Phan Thế Việt và cs, 1977) [41]
Hình 1.2. Loài O. longicaudum
(Goodey, 1925)
1. Đầu; 2. Đuôi của con cái;
3. Đuôi của con đực; 4. Phần cuối gai
giao hợp; 5. Lái; 6. Nón sinh dục của
con đực
(Nguồn: Phan Thế Việt và cs, 1977) [41] Hình 1.3. Giun O. dentatum
(Nguồn: http://courseware_s/kcxxl)[53]
Hình 1.4. Trứng giun O. dentatum
(Nguồn:http://cal.vet.upenn.edu/projects)[54]
1.1.1.3. Vòng đời của giun kết hạt lợn
Hagsten (1999) [43] cho rằng: thực chất của bất kỳ chƣơng trình khống
chế giun sán nào thì việc phá vỡ vòng đời của chúng là cần thiết. Do vậy, hiểu

không cần vật chủ trung gian. Trứng theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ 25 –
27
0
C, sau 10 - 17 giờ nở thành ấu trùng, qua hai lần lột xác, sau 7 – 8 ngày
thành ấu trùng gây nhiễm. Khi ký chủ nuốt phải ấu trùng này, tới ruột thì ấu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

7
trùng chui vào niêm mạc ruột tạo thành những u kén, lột xác lần thứ ba, tới
ngày 6 – 8 thành ấu trùng kỳ IV, sau đó rời khỏi niêm mạc ruột và lột xác lần
nữa và phát triển thành giun trƣởng thành. Thời gian hoàn thành vòng đời của
giun O. longicaudum là 50 ngày, giun O. dentatum là 45 – 60 ngày.
Phan Lục (2006) [26] cho biết: ấu trùng O. dentatum khi vào ruột lợn
chui sâu vào niêm mạc ruột già và hình thành hạt (u kén), trong có ấu trùng.
Sau 23 ngày, ấu trùng chui ra khỏi kén, vào xoang ruột và phát triển thành
giun trƣởng thành sau 1,5 – 2 tháng. Tuổi thọ của giun từ 8 – 10 tháng.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [20]: giun trƣởng thành ký sinh trong
ruột già lợn, đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài môi trƣờng. Trứng gặp điều
kiện nhiệt độ 25 - 27
o
C, sau 10 - 17 giờ nở thành ấu trùng. Ấu trùng I sau 24
giờ, ở nhiệt độ 22 - 24
o
C phát dục thành ấu trùng II, dài 0,44 – 0,64 mm. Ấu
trùng II phát triển đƣợc hai ngày thì thành ấu trùng gây nhiễm III. Ấu trùng này
lẫn trong thức ăn, nƣớc uống vào cơ thể ký chủ. Khi tới ruột, ấu trùng chui sâu
vào niêm mạc ruột tạo thành những u kén và phát triển thành giun trƣởng
thành ở ruột già.
Vòng đời giun kết hạt có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau:


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

8
1.1.1.4. Sự phát triển và sức đề kháng của trứng giun kết hạt lợn ở ngoại cảnh
Việc nghiên cứu sự phát triển và sức đề kháng của trứng giun kết hạt ở
ngoại cảnh có ý nghĩa quan trọng trong dịch tễ học bệnh giun kết hạt lợn,
đồng thời là cơ sở khoa học đề ra những biện pháp phòng trị bệnh giun kết hạt
cho lợn.
Theo Skrjabin và cs (1963) [44]: Ở nhiệt độ thích hợp (30
o
C), trong
trứng ấu trùng phát triển rất nhanh, chỉ qua 16 - 18 giờ nở ra và vào môi
trƣờng bên ngoài. Ở nhiệt độ cao 45 - 50
o
C trứng bị chết, còn ở nhiệt độ thấp
3
o
C trứng không phát triển.
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12] cho biết: ở nhiệt độ 5 - 9
o
C
trứng ngừng phát triển, nhiệt độ 35
o
C trứng bị chết, gặp điều kiện thích hợp
trứng phát triển thành ấu trùng gây nhiễm sau trên dƣới một tuần.
Archie (2000) [42] nhận xét: sự phát triển, khả năng sống sót của trứng
và ấu trùng cảm nhiễm ở môi trƣờng trƣớc hết phụ thuộc vào khí hậu. Gặp
nhiệt độ và ẩm độ thích hợp, sau 5 - 6 ngày trứng phát triển thành ấu trùng
cảm nhiễm. Khi nhiệt độ thấp trứng giun nở và phát triển chậm hơn.

C, 93% ấu trùng cảm nhiễm
sau 24 giờ có khả năng hoạt động trở lại khi đƣa về nhiệt độ môi trƣờng
xung quanh. Các ấu trùng này cũng có thể sống sót trong môi trƣờng axit
đƣợc tổng hợp nhân tạo tƣơng tự nhƣ môi trƣờng axit trong dạ dày. (Pit
D.S.S. và cs 2000 [48]).
Stromberg B.E. (1997) [51] cho biết: nhiệt độ quá cao sẽ tác động bất lợi
đến sự phát triển cuả ấu trùng và ấu trùng có thể bị chết. Mƣa có ảnh hƣởng
quan trọng đến sự phân tán của ấu trùng, làm ấu trùng cảm nhiễm di chuyển
xa 90 cm so với vị trí ban đầu và di chuyển vào trong đất ở độ sâu 15 cm. Có
lẽ khả năng này giúp ấu trùng sống sót đƣợc trong những điều kiện bất lợi và
tránh đƣợc sức nóng mặt trời.
Archie (2000) [42] nhận xét: ấu trùng trên đồng cỏ chịu ảnh hƣởng trực
tiếp của khí hậu. Điều kiện tối ƣu cho ấu trùng cảm nhiễm

phát triển là ẩm độ
tƣơng đối cao và nhiệt độ môi trƣờng trong khoảng 18 - 26
o
C. Điều kiện khô
và nóng diệt ấu trùng, điều kiện lạnh làm chậm lại quá trình nở của trứng và
sự phát triển của ấu trùng.
Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [20] cho biết: Ấu trùng có sức đề kháng tốt
với nhiệt độ thấp, để ở - 19
o
C đến - 29
o
C qua 10 ngày ấu trùng vẫn sống; để ở
nhiệt độ phòng bình thƣờng ấu trùng có thể sống một năm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn



11
Qua nghiên cứu các tác giả cho biết, lợn bị nhiễm giun sán khi đƣợc nuôi
ở cả ba tình trạng vệ sinh thú y tốt, trung bình và kém. Tuy nhiên, tỷ lệ và
cƣờng độ nhiễm tăng lên rõ rệt trong tình trạng vệ sinh thú y kém. Vệ sinh thú
y kém là điều kiện thuận lợi để ký sinh trùng và vi khuẩn gây bệnh đƣờng tiêu
hoá nhiễm vào cơ thể lợn, gây tiêu chảy (dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs,
2009 [16]).
1.1.2.2. Cơ chế sinh bệnh của bệnh giun kết hạt lợn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12], tác động của ký sinh
trùng lên cơ thể ký chủ có nhiều mặt:
- Tác động cơ giới: hầu hết các ký sinh trùng đều gây lên những biến
loạn cơ giới, ngăn trở ít hay nhiều khí quan mà nó xâm nhập; hoặc làm tắc,
hoặc chèn ép và phá hoại các tổ chức, hoặc làm thủng, làm rách hoặc do khí
quan bám hút của ký sinh trùng mà làm tróc niêm mạc, xuất huyết. Thƣờng
thấy gây viêm cấp tính, thứ cấp tính, mạn tính. Viêm dẫn tới sản sinh một cái
vỏ bằng tổ chức liên kết bọc lấy ký sinh trùng; cái vỏ và ký sinh trùng bọc bên
trong chết đi biến thành một cái hạt, thành vữa rồi thành vôi.
- Tác động chiếm đoạt: ký sinh trùng tự nuôi dƣỡng bằng ăn tổ chức
của ký chủ, cƣớp một phần thức ăn của ký chủ đã tiêu hoá, hút máu ký chủ.
Tác động này tiếp diễn liên tục bởi rất nhiều ký sinh trùng, gây nên tổn hại rất
lớn cho ký chủ (thiếu máu, gầy rộc…).
- Tác động đầu độc: ký sinh trùng bài tiết các chất độc hàng ngày, ký
chủ hấp thụ chất độc, sinh ra những biến loạn khác nhau, nhƣng thƣờng thấy
nhất là biến loạn thần kinh và tuần hoàn. Nói chung, chất độc do ấu trùng bài
tiết mạnh hơn so với chất độc của ký sinh trùng trƣởng thành.
- Tác động truyền bệnh: giun sán bám vào các niêm mạc, gây thƣơng
tích, phá vỡ phòng tuyến thƣợng bì, mở đƣờng cho các vi khuẩn trong môi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
Sức gây bệnh của giun trƣởng thành sống trong ruột ít hơn. Chúng có
khả năng gây viêm cata, niêm mạc ruột phủ kín chất nhầy đặc, bên trong là
giun Oesophagostomum. Ở vật mắc bệnh do Oesophagostomum trƣởng thành
thấy có hiện tƣợng ỉa chảy xen lẫn từng thời gian.
1.1.2.3. Triệu chứng và bệnh tích bệnh giun kết hạt lợn
* Triệu chứng bệnh giun kết hạt
Skrjabin và cs (1963) [44] cho biết: Oesophagostomosis tiến triển ở thể
cấp tính và mạn tính. Theo dẫn liệu của Oparin, thể thứ cấp có liên quan tới
sự xâm nhập của hàng loạt ấu trùng vào thành ruột, và sau đó lại quay về ruột.
Thể mạn tính có liên quan tới sự ký sinh của giun trƣởng thành. Tuy nhiên,
thƣờng Oesophagostomosis xuất hiện ở thể ghép vì có cả ấu trùng và giun
trƣởng thành ký sinh trong cơ thể súc vật.
Bệnh lý do Oesophagostomum phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của
giun. Ở giai đoạn ấu trùng, Oesophagostomum là nguyên nhân gây “bệnh hạt
ruột”, còn giai đoạn trƣởng thành chúng gây Oesophagostomosis đƣờng ruột.
Giai đoạn hạt đƣợc coi là giai đoạn nguy hiểm hơn cả. Ấu trùng chui
vào ruột tạo thành những hạt mà mắt thƣờng có thể nhìn thấy đƣợc. Trong
thời gian phát triển hạt, con vật đau bụng, gầy còm, bỏ ăn, ỉa chảy. Giai đoạn
trƣởng thành sức gây bệnh ít hơn, ruột viêm cata, phủ chất nhày đặc và giun
kết hạt. Con vật thỉnh thoảng bị ỉa chảy (Soulsby E.J.L. và cs, 1982 [50];
Trịnh Văn Thịnh và cs, 1982 [36]; Urquhart G.M. và cs, 1996 [52]).
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12], Phan Lục (2006) [26],
Chu Thị Thơm và cs (2006) [37], Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [20], lợn bị
bệnh giun kết hạt thể hiện hai giai đoạn:
- Giai đoạn ấu trùng chui vào niêm mạc ruột gây triệu chứng cấp tính: ỉa
chảy, phân có chất nhầy, đôi khi có máu tƣơi, có một số ít con nhiệt độ tăng



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

15
1.1.2.4. Chẩn đoán bệnh giun kết hạt lợn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12]: chẩn đoán bằng
phƣơng pháp xét nghiệm phân kiểm tra trứng giun kết hạt. Tuy nhiên,
phƣơng pháp này ít ý nghĩa vì trứng giun Oesophagostomum giống trứng các
loài giun xoăn dạ dày, ruột nên rất khó phân biệt. Vì vậy, phải nuôi trứng nở
thành ấu trùng cảm nhiễm, sau đó phân ly ấu trùng theo phƣơng pháp
Baerman và kiểm tra hình thái, cấu tạo của ấu trùng cảm nhiễm dƣới kính
hiển vi để định loài. Có thể phân biệt một số ấu trùng cảm nhiễm thuộc bộ
Strongylida nhƣ sau:
+ Ấu trùng giun tròn Dictyocalus: mút
đuôi hình nón, ruột chứa đầy các hạt
màu sáng.
+ Ấu trùng giun tròn Haemonchus: mút
đuôi không có gai, thực quản dài khoảng
1/5 chiều dài cơ thể.
+ Ấu trùng giun tròn Trichostrongylus:
mút đuôi có gai, thực quản dài khoảng
1/4 chiều dài cơ thể.
+ Ấu trùng giun tròn Osophagostomum:
có 20 - 32 tế bào ruột, mút đuôi vút dài.
+ Ấu trùng giun tròn Bunostomum: ruột
là một ống dài không phân chia thành
những tế bào riêng biệt.
(Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2008) [15].
Hình 1.6. Các dạng ấu trùng cảm
nhiễm của bộ Strongylida


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status