luận văn thạc sĩ Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun xoăn dạ múi khế ở trâu, bò và thử nghiệm quy trình phòng trị tại huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên - Pdf 26

Phần 1
Mở Đầu
1.1. Đặt vấn đề
Trong mấy năm gần đây, chăn nuôi trâu, bò ở nước ta đã và đang phát triển
mạnh, đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội, giúp khai thác tối
ưu các tiềm năng thiên nhiên (đồng cỏ, bãi chăn thả), tiềm năng con người (lao
động phụ, dư thừa), các phế phụ phẩm của nông nghiệp và công nghiệp chế biến,
đồng thời cung cấp một lượng lớn thực phẩm (thịt, sữa, ) cho nhân dân và phân
chuồng cho sản xuất cây trồng.
Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách và biện pháp thúc đẩy chăn
nuôi trâu, bò phát triển cả về số lượng và chất lượng nhằm nâng cao đời sống cho
người chăn nuôi.
Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn một số khó khăn, hạn chế việc phát triển
chăn nuôi trâu, bò, đặc biệt là dịch bệnh. Trong các bệnh ký sinh trùng gây hại cho
trâu, bò, bệnh giun xoăn dạ múi khế khá phổ biến và gây nhiều thiệt hại đến sức sản
xuất của trâu, bò. Giun xoăn ở dạ múi khế hút máu ký chủ, làm cho ký chủ bị thiếu
máu nặng, đồng thời giun làm tổn thương niêm mạc dạ múi khế, gây hội chứng tiêu
chảy. Gia súc bị bệnh còi cọc, chậm lớn, giảm sức đề kháng với các bệnh khác và
dễ chết nếu mắc bệnh nặng.
Phú Bình là một huyện của tỉnh Thái Nguyên có điều kiện tự nhiên thuận lợi
cho chăn nuôi trâu, bò phát triển. Theo điều tra sơ bộ của Chi cục thú y tỉnh Thái
Nguyên, trâu, bò ở tỉnh Thái Nguyên nói chung và huyện Phú Bình nói riêng bị
nhiễm giun xoăn dạ múi khế với tỷ lệ cao.
Ở tỉnh Thái Nguyên nói chung và huyện Phú Bình nói riêng, chưa có công
trình nào nghiên cứu về bệnh giun xoăn dạ múi khế, những hiểu biết của người chăn
nuôi về bệnh giun xoăn dạ múi khế còn rất hạn chế. Xuất phát từ yêu cầu của thực
1
tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ
bệnh giun xoăn dạ múi khế ở trâu, bò và thử nghiệm quy trình phòng trị tại
huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên".
1.2. Mục tiêu của đề tài

đều bị cảm nhiễm Trichostrongylidae. Cụ thể theo Skrjabin K.I và cs (1963) [27];
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17]; Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [11], giun
xoăn dạ múi khế có vị trí trong hệ thống phân loại động vật học nh sau:
Ngành Nemathelminthes Schneider, 1873
Líp Nematoda Rudolphi, 1808
Phân líp Rhabditia Pearse, 1942
Bé Strongylida Railliet et Henry, 1913
Phân bé Strongylata Railliet et Henry, 1913
Siêu họ Trichostrongyloidea Cram, 1927
Họ Trichostrongylidae Leiper, 1912
Phân họ Trichostrongylinae Leiper, 1905
Giống Trichostrongylus Looss, 1905
Loài T. colubriformis (Giles, 1892)
Loài T. axei (Cobbold, 1879)
Loài T. probolurus (Railliet, 1896)
Giống Ostertagia Ransom, 1907
Loài O. ostertagi (Stiles, 1892)
Loài O. circumcincta (Stadelmann, 1894)
Giống Marshallagia Orloff, 1933
Loài M. marshalli (Ransom, 1907)
3
Phân họ Haemonchinae Skrjabin et Schulz, 1952
Giống Haemonchus Cobbold, 1898
Loài H. contortus (Rudolphi, 1803)
Loài H. similis (Travassos, 1914)
Phân họ Cooperinae Skrjabin et Schikhobalova, 1952
Giống Cooperia Ransom, 1907
Loài C. curticei (Giles, 1892)
Loài C. punctata (Linstow, 1906)
Phân họ Nematodirinae Skrjabin et Orloff, 1934

Ruột non
Các loài giun này thường gây bệnh hỗn hợp. Trong đó có 3 loài
Haemonchus contortus, Haemonchus similis và Mecistocirrus digitatus gây tác
hại lớn cho ký chủ.
4
Theo Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978) [21], thành phần loài giun
xoăn dạ múi khế ở dạ dày trâu, bò Việt Nam nh sau:
Trichostrongylus axei (Cobbold, 1879)
Cooperia laterouniformis (Chen, 1937)
Haemonchus contortus (Rudolphi, 1803)
Mecistocisrrus digitatus (Linstow, 1906)
Dẫn liệu của Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [27] cho biết, thành phần
loài giun xoăn ký sinh trong dạ dày trâu, bò, dê, cừu và các loài nhai lại hoang dại
khác gồm:
Trichostrongylus axei (Cobbold, 1879)
Trichostrongylus colubriformis (Giles, 1892)
Ostertagia ostertagi (Stiles, 1892)
Ostertagia circuncincta (Stadelmanm, 1894)
Marshalla marshalli (Ransom, 1907)
Haemonchuscontortus (Rudolphi, 1803)
Cooperia curticei (Giles, 1892)
Cooperia punctata (Linstow, 1906)
Các nghiên cứu đều thống nhất rằng, các loài giun xoăn dạ múi khế của gia
sóc nhai lại rất phong phú, chúng đều thuộc họ Trichostrongylidae Leiper, 1912.
Giun tròn hình sợi chỉ to hoặc nhỏ. Miệng ở tận cùng đầu, xoang miệng không có, ở
một số giun có bao miệng nhỏ nhưng xoang miệng không thể hiện rõ và có thể có
răng ở trên thành hoặc ở dưới đáy xoang. Ở con đực túi sinh dục phát triển tốt, đại
đa số thùy bên lớn, thùy lưng thể hiện yếu hoặc không có. Có hai gai giao hợp, có
hoặc không có bánh lái. Âm hộ của con cái nằm sau thân. Giun cái đẻ trứng theo
phân ra ngoài.

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [8] đã mô tả: giun màu hồng nhạt,
biểu bì có vân. Túi miệng nhỏ, có 1 răng lớn, thực quản dài 1,600 - 1,800 mm,
rất nhỏ, phần sau hơi rộng.
Giun đực dài 25,000 - 31,000 mm, giun cái dài 35,000 - 39, 000 mm Trứng dài
0,099 - 0,105 mm, rộng 0,046 - 0,049 mm, có hai lớp vỏ mỏng bao bọc.
6
* Các loài thuộc giống Trichostrongylus.
Giống Trichostrongylus gồm nhiều loài, trong đó có một số loài quan
trọng ký sinh ở dạ múi khế và ruột non của gia sóc nhai lại.
- T. axei (Cobbold, 1879): được phát hiện ở nhiều nơi trên thế giới. Ở Việt
Nam, các nhà khoa học đã tìm thấy loài giun này ở các tỉnh Quảng Ninh, Lạng
Sơn Nhiều tác giả đã mô tả (theo Ransom, 1911): giun đực dài 3,4 - 4,5 mm,
rộng nhất 0,05 - 0,07 mm. Giun cái dài 4,6 - 5,5 mm, rộng 0,055 - 0,075 mm.
Kích thước trứng 90 - 92 x 35 - 42 µm (Drozdz và Malcrewski, 1967; Phan Thế
Việt, 1977; Trịnh Văn Thịnh, 1978 Nguyễn Thị Lê, 1996; Nguyễn Thị Kim Lan
và cs, 2008).
- T. colubriformis: Ngoài loài giun T. axei còn có một loài, mà theo Skrjabin K.I
và Petrov A.M (1963) [27], điển hình cho giống Trichostrongylus, đó là loài T.
colubriformis. Theo nhiều tác giả thì loài giun này phổ biến ở bò, dê, cừu trên phạm vi
toàn cầu. Ở nước ta, phát hiện giun ở dạ múi khế và ruột non bò, dê ở các tỉnh phía
Bắc. Giun đực dài 4,0 - 6,0 mm, rộng 0,078 - 0,095 mm. Giun cái dài 5,0 - 6,0 mm;
rộng nhất ở vùng lỗ sinh dục (0,080 - 0,100 mm). Trứng có kích thước 73 - 76 x 40 -
43 µm (Nguyễn Thị Lê và cs, 1996) [17].
- T. probolurus: Giun đực dài 4,300 - 6,500 mm. Giun cái dài
4,833 - 6,270 mm, rộng 0,066 - 0,1112 mm. Trứng có kích thước
0,072 - 0,095 x 0,042 - 0,0582 mm.
*Các loài thuộc giống Cooperia.
- C. laterouniformis: Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [21] cho biết:
Loài này thân hình sợi chỉ, biểu bì mỏng có vân ngang, vân dọc dài khắp thân;
chóp đầu thường có hình một túi phình; thực quản hơi rộng ở phần trên và phần

giống nhau. Giun cái đẻ trứng với số lượng lớn trong một ngày. Trứng phát triển ở
môi trường bên ngoài thành Êu trùng có sức gây bệnh rồi lại nhiễm vào ký chủ.
Hình 2.2. Vòng đời phát triển của giun xoăn dạ múi khế
* Chu kỳ sinh học của Haemonchus sp.
Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [27] cho biết: giun cái đẻ trứng, trứng
được bài xuất cùng phân ra môi trường bên ngoài. Nhiệt độ của môi trường bên
ngoài thích hợp cho trứng phát triển tiếp tục là 20 - 30
0
C. Trong phân, vào ngày thứ
hai đã thấy có Êu trùng giai đoạn I nở ra khỏi trứng. Những Êu trùng này ăn phân
và sống trong phân một thời gian, nhưng không cảm nhiễm được cho súc vật. Ở giai
đoạn này, Êu trùng kém bền vững hơn ở các giai đoạn sau: chúng chết khi phơi khô
và ở nhiệt độ trên 30
0
C. Sù thay đổi về nóng và lạnh cũng làm cho Êu trùng bị chết.
Ở nhiệt độ 15 - 20
0
C, ấu trùng giai đoạn I chỉ sau 1 đêm đã ở giai đoạn tiềm sinh,
kéo dài 12 - 15 giê. Trong thời gian này, Êu trùng lột xác, sau đó sống trở lại và
chuyển vào giai đoạn II.
Ở giai đoạn II, Êu trùng mất đi khả năng ăn uống và cũng không thể ký sinh
được. Qua một ngày sau, đôi khi chưa đến 1 ngày, Êu trùng lại trở lại giai đoạn tiềm
sinh lần thứ hai. Trong thời gian này, Êu trùng lớn lên, nhưng tầng cutin bao quanh
9
vẫn giữ nguyên và tạo thành nắp. Sau khi hình thành nắp thì Êu trùng chuyển vào
giai đoạn III. Lúc này, Êu trùng đã có khả năng cảm nhiễm cho động vật. Từ khi đẻ
trứng đến giai đoạn Êu trùng cảm nhiễm cần thời gian không dưới 4 - 5 ngày.
Ở giai đoạn III, Êu trùng có sức đề kháng đặc biệt. Chúng chết trong môi
trường Èm khi nhiệt độ 50
0

10
xong 1 lần lột xác nữa, Êu trùng có khả năng ký sinh và hút máu ký chủ. Sau 2 - 3 tuần,
Haemonchus trở thành thành thục, con cái bắt đầu đẻ trứng.
Thời gian sống của Haemonchus trong cơ thể gia sóc nhai lại chưa rõ, nhưng
người ta cho rằng, thời gian này không quá 1 năm. Càng về sau, giun càng già và
mất đi khả năng tiếp tục ký sinh.
Urquhart G. M. (1996) [36], làm rõ thêm vòng đời của Haemonchus
contortus: ấu trùng cảm nhiễm vào ống tiêu hoá súc vật nhai lại, thực hiện hai
lần lột xác trong ống dẫn tuyến. Chỉ trước khi lột xác lần cuối chúng mới phát
triển đến giai đoạn lấy máu ký chủ từ những mao quản ở niêm mạc. Khi trưởng
thành, chúng di chuyển tự do trên bề mặt niêm mạc. Thời gian hoàn thành vòng
đời ở dê, cừu là 2 - 3 tuần và ở đại gia súc là 4 tuần.
* Chu kỳ sinh học của Trichostrongylus sp.
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [11] cho biết: Nhiều tác giả, khi nghiên
cứu về chu kỳ sinh học của giun tròn đều thống nhất: các loài thuộc giống
Trichostrongylus có vòng đời trực tiếp, không cần ký chủ trung gian (nghĩa là
không có sự thay đổi ký chủ) (Direct nematode life cycle). Trứng giun theo phân ra
ngoài, gặp điều kiện thích hợp (nhiệt độ và Èm độ), sau 20 - 24 giờ nở ra Êu trùng
kỳ I. Êu trùng này hình gậy, thực quản hình ống và có ruột cấu tạo đơn giản, hoạt
động mạnh. Chúng dùng các loại vi sinh vật ở xung quanh làm chất dinh dưỡng, sau
10 - 30 giờ lột xác thành Êu trùng kỳ II to hơn Êu trùng kỳ I, cấu tạo tương đối
giống nhau. Êu trùng này hoạt động rất mạnh và cũng lấy vi sinh vật xung quanh
nuôi sống bản thân. Sau 12 - 60 giờ thành Êu trùng kỳ III có sức gây nhiễm. Trước
khi thành Êu trùng kỳ III, Êu trùng kỳ II không lột xác, màng bọc ngoài trở thành
màng ngoài của Êu trùng kỳ III. Lúc này Êu trùng kỳ III không thể lấy thức ăn ở
bên ngoài mà chỉ sống dựa vào thức ăn do Êu trùng kỳ II tích luỹ lại ở trong ruột.
Êu trùng ở bên ngoài đến giai đoạn này là kết thúc, chúng có sức đề kháng mạnh, có
thể sống lâu. Tuy nhiên, nếu khô hoặc có ánh nắng Êu trùng dễ chết.
Khi gia sóc nhai lại ăn cỏ, uống nước có Êu trùng gây nhiễm, vào đường tiêu
hoá, Êu trùng mất màng ngoài, tiếp tục phát triển, lột xác thành Êu trùng kỳ IV, lại

30,7 - 100%. Gia sóc nhai lại ở mọi lứa tuổi đều nhiễm giun xoăn, nhưng nói chung
gia súc trưởng thành có sức đề kháng mạnh hơn gia sóc non, gia súc gầy sút, gia súc
già yếu sức đề kháng giảm.
Soulsby E. J. L. (1982) [34] cho rằng: nhìn chung, sự phát triển của các giun
xoăn họ Trichostrongylidae ở giai đoạn sống tự do (ngoài ngoại cảnh) phụ thuộc
vào điều kiện khí hậu. Ở nước Anh, Êu trùng có thể phát triển đến giai đoạn gây
12
nhiễm trong 2 tuần, nhưng thường thì dài hơn và phụ thuộc vào khí hậu. Súc vật
nhai lại nhiễm giun ở tất cả các tháng trong năm, nhưng nhiễm nhiều và nặng hơn ở
những tháng mùa hè Êm và Èm.
Nguyễn Hữu Vũ và cs (2000) [25] cho rằng, gia súc mắc bệnh nhiều vào vụ
Hè và tăng vào vụ Thu. Đường truyền bệnh chủ yếu là do những con mắc bệnh thải
trứng theo phân ra đồng cỏ, bãi chăn, khi gia súc uống nước có lẫn Êu trùng dễ nuốt
phải Êu trùng có sức gây nhiễm. Bệnh nhiễm ở mọi lứa tuổi nhưng nhiều hơn ở gia
sóc non dưới 1 năm tuổi (Skrjabin K.I và Petrov A.M, 1963 [27]).
Theo Phan Địch Lân và cs (1989) [14], trứng và Êu trùng có có sức đề
kháng mạnh, nhiệt độ thích hợp nhất cho trứng phát triển là 33,3
0
C. Nhưng nếu với
nhiệt độ đó mà Èm độ cao (96%) thì trứng không phát triển được. Êu trùng gây
nhiễm ở nơi Èm ướt, nhiệt độ 50
0
C mới chết, nơi khô cạn phải 60
0
C mới chết. Êu
trùng gây nhiễm sống được ở nơi khô cạn 1 năm. Dung dịch CuSO
4
có thể diệt
trứng giun trong 8 giờ rưỡi và diệt Êu trùng trong vòng 3 giê, DDT 1% không diệt
được trứng.

chủ, và tiết độc tố làm máu không đông, gây xuất huyết, con vật bị thiếu máu nghiêm trọng.
- Tác động truyền bệnh: Giun bám chặt vào niêm mạc gây tổn thương, phá
vỡ vòng tuyến thượng bì, tạo điều kiện cho vi khuẩn từ môi trường xâm nhập gây
nên các bệnh ghép với các bệnh ký sinh trùng.
2.1.2.4. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh giun xoăn dạ múi khế
*Bệnh do Haemonchus contortus
Giun H. contortus gây tác hại lớn cho gia sóc nhai lại. Haemonchosis gây ra rối
loạn nặng toàn cơ thể: tổn thương đường tiêu hoá, hệ thần kinh, hệ tuần hoàn và các
tuyến nội tiết. Con vật mắc Haemonchosis bị kiệt sức nhanh, thiếu máu nặng, thấy
có những biến đổi bệnh lý trong não và tuỷ sống. Skrjabin K.I và Petrov A.M
(1963) [27] đã giải thích nh sau: sau khi xâm nhập vào dạ múi khế, H. contortus
bám chắc và chọc thủng niêm mạc, gây ra chảy máu mao mạch. Ngoài ra, nhiều
giun còn cắm sâu đầu vào các ống dẫn tuyến trong dạ múi khế và gây viêm các ống
đó. Haemonchus hút máu ký chủ. Khi ăn máu Haemonchus thải ra độc tố đặc biệt
làm ngộ độc cơ thể ký chủ.
Khi súc vật nhiễm bệnh nặng, niêm mạc dạ múi khế bị phủ một lớp màng
dày lên, có những chỗ chảy máu. Các chất trong dạ múi khế thường loãng và có
màu nâu. Ở con vật mắc bệnh thường thấy dạ múi khế viêm cataz mãn tính, vì vậy
lượng thức ăn ở đây không được thấm đầy đủ dịch vị. Thức ăn chuyển từ dạ múi
khế vào ruột ở dạng bán nhuyễn thể nên mức hấp thu vào máu cũng giảm đi. Độc tố
14
của giun làm cho con vật bệnh kiệt sức, thiếu máu và bị phù. Con vật chết vì suy
mòn do thiếu máu.
Quá trình tiến triển của Haemonchosis lại càng nặng hơn khi con vật bị bệnh
ghép cùng với những Trichostrongylus khác. Điều này hầu như thường xuyên xảy
ra, vì theo nguyên nhân bệnh, người ta thường gọi những bệnh đó là
Trichostrongylidosis (nghĩa là vật bị Haemonchosis ghép với các bệnh giun xoăn
khác. Trâu, bò, dê, cừu bị Haemonchus thì mệt mỏi, chậm chạp, kiệt sức, niêm mạc
thiếu máu, có thể bị ỉa chảy xen lẫn táo bón. Súc vật non thường không đứng được
phải nằm dệt. Vật dễ chết nếu mắc bệnh nặng.

bệnh lý) cũng chưa thể hiện rõ rệt. Số lượng giun nhiều hơn ở giai đoạn một.
Giai đoạn một và hai của Haemonchosis không thể coi là nguyên nhân làm
vật chết, nếu như không ghép cùng với các bệnh khác.
- Giai đoạn ba là giai đoạn con vật thể hiện triệu chứng điển hình, số lượng
giun nhiều hơn hai giai đoạn trên.
Nguyễn Thị Kim Lan (2000) [9] đã theo dõi 41 dê bị bệnh giun xoăn dạ múi
khế, thấy: 82,93% thiếu máu nặng, 100% gầy xơ xác, 63,41% ỉa lỏng liên miên,
36,59% ỉa chảy xen táo bón từng đợt, 39,02% bị thuỷ thũng ở ngực, bụng và 4 chân.
Mổ khám dê chết do giun xoăn dạ múi khế thấy, niêm mạc dạ múi khế phủ màng dầy,
có nhiều chỗ chảy máu. Chất chứa trong dạ múi khế thường loãng, màu nâu. Dạ múi
khế và ruột non viêm cataz mãn tính, niêm mạc thuỷ thũng, có nhiều mụn loét. Trong
chất chứa dạ múi khế và trên niêm mạc có nhiều giun xoăn ký sinh.
Theo Phan Địch Lân, Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2002), dê bị bệnh giun
xoăn dạ múi khế thường thiếu máu, kém hoạt bát, ăn uống sút kém, ỉa chảy và táo
bón xen kẽ. Thuỷ thũng dưới cổ, trước bụng, ngực và 4 chân. Con vật gầy yếu dần,
đi lại khó khăn, hay bị bỏ rơi sau đàn. Khi quá gầy yếu và thiếu máu, con vật chết.
*Bệnh do các loài giun xoăn khác ở dạ múi khế
Một số loài giun thuộc giống Trichostrongylus, Cooperia, Mecistocirrus ký
sinh ở dạ múi khế có thể gây bệnh cho gia sóc nhai lại, hoặc hỗn hợp nhiều loài,
hoặc riêng lẻ từng loài.
Bệnh lý của Trichostrongylosis phụ thuộc vào cường độ cảm nhiễm. Người
ta đã biết là gia súc bị chết khi nhiễm tới 60 - 120 nghìn Êu trùng cảm nhiễm
Trichostrongylus axei. Những con vật non nhiễm mức độ nặng chậm lớn và kém
phát triển. Bệnh chia làm hai thời kỳ. Thời kỳ thứ nhất - cấp tính, kéo dài gần 6 tuần
(ở thời kỳ này một số con non bị cảm nhiễm nặng, ngừng phát triển, sút cân và chết.
Mổ khám thấy dạ múi khế bị viêm cấp tính có kèm theo những nốt loét). Thời kỳ
16
thứ hai - mãn tính, triệu chứng giảm dần, con vật lên cân, những nốt loét trong dạ
múi khế dần dần lành thành sẹo. Giun Trichostrongylus gây bệnh yếu hơn
Haemonchus (Skrjabin K.I và Petrov A.M,1963) [27].

khác. Vai trò gây bệnh của nó (theo Ivaszkin, 1949) là: giun lấy dinh dưỡng bằng
máu và phá hoại niêm mạc nơi giun sống, gây viêm niêm mạc, do đó gây nên những
rối loạn tiêu hoá. Bệnh làm con vật kiệt sức, giảm hiệu suất và thường dẫn đến chết.
Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [27] cho biết, giun Mecistocirrus
digitatus là loài giun ăn máu. Bệnh làm gia sóc non kém phát triển và thường thấy
chết vào mùa xuân. Mổ khám thấy hiện tượng viêm cataz dạ múi khế, niêm mạc bị
xuất huyết điểm hoặc xuất huyết vùng.
Nhiều tác giả khác (Trịnh Văn Thịnh, 1978; Trịnh Văn Thịnh, 1982; Phạm
Văn Khuê và Phan Lục, 1996; Phạm Sỹ Lăng và cs, 2002) cũng thống nhất với các
tác giả trên về bệnh lý và lâm sàng của Mecistocirrosis.
2.1.2.6. Chẩn đoán bệnh giun xoăn dạ múi khế
Nghiên cứu về các phương pháp chẩn đoán bệnh do các loài giun thuộc họ
Trichostrongylidae gây nên, nhiều tác giả khẳng định: không thể chẩn đoán chính
xác bệnh nếu không tiến hành các phương pháp tìm trứng giun trong phân.
Theo Skrjabin K.I và Petrov A.M (1963) [27]; Trịnh Văn Thịnh (1963) [20],
kết hợp quan sát triệu chứng trên con vật còn sống với xác định trứng bằng cách soi
phân. Triệu chứng có thể thấy là viêm dạ dày ruột mãn tính, ỉa chảy xen táo bón. Soi
phân bằng phương pháp phù nổi dễ thấy trứng. Mổ khám con vật chết cũng cần phải
làm để tìm giun ở dạ múi khế và tá tràng; thấy được ngay những loài lớn (2 - 3 cm),
còn những loài nhỏ (4 - 5 mm) thì phải dùng kính lúp hoặc kính hiển vi (phóng đại 20
- 30 lần). Trịnh Văn Thịnh cho biết: ký sinh trùng thường dễ thấy, vì có hàng trăm,
hàng nghìn giun thuộc nhiều loài cùng ở lẫn với nhau. Cũng cần chú ý đến sự lưu
hành của bệnh: bệnh rất nặng, thường làm 1/2 số súc vật mắc bệnh chết, 1/2 số còn
lại bần huyết đến nỗi giá trị giảm tới 50%, khi mổ thịt thường phải giữ lại vì gầy rạc.
Bệnh đáng sợ hơn ở súc vật nuôi đàn (dê, cừu), vì chỉ cần đưa 1 con ốm vào là đủ làm
lây bệnh sang cả đàn. Con non dị cảm với bệnh hơn con trưởng thành. Các giống
nhập nội vào nước ta dễ mắc bệnh nặng và dễ chết. Đặc điểm dịch tễ học của bệnh là
những căn cứ góp phần xác định chính xác hơn.
Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [22]; Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [7]
cho biết, để chẩn đoán bệnh do Haemonchus và Mecistocirrus không thể chỉ căn cứ

- Chiều dài của Êu trùng (kể cả vỏ).
- Chiều dài của đuôi (đo từ hậu môn đến điểm chót của thân thể).
- Hình dạng đuôi, vỏ của Êu trùng.
- Số lượng và hình thái các tế bào ruột
Ngoài các phương pháp trên, đối với gia sóc nhai lại còn sống, có thể chẩn
đoán bằng phương pháp miễn dịch học.
Kháng nguyên chẩn đoán chế từ giun trưởng thành, Êu trùng hoặc dịch trong
cơ thể Êu trùng. Có thể pha loãng thành các nồng độ khác nhau từ 1: 5000 đến 1:
10.000. Dùng kháng nguyên tiêm trong da, tiêm dưới da, nhỏ mắt, làm phản ứng
lắng cặn, phản ứng kết hợp bổ thể , nhưng thường dùng phương pháp tiêm trong
19
da (tiêm nội bì). Liều tiêm kháng nguyên thường dùng là 0,1 - 0,5 ml. Sau khi tiêm
3 - 15 phót, theo dõi sự biến đổi ở nơi tiêm. Nếu nơi tiêm sưng to, xung quanh đỏ,
đường kính khoảng 2 - 4 cm thì phản ứng dương tính, ngược lại là âm tính. (Trịnh
Văn Thịnh và cs, 1982) [22]; (Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996) [7]. Hiện nay,
có thể chẩn đoán bệnh giun sán bằng một số phương pháp nh phương pháp
miễn dịch huỳnh quang, miễn dịch men ELISA Tuy nhiên, các phương pháp
này còn Ýt được sử dụng trong thó y mà chủ yếu được dùng trong y học
(Nguyễn Thị Lê và cs, 1996) [17].
2.1.2.7. Phòng trị bệnh giun xoăn dạ múi khế
*Điều trị bệnh
Từ những vấn đề đã trình bày ở trên, chúng ta đã thấy vai trò gây bệnh của
những giun tròn thuộc họ Trichostrongylidae là rất nghiêm trọng. Vì vậy, cần có
các biện pháp điều trị hiệu quả.
Theo Trịnh Văn Thịnh (1963) [20] có thể áp dụng kết hợp 3 biện pháp trong
chữa Trichostrongylidosis. Đó là:
- Cách ly súc vật ốm và tẩy giun kịp thời bằng các thuốc: CuSO
4
(dung dịch
1/100 trong nước mưa), liều 15 - 150 ml/con (tuỳ theo lứa tuổi và trạng thái sức

Phạm Văn Khuê và cs (1996) [7], có thể dùng các thuốc sau điều trị bệnh giun xoăn
dạ dày và ruột loài nhai lại:
- Phenothiazin: hiệu quả tốt, liều 0,2 g/kgTT (bò, trâu), 0,5 - 1 g/kgTT (dê,
cừu). Có thể trộn lẫn thuốc với nước cháo đun nóng, nồng độ 2,5 - 3%, cứ 100 ml
nước cháo trộn với 10 g thuốc.
- Dung dịch sulfat đồng 1% cũng có tác dụng với giun. Liều dùng:
Gia súc nhỏ: 15 - 20 ml/con
Gia súc trưởng thành: 80 - 150 ml/con
Đối với dê, dùng liều thấp hơn (dê lớn không quá 60 ml).
Đối với bê, dùng liều 2 - 3 ml/kgTT.
Trong thời gian chăn dắt người ta dùng liều thuốc nhỏ: sulfat đồng với muối
ăn, theo tỷ lệ 1: 100; sulfat đồng với Phenothiazin và muối, tỷ lệ 1: 5: 100 cho
ăn trong cả thời gian chăn dắt, nếu thời tiết nóng thì ngừng độ 2 - 4 tuần.
Khi pha sulfat đồng cần chú ý pha với nước cất hoặc nước mưa sạch, không
dùng dụng cụ kim loại, pha xong dùng ngay. Cho uống thuốc qua ống cao su một
đầu có phễu, không để thuốc lọt vào khí quản. Nếu con vật trúng độc, cho ăn trứng
gà hoặc uống 5 - 10 g Magie oxyt (MgO).
21
Jorgen Hansen và Brian Perry (1994) [30] cho biết, những loại thuốc có tác
dụng điều trị giun và cả Êu trùng giun trong cơ thể cừu là: Albendazole, Febantel,
Fenbendazole, Oxfendazole, Levamisole và Ivermectin.
Johannes Kaufmann (1996) [29] còng cho biết, những hoá dược có tác dụng
diệt giun xoăn dạ dày - ruột ở trâu, bò và cừu: Albendazole, Febantel,
Fenbendazole, Ivermectin, Levamisol, Netobimin, Morantel tartrate, Oxfendazole.
Kieran P. J. (1994) [33] nghiên cứu và cho thấy, thuốc Moxidectin với liều chỉ
định là 0,2 mg/kgTT có thể tránh được một số chủng giun tròn ở loài nhai lại mà
những chủng này đã thể hiện sự kháng lại thuốc Ivermectin. Thuốc Moxidectin tá ra
có khả năng phòng chống tốt hơn với cả 3 giống giun phổ biến là Haemonchus,
Ostertagia và Trichostrongylus. Tác giả khuyến cáo, trong những chương trình điều
trị chiến lược, nên dùng Moxidectin để giảm những rủi ro về sự tăng khả năng

dự phòng có tính chất chủ động: dùng tất cả các phương pháp cơ giới, vật lý (ánh
sáng, độ nóng), hoá học (thuốc), sinh vật học (sinh vật nọ tiêu diệt sinh vật kia) để
tiêu diệt giun sán trên cơ thể ký chủ, tiêu diệt giun sán ở ngoại cảnh, tiêu diệt giun
sán ở tất cả các giai đoạn phát dục (trứng, Êu trùng, giun sán trưởng thành).
Trên cơ sở đó, việc phòng bệnh giun xoăn dạ múi khế phải đạt được các yêu
cầu sau:
- Điều trị cho con vật ốm khỏi bệnh và đảm bảo cho ngoại cảnh không bị
nhiễm mầm bệnh, tránh mầm bệnh nhiễm vào các con vật khác. Sau khi tẩy phải
diệt trừ tất cả giun và trứng được thải ra ngoài để ngăn ngừa mầm bệnh phát tán.
- Định kỳ dùng thuốc tẩy giun xoăn dạ múi khế, chống tái nhiễm, bội nhiễm.
- Tập trung phân để xử lý diệt mầm bệnh.
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17] đã vận dụng học thuyết Skrjabin.K.I để đưa
ra biện pháp phòng chống các bệnh giun sán. Tác giả cho rằng, biện pháp hữu hiệu
để phòng chống các bệnh giun sán ở gia súc là biện pháp phòng chống tổng hợp,
nghĩa là ở những vùng sinh thái nhất định đồng thời sử dụng nhiều biện pháp có
hiệu quả đối với tất cả các giai đoạn phát triển của giun sán ở môi trường cũng như
trong cơ thể ký chủ.
Nh vậy, khâu quan trọng trong biện pháp phòng chống tổng hợp là tẩy giun
xoăn dạ múi khế cho gia sóc nhai lại. Có thể tẩy giun còn non và giun trưởng thành.
Nhưng thực tế trong điều kiện khí hậu nóng Èm của Việt Nam, mầm bệnh giun
xoăn dạ múi khế hầu nh tồn tại và phát triển quanh năm. Vì thế, trong cùng một cơ
thể động vật, đồng thời tồn tại nhiều cá thể giun ở các giai đoạn phát triển khác
nhau. Tuy vậy, tốt nhất là chọn loại thuốc tẩy được cả giun non, nghĩa là khi chúng
23
chưa đạt đến giai đoạn trưởng thành, để tránh mầm bệnh phát tán ra môi trường
ngoài.
Nguyễn Thị Lê (1996) [17] khuyến cáo rằng, để tẩy giun đạt hiệu quả cần
biết một số yêu cầu sau: chẩn đoán bệnh chính xác; trước tiên phải tẩy cho những
con vật bị nhiễm nặng hoặc có biểu hiện lâm sàng; với mục đích phòng bệnh thì nên
tẩy cho cả đàn gia súc vì có thể có những gia súc đang mang mầm bệnh nhưng chưa

- Không chăn thả súc vật nhai lại ở những bãi chăn Èm thấp.
- Không cho súc vật nhai lại uống nước vũng tù có nhiều Êu trùng gây nhiễm.
- Thực hiện chăn thả luân phiên đồng cỏ để phòng bệnh.
Trong các biện pháp trên, biện pháp tẩy giun trước khi chúng trưởng thành
có tác dụng phòng bệnh rất tốt. Phenothiazin - mét trong những thuốc có tác dụng
ức chế giun trưởng thành đẻ trứng và tẩy cả giun non - được khuyên là nên dùng để
tẩy mang tính chất phòng bệnh cho gia sóc nhai lại. Trong thời gian chăn thả, mỗi
ngày cho uống thuốc một lần để phòng bệnh. Có thể dùng thuốc theo tỷ lệ:
Phenothiazin 10 phần, bột gạo 20 phần, bột xương 10 phần, muối ăn 60 phần. Ngoài
ra, có thể thêm một số nguyên tố vi lượng nh đồng, coban, iot Trộn lẫn những thứ
trên, cho thêm một Ýt nước cháo, làm thành viên, phơi khô, cho vào máng ăn, để
súc vật tự gặm (chú ý là nếu viên thuốc bị Èm ướt, súc vật ăn quá nhiều có thể bị
trúng độc).
Ngoài ra, người ta còn tiêm vắcxin chế từ Êu trùng giun xoăn thuộc họ
Trichostrongylidae đã được làm giảm độc bằng chiếu tia X để phòng bệnh cũng cho
hiệu quả tốt (Jarret, 1959).
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1. Tình hình nghiên cứu bệnh giun xoăn dạ múi khế ở nước ngoài
Bệnh giun xoăn dạ múi khế phổ biến khắp các nước trên thế giới, gây tổn hại
lớn cho ngành chăn nuôi. Chính vì vậy có rất nhiều nhà nghiên cứu đã nghiên cứu về
tác hại của bệnh này, đồng thời đưa ra các biện pháp phòng và trị cho gia sóc nhai lại.
Theo Soulsby E.J.L (1982) [34], nhìn chung sự phát triển của các loài giun
xoăn họ Trichostrongylidae ở giai đoạn sống tự do (ở ngoài ngoại cảnh) phụ thuộc
vào điều kiện khí hậu. Ở nước Anh, Êu trùng có thể phát triển đến giai đoạn gây
nhiễm trong 2 tuần, nhưng thường thì dài hơn và phụ thuộc vào khí hậu trong thời
gian đồng cỏ ô nhiễm. Trâu, bò nhiễm giun vào tất cả các tháng trong năm, nhưng
nhiễm nhiều và nặng hơn ở những tháng mùa Hè Êm và Èm.
Wharton D.A (1982) [38] báo cáo rằng, Êu trùng Trichostrongylus colubriformis
phát triển qua 4 - 6 ngày ở nhiệt độ 27
0


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status