đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh trichocephalus suis ở lợn tại một số huyện thuộc tỉnh thái nguyên - Pdf 22


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN HUY

ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, BỆNH LÝ, LÂM SÀNG
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH TRICHOCEPHALUS SUIS Ở
LỢN TẠI MỘT SỐ HUYỆN THUỘC TỈNH THÁI NGUYÊN

CHUYÊN NGÀNH: THÚ Y
MÃ SỐ: 60 62 50 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên iii
LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn Thạc sỹ khoa học Nông nghiệp, em xin trân
trọng cảm ơn:
- Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Chăn nuôi - Thú y cùng toàn
thể cán bộ, giảng viên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ, chỉ
bảo em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường.
- Lãnh đạo, cán bộ Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương, cán bộ
Trạm thú y các huyện Định Hóa, Phú Lương, Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên đã
tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài.
- Với lòng biết ơn chân thành, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới:
TS. Hoàng Văn Dũng, TS. Nguyễn Văn Quang, PGS.TS Nguyễn Thị Kim Lan đã
tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và
hoàn thành luận văn tốt nghiệp.

NGHIÊN CỨU 36
2.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 36
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 36
2.1.2. Vật liệu nghiên cứu 36
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 36
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu 36
2.2.2. Thời gian nghiên cứu 37
2.3. Nội dung nghiên cứu 37
2.3.1. Đặc điểm dịch tễ bệnh giun tròn Trichocephalus suis ở lợn 37
2.3.2. Nghiên cứu bệnh do Trichocephalus suis gây ra ở lợn 37
2.3.3. Biện pháp phòng trị bệnh giun tròn Trichocephalus suis cho lợn 38
2.4. Phương pháp nghiên cứu 38
2.4.1. Phương pháp lấy mẫu 38
2.4.2. Phương pháp xét nghiệm mẫu 39
2.4.3. Phương pháp xác định thời gian phát triển và khả năng sống của
trứng giun Trichocephalus suis trong phân lợn ở ngoại cảnh 40
2.4.4. Phương pháp xác định thời gian phát triển và khả năng sống
của trứng giun Trichocephalus suis trong đất 41

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên v
2.4.5. Phương pháp theo dõi tác dụng của một số chất sát trùng đối
với trứng giun T. suis 43
2.4.6. Phương pháp gây nhiễm cho lợn 44
2.4.7. Phương pháp theo dõi các biểu hiện lâm sàng bệnh
Trichocephalus suis ở lợn gây nhiễm 47
2.4.8. Phương pháp xét nghiệm máu để xác định một số chỉ số huyết học của
lợn khỏe và lợn bị bệnh giun Trichocephalus suis do gây nhiễm 47

3.3. Biện pháp phòng trị bệnh giun Trichocephalus suis cho lợn 94
3.3.1. Hiệu lực của một số thuốc tẩy giun T. suis cho lợn 94
3.3.2. Độ an toàn của thuốc tẩy giun T. suis cho lợn 96
3.3.3. Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun tròn Trichocephalus suis cho lợn 97
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 99
1. Kết luận 99
2. Đề nghị ………….100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên vii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

- : Đến
% : Tỷ lệ phần trăm
≤ : Nhỏ hơn hoặc bằng
< : Nhỏ hơn

Bảng 3.6. Khả năng sống của trứng giun T. suis có sức gây bệnh trong
phân lợn ở ngoại cảnh 66
Bảng 3.7. Sự phát triển của trứng giun T. suis trong đất bề mặt 68
Bảng 3.8. Khả năng sống của trứng giun T. suis có sức gây bệnh trong đất bề mặt 70
Bảng 3.9. Thử nghiệm tác dụng của một số chất sát trùng đối với trứng
giun T. suis 72
Bảng 3.10. Kết quả gây nhiễm giun T. suis cho lợn 74
Bảng 3.11. Biểu hiện lâm sàng và khối lượng của lợn gây nhiễm 75
Bảng 3.12. Bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hóa lợn bị bệnh giun T. suis
do gây nhiễm 78
Bảng 3.13. Tỷ lệ tiêu bản có bệnh tích vi thể trong số tiêu bản nghiên cứu 82
Bảng 3.14. Số lượng hồng cầu, bạch cầu và hàm lượng huyết sắc tố của
lợn đối chứng và lợn gây nhiễm 87
Bảng 3.15. Công thức bạch cầu của lợn đối chứng và lợn gây nhiễm 89
Bảng 3.16. Xác định tương quan giữa số giun T. suis ở lợn gây nhiễm với
số trứng giun trong 1 g phân 92
Bảng 3.17. Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng của lợn bị bệnh giun T. suis
ở các địa phương 93
Bảng 3.18. Hiệu lực của thuốc tẩy giun T. suis cho lợn 94
Bảng 3.19. Độ an toàn của thuốc tẩy giun T. suis cho lợn 96

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ix

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1. Ảnh giun Trichocephalus suis 5
Hình 2.1. Ảnh xét nghiệm phân tìm trứng giun T. suis bằng phương pháp

Hình 3.15. Ảnh giun T. suis sau khi để chết tự nhiên trong nước 81
Hình 3.16. Ảnh bệnh tích đại thể ở ruột già lợn gây nhiễm (Niêm mạc kết
tràng xuất huyết) 82
Hình 3.17. Ảnh biểu mô ruột bị phá hủy (Độ phóng đại 150 lần) 83
Hình 3.18. Ảnh biểu mô ruột bị phá hủy (Độ phóng đại 400 lần) 83
Hình 3.19. Ảnh niêm mạc ruột sung huyết (Độ phóng đại 400 lần) 84
Hình 3.20. Ảnh xuất huyết trong niêm mạc ruột (Độ phóng đại 400 lần) 84
Hình 3.21. Ảnh tế bào bạch cầu ái toan thâm nhiễm ở hạ niêm mạc (Độ phóng
đại 600 lần) 85
Hình 3.22. Ảnh tế bào bào viêm - Bạch cầu đơn nhân lớn (Độ phóng
đại 600 lần) 85
Hình 3.23. Ảnh ổ viêm trong niêm mạc ruột (Độ phóng đại 150 lần) 86
Hình 3.24. Ảnh hạ niêm mạc thấm nước phù, cấu trúc tế bào lỏng lẻo (Độ phóng
đại 400 lần) 87
Hình 3.25. Biểu đồ số lượng hồng cầu, số lượng bạch cầu, hàm lượng huyết
sắc tố của lợn đối chứng và lợn sau gây nhiễm 89
Hình 3.26. Biểu đồ công thức bạch cầu của lợn ở lô đối chứng và lô gây nhiễm 91

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên xi
chăn nuôi tập trung, quy mô trang trại như hiện nay.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2
Việt Nam là một nước nằm trong vùng Đông Nam Á có khí hậu nhiệt
đới nóng ẩm, có rất nhiều loài ký sinh trùng phát triển, ký sinh và gây bệnh
cho vật nuôi, trong đó có loài giun tròn Trichocephalus suis ký sinh và gây
bệnh ở lợn. Trichocephalus suis ký sinh đã gây ra các tổn thương và viêm
nhiễm kế phát do vi khuẩn xâm nhập vào các nội quan của lợn, ảnh hưởng đến
quá trình sinh trưởng, đặc biệt là tiêu tốn thức ăn, giảm tăng trọng từ 15 - 20%
so với lợn không bị bệnh (Phạm Sỹ Lăng và cs 2006 [22]).
Trong những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về tình
hình nhiễm giun Trichocephalus suis và vai trò của Trichocephalus suis trong
hội chứng tiêu chảy ở lợn con. Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [17], đã
nghiên cứu và cho biết: Giun Trichocephalus suis có vai trò trong hội chứng
tiêu chảy ở lợn con. Tỷ lệ nhiễm giun Trichocephalus suis ở lợn con tiêu chảy
là 27,01%; lợn mắc bệnh giun Trichocephalus suis ở cường độ nặng biểu hiện
còi cọc, chậm lớn, tiêu chảy, ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi. Lợn có phân
bình thường tỷ lệ nhiễm thấp hơn (23,01%) và thường nhiễm nhẹ. Tuy nhiên,
những công trình nghiên cứu về bệnh giun Trichocephalus suis ở lợn còn rất ít.
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi, phần lớn dân số làm nông nghiệp,
trong đó chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng. Tuy nhiên, công tác
phòng chống bệnh giun Trichocephalus suis chưa được chú ý nhiều, chưa có
quy trình phòng bệnh hiệu quả.
Từ yêu cầu cấp thiết của việc khống chế dịch bệnh, nâng cao năng suất
chăn nuôi lợn ở tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Đặc điểm dịch tễ,
bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng trị bệnh Trichocephalus suis ở lợn tại
một số huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên”.

4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1. Giun tròn Trichocephalus suis ký sinh ở lợn
1.1.1.1. Vị trí của Trichocephalus suis trong hệ thống phân loại động vật
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [26], Phan Thế Việt và cs (1977)
[45], vị trí của Trichocephalus suis (T. suis) trong hệ thống phân loại động vật
như sau:
Lớp Nematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp Enoplia Chitwood, 1933
Bộ Trichocephalida Skrjabin et Schulz, 1928
Phân bộ Trichocephalata Skrjabin et Schulz, 1928
Họ Trichocephalidae Baird, 1953
Phân họ Trichocephalinae Ransom, 1911
Giống Trichocephalus Schrank, 1788
Loài Trichocephalus suis Schrank, 1788
1.1.1.2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [26] đã mô tả giun T. suis như sau:
Con đực: Dài 37,52 - 40,63 mm; rộng nhất 0,634 - 0,713 mm. Phần
trước cơ thể dài 23,48 - 25,75 mm; phần sau dài 14,00 - 15,00 mm; có dạng
xoắn lò xo. Gai sinh dục dài 1,70 - 2,55 mm; rộng 0,07 - 0,10 mm; mút cuối
gai nhọn. Bao gai phủ đầy gai nhỏ. Lỗ huyệt nằm ở mút cuối đuôi.
Con cái: Cơ thể dài 37,89 - 50,60 mm; rộng 0,734 - 1,012 mm; phần
trước cơ thể dài 23 - 33 mm. Ống sinh dục đơn. Âm đạo có thành cơ dày,
chứa đầy trứng. Kích thước trứng 0,024 - 0,027 x 0,056 - 0,061 mm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6
Trứng T. suis hình hạt chanh, màu vàng nhạt, kích thước 0,052 - 0,061
x 0,027 - 0,03 mm. Hai cực có hai nút trong, vỏ dày có 2 lớp.
Theo Skrjabin K.I. (1979) [48], con đực có chiều dài thân trung bình là
40,35 mm; tối thiểu 33,0 mm; tối đa là 48,0 mm. Chiều dài của phần trước
trung bình là 25,3 mm (20 - 30 mm); phần sau 15,1 mm (12 - 19 mm). Tỷ lệ
chiều dài của phần trước với phần sau là 1,68 : 1. Thân con đực phủ lớp cutin
được vạch bởi nhiều rãnh ngang, làm cho lớp cutin có nhiều mấp mô, hình
răng nhỏ. Thực quản kéo dài dọc theo phần mỏng trước thân và chuyển vào
ruột ở chỗ ranh giới giữa phần mỏng và dày của thân. Chiều rộng của phần
trước thực quản 0,035 - 0,44 mm; của chỗ chuyển vào ruột 0,074 - 0,092 mm.
Thực quản được bao quanh bởi một hàng tế bào đơn nhân theo dạng móc
xích. Ruột kết thúc bởi huyệt trên phần đuôi. Hệ thống sinh dục của con đực
gồm những ống dẫn tinh uốn khúc chiếm hầu hết phần sau thân.
Đuôi con đực vòng xoắn ốc. Gai giao hợp kết thúc bằng một đỉnh nhọn.
Chiều dài gai xê dịch từ 1,74 - 2,48 mm. Chỗ rộng nhất của gai là gốc gai dài
0,084 - 0,110 mm. Có bao gai bọc chung quanh và cùng với gai lồi ra khỏi lỗ
huyệt. Bao gai được phủ bởi rất nhiều gai nhỏ, những gai này xếp theo thứ tự
quân cờ. Số lượng hàng gai nhỏ gần nơi chuyển của bao vào thân là 24 - 42; ở
đầu đối diện với nó số lượng hàng tăng tới 44 - 56. Hình dạng bao gai tròn,
căng, dài 0,044 mm. Chiều rộng của bao gai ở chỗ lồi ra khỏi huyệt tăng lên
về kích thước: Chiều rộng chỗ gần huyệt là 0,057 - 0,092 mm; trong khi đó ở
chỗ cuối gai là 0,079 - 0,159 mm. Tất cả con đực có một đầu bao gai gập hình
cổ tay áo hay là hình bao tay, bao này một phần hay toàn bộ bao phủ phần bao
gai lồi ra khỏi thân. Chiều dài của chỗ gập là 0,242 - 0,330 mm; rộng là 0,290
- 0,352 mm.
Con cái: Chiều dài thân trung bình 45,55 mm; tối thiểu 38 mm và tối đa
53 mm. Chiều dài phần trước mỏng của thân trung bình là 30,55 mm (25 - 35

C, ẩm độ 80 - 85%.
Trịnh Văn Thịnh (1985) [41] cho biết, chu kỳ sinh học của giun T. suis
gồm 2 giai đoạn: Một giai đoạn ở ngoại cảnh, phát triển từ trứng đến ấu trùng
cảm nhiễm; giai đoạn thứ hai ở ký chủ, ấu trùng cảm nhiễm phát triển thành
giun trưởng thành. Không có thời kỳ di hành trong cơ thể ký chủ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8
Lợn nhiễm bệnh giun T. suis là do nuốt phải trứng cảm nhiễm. Trứng
này theo thức ăn, nước uống vào đường tiêu hóa của ký chủ, ấu trùng được nở
ra, chui sâu vào niêm mạc ruột già (Nguyễn Thị Kim Lan và cs 1999 [15]).
Bonner Stewart. T, Bert E. Stromberg, Bruce Lawhorn. D. (2000) [46]
cho biết: Những ấu trùng này nằm sâu trong niêm mạc 2 tuần, nhô ra khỏi
niêm mạc ở tuần thứ 3 và phát triển thành giun trưởng thành trong khi bám
vào niêm mạc ruột già.
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1976) [12], Phan Địch Lân và cs (2005)
[24], thời gian hoàn thành vòng đời của giun T. suis là 30 ngày.
Trịnh Văn Thịnh (1985) [41], Đào Trọng Đạt và cs (1996) [5] cho rằng,
tuổi thọ của giun T. suis ở lợn là từ 4 - 5 tháng. Theo Lương Văn Huấn và cs
(1990) [8], giun T. suis sống được trong cơ thể lợn 114 ngày.
1.1.1.4. Sức đề kháng của trứng giun T. suis
Sức đề kháng là khả năng chống lại những tác nhân ngoại cảnh tác động
đến sự sinh trưởng và phát triển bình thường của trứng giun T. suis. Việc
nghiên cứu về sức đề kháng của trứng T. suis ở môi trường ngoại cảnh có ý
nghĩa quan trọng trong dịch tễ học bệnh giun T. suis, đồng thời là cơ sở khoa
học để đề ra những biện pháp phòng trị bệnh giun T. suis có hiệu quả.
Ở môi trường ngoại cảnh, trứng giun T. suis phát triển thuận lợi nhất ở
nhiệt độ từ 18 - 30

ấu trùng bị diệt nhanh hơn trứng non.
1.1.2. Bệnh do Trichocephalus suis gây ra ở lợn
1.1.2.1. Những thiệt hại kinh tế do bệnh giun Trichocephalus suis gây ra
Bệnh ký sinh trùng ở gia súc, gia cầm nói chung và bệnh ký sinh trùng
ở đường tiêu hóa lợn nói riêng không tạo thành các ổ dịch lớn như những
bệnh truyền nhiễm do virut, vi khuẩn gây ra. Nhưng bệnh thường kéo dài âm
ỉ, ảnh hưởng đến thể trạng và sức khỏe vật chủ, làm hạn chế sự sinh trưởng và
phát triển của lợn, tăng tiêu tốn thức ăn và các chi phí khác như thuốc điều trị,
thuốc sát trùng, công chăm sóc, nuôi dưỡng và đặc biệt là yếu tố mở đường
cho các mầm bệnh khác xâm nhập. Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [40],
bệnh ký sinh trùng thường là những bệnh mãn tính, làm giảm mức sinh trưởng
và sinh sản của gia súc, ảnh hưởng đến sản phẩm chăn nuôi. Mức độ sinh
trưởng của lợn con khi bị nhiễm Ascaris suum, Trichocephalus suis,
Strongyloides ransomi có thể giảm 30% so với bình thường. Lợn nuôi lấy thịt
chậm lớn, sụt cân, phẩm chất thịt giảm.
Bonner Stewart. T, Bert E. Stromberg, Bruce Lawhorn. D (2000) [46]
cho biết: Tại Mỹ, nội ký sinh trùng ở lợn hàng năm gây thiệt hại ước tính
khoảng 538 triệu đô la. Ước tính gồm thiệt hại do lợn chết, tiêu hủy, giảm thu
và chi phí để tẩy giun sán. Ngoài ra, những ký sinh trùng ở dạ dày, ruột và các

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10
cơ quan khác còn tranh giành trực tiếp thức ăn với ký chủ, vì thế làm giảm
tăng trọng và tăng tiêu tốn thức ăn. Các tổ chức tế bào bị thương do di chuyển
của giun cũng giúp các mầm bệnh khác như Serpulina hyodysenteriae,
Mycoplasma hyopneumoniae xâm nhập và gây bệnh.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [22], Trichocephalus suis ký sinh là
một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất chăn nuôi và tạo điều kiện

có tỷ lệ phát triển là 86%).
* Tuổi mắc bệnh
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [22], bệnh giun T. suis ở lợn phân bố
trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, bệnh cũng đã được phát hiện ở tất cả các tỉnh
miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Ở Hà Nội, lợn bị nhiễm T. suis từ 4,3 -
30% (ở lứa tuổi từ 2 - 6 tháng) và 0,56 - 7,8% (ở lứa tuổi trên 6 tháng).
Lương Văn Huấn và cộng sự (1990) [8] cho biết, tỷ lệ nhiễm T. suis
theo tuổi lợn như sau:
Dưới 3 tháng tuổi nhiễm 20,4%
Từ 3 - 4 tháng tuổi nhiễm 21,2%
Từ 5 - 6 tháng tuổi nhiễm 8,5%
Trên 6 tháng tuổi nhiễm 6,4%.
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [5], lợn ở giai đoạn 2 - 6 tháng tuổi
nhạy cảm nhất với giun T. suis. Kết quả điều tra tại hợp tác xã Tiền Phong (Hà Nội)
nuôi lợn Ỉ lai Yorkshire, Berkshire tỷ lệ nhiễm giun T. suis ở lợn dưới 2 tháng
tuổi là 16%, trong khi lợn 5 tháng tuổi nhiễm 13,5% và lợn 7 tháng tuổi nhiễm
6,2%. Tại hợp tác xã Đông Mỹ (Hà Nội) tỷ lệ lợn dưới 2 tháng tuổi nhiễm
giun T. suis là 20,8%. Ngày tuổi bình quân lần đầu tiên phát hiện trứng giun T.
suis trong phân lợn nội là 74 ngày (từ 58 - 89 ngày), lợn lai Landrace 56 ngày
(43 - 64 ngày), lợn lai Berkshire 61 ngày (56 - 75 ngày), lợn lai Yorkshire 76
ngày và lợn ngoại 62 ngày (38 - 81 ngày).
Nguyễn Thị Lê (1966) [25] cho biết: Qua điều tra giun sán ký sinh ở
lợn tại nông trường Cửu Long vào tháng 2 - 1962 thấy lợn con 1,5 - 2 tháng
nhiễm rất nặng các loại giun Physocephalus (75%). Ngoài ra, nhiều lợn nhiễm
Trichocephalus suis và Oesophagostomum dentatum.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 12


13
4. Nam Trung bộ:
+ Đồng bằng: 17,5%
+ Miền núi: 34,7%
5. Tây Nguyên: 20,8%
6. Tây Nam bộ: 9,4%
7. Đông Nam bộ: 13,1%.
Tác giả cho biết Trichocephalus suis phân bố đều khắp các vùng, tỷ
lệ nhiễm cao nhất ở giai đoạn 2 - 6 tháng tuổi, sau đó giảm, ít gây tác hại
đối với lợn lớn.
Phạm Văn Khuê (1982) [13] nghiên cứu biến động nhiễm giun sán theo
tuổi lợn tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long; theo tác giả điều này rất quan
trọng vì qua đó có thể nắm được lứa tuổi nào nhiễm giun sán cao, lứa tuổi nào
nhiễm thấp để có cơ sở khoa học xây dựng các biện pháp phòng trừ. Qua kiểm
tra 289 lợn ở 4 lứa tuổi (dưới 2 tháng, 3 - 4 tháng, 5 - 7 tháng và trên 8 tháng),
kết quả cho thấy: Lợn con dưới 2 tháng tuổi đã nhiễm tới 12 loài trong số
13 loài giun sán, có một số loài có sức gây bệnh mạnh, tỷ lệ nhiễm cao như
A. suum (48,7%); A. dentata (12,8%) và T. suis (30,7%). Trong 13 loài giun sán
có một số loài có chiều hướng tăng dần theo tuổi của vật chủ như T. hydatigena,
M. elongatus, M. salmi, O. dentatum. Ngược lại A. suum và đặc biệt T. suis có tỷ
lệ cao giới hạn ở lứa tuổi từ 2 - 5 tháng, sau đó giảm dần.
* Đường lây nhiễm
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [23], bệnh lây nhiễm qua đường tiêu
hóa do lợn nuốt phải trứng có sức cảm nhiễm lẫn trong thức ăn, nước uống.
* Mùa vụ
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [23], bệnh giun T. suis lây nhiễm
quanh năm nhưng tập trung từ mùa xuân tới mùa thu. Mùa đông, thời tiết
lạnh, độ ẩm thấp, không thích hợp cho trứng phát triển thành dạng trứng cảm
nhiễm nên tỷ lệ nhiễm giun trong đàn lợn giảm đi.

lợn nuôi thả rông là 96,5%. Trong đó, tỷ lệ nhiễm giun T. suis ở lợn nuôi nhốt
là 30%; lợn nuôi thả rông là 47% (dẫn theo Trịnh Văn Thịnh và cs 1978 [39]).

Trích đoạn Biện pháp phòng trị bệnh giun tròn Trichocephalus suis cho lợn an toàn của thuốc tẩy giun T suis cho lợn xuất biện pháp phòng trị bệnh giun tròn Trichocephalus suis cho lợn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status