nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng lợn, đặc điểm sinh vật của vi khuẩn pasteurella multocida gây bệnh tụ huyết trùng ở lợn tại tỉnh phú thọ và biện pháp phòng trị - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

VŨ PHẠM THÁI NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DịCH TỄ BỆNH
TỤ HUYẾT TRÙNG, ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC
CỦA VI KHUẨN PASTEURELLA MULTOCIDA GÂY
BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG Ổ LỢN TẠII TỈNH PHÚ
THỌ VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP


LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN, NĂM 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

i

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào. Mọi

của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình và trực tiếp của các
Thày hướng dẫn, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới:
- PGS.TS. Nguyễn Quang Tuyên
- PGS.TS. Cù Hữu Phú
Đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi hoàn thành nội dung nghiên cứu đề
tài và mang lại kết quả ngày hôm nay.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự tạo điều kiện giúp đỡ của Lãnh đạo
Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Khoa sau đại học Trường Đại học
Nông lâm Thái Nguyên, Lãnh đạo và tập thể cán bộ Bộ môn Vi trùng, các
phòng ban chức năng của Viện Thú y Quốc gia, Lãnh đạo, phòng đào tạo và
khoa chăn nuôi thú y Trường Trung học Nông lâm nghiệp Phú Thọ.
Xin chân thành cảm ơn giúp đỡ quý báu của tập thể Lãnh đạo và cán bộ
Chi cục Thú y tỉnh Phú Thọ, tập thể Lãnh đạo và cán bộ Trạm Thú y các
huyện: huyện Lâm Thao, huyện Phù Ninh, Thị xã Phú Thọ và các anh, chị thú
y viên cơ sở, các hộ chăn nuôi thuộc các xã Tứ Xã, Sơn Vi, Hợp Hải, Phú
Nham, Gia Thanh, Hạ Giáp, Hà Thạch, Văn Lung và Hà Lộc.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình, bạn bè đồng
nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2009
TÁC GIẢ LUẬN VĂN Vũ Phạm Thái

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

iii


:
mililit
TT
:
Thể trọng
+ Chú thích: LT1
:
Mẫu nghiên cứu sô 1 tại Lâm Thao
PN4
:
Mẫu nghiên cứu sô 4 tại Phù Ninh
TX10
:
Mẫu nghiên cứu sô 10 tại T.X Phú Thọ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

iv

Ảnh 8
Các sản phẩm của phản ứng PCR
97
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

v
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ i
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Tình hình bệnh tụ huyết trùng gia súc 3
1.1.1. Trên thế giới 3
1.1.2. Ở Việt Nam 5

2.3.2. Động vật thí nghiệm: Chuột bạch có trọng lượng từ 18 - 20gam/con. 44
2.3.3. Giống vi khuẩn: Các chủng P. multocida phân lập được để xác
định các đặc tính sinh vật, hóa học được đông khô giữ giống. 44
2.3.4. Các hệ mồi (Primer): Dùng để xác định serotype vi khuẩn
P.multocida bằng phương pháp PCR. 44
2.3.5. Các loại đường dùng cho phản ứng lên men đường 44
2.3.6. Máy móc, thiết bị, dụng cụ phòng thí nghiệm 44
2.3.7. Các loại hóa chất dùng cho nghiên cứu 44
2.3.8. Môi trường sử dụng và nuôi cấy vi khuẩn 44
2.4. Phương pháp nghiên cứu 44
2.4.1. Phương pháp điều tra dịch tễ bệnh THT lợn 44
2.4.2. Phương pháp lấy mẫu 44
2.4.3. Phương pháp nuôi cấy, phân lập vi khuẩn 45
2.4.4. Phương pháp xác định một số đặc tính sinh vật, hoá học của vi
khuẩn P. multocida 47
2.4.5. Phương pháp kiểm tra độc lực của vi khuẩn P. multocida phân
lập được 47
2.4.6. Phương pháp xác định type kháng nguyên của P. multocida 50
2.4.7. Phương pháp xử lý số liệu 51

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

vii
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 52
3.1. Kết quả điều tra tình hình dịch bệnh tụ huyết trùng lợn tại các
huyện nghiên cứu ở tỉnh Phú Thọ 52
3.1.1. Kết quả điều tra bệnh tụ huyết trùng ở lợn tại tỉnh Phú Thọ qua
các năm 2006 - 2008 52
3.1.2. Kết quả điều tra số lượng lợn mắc và chết do bệnh tụ huyết trùng
tại tỉnh Phú Thọ ở các mùa vụ 56

Bảng 3.5: Kết quả điều tra tỷ lệ lợn mắc và chết bệnh tụ huyết trùng ở
tỉnh Phú Thọ theo phương thức chăn nuôi 62
Bảng 3.6: Kết quả điều tra tỷ lệ lợn mắc và chết bệnh tụ huyết trùng
theo giống lợn 65
Bảng 3.7: Kết quả theo dõi các triệu chứng ở lợn bệnh nghi mắc tụ
huyết trùng 67
Bảng 3.8: Kết quả kiểm tra bệnh tích của lợn ốm nghi mắc bệnh tụ huyết
trùng 68
Bảng 3.9: Kết quả phân lập vi khuẩn Pasteurella từ bệnh phẩm của lợn
chết nghi mắc bệnh tụ huyết trùng 69
Bảng 3.10: Kết quả phân lập Pasturella từ dịch ngoáy mũi của lợn khoẻ 71
Bảng 3.11: Kết quả kiểm tra đặc tính sinh vật hoá học của vi khuẩn
Pasteurella phân lập được 73
Bảng 3.12: Kết quả kiểm tra khả năng lên men một số loại đường của
các chủng Pasteurella phân lập được 74
Bảng 3.13. Kết quả định type vi khuẩn P. multocida bằng phản ứng
PCR 76
Bảng 3.14: Kết quả xác định độc lực của các chủng P. multocida phân
lập được 77
Bảng 3.15: Kết quả kiểm tra khả năng mẫn cảm với một số kháng sinh
của các chủng P. multocida phân lập được 79
Bảng 3.16: Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh tụ huyết trùng lợn 80

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1
ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi của tỉnh Phú Thọ đang có bước phát triển, hiện nay đã hình

hành đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng lợn,
đặc điểm sinh vật học của vi khuẩn Pasteurella multocida gây bệnh tụ
huyết trùng ở lợn nuôi tại tỉnh Phú Thọ và biện pháp phòng trị”.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
+ Điều tra tình hình bệnh tụ huyết trùng ở lợn nuôi tại tỉnh Phú Thọ: Xác
định tỷ lệ lợn khoẻ mang vi khuẩn THT và tỷ lệ lợn ốm chết do bệnh tụ huyết trùng.
+ Phân lập, xác định một số đặc điểm sinh học và type của vi khuẩn
Pasteurella phân lập được.
+ Thử nghiệm phác đồ phòng và trị bệnh tụ huyết trùng lợn cho tỉnh
Phú Thọ đạt hiệu quả cao.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu về bệnh tụ huyết trùng lợn tại huyện
Lâm Thao, huyện Phù Ninh và Thị xã Phú Thọ tỉnh Phú Thọ thử nghiệm phác
đồ phòng và trị bệnh tụ huyết trùng lợn cho tỉnh Phú Thọ đạt hiệu quả cao.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
CHƢƠNG 1

thế giới và được sử dụng cho đến ngày nay. Bệnh do P. multocida gây ra
thường ở hai thể chủ yếu là nhiễm trùng máu, xuất huyết Haemorrhagic
Septicaemia (HS) và viêm phổi ở bò (Bovine Pneumonia). Thể viêm phổi ở
bò thấy tại các nước châu Âu và Bắc Mỹ (Frank, 1989)[62]. Bệnh tụ huyết
trùng lợn gặp ở khắp các châu lục, xảy ra lẻ tẻ, ít khi thành dịch (Lê Minh Trí
và cs, 1999)[37]. Thể nhiễm trùng máu, xuất huyết (HS) thấy ở trâu, bò các
nước châu Á và châu Phi (Phan Thanh Phượng, 2000)[29].
Từ năm 1887 đến nay, bệnh THT đã được phát hiện ở nhiều nước
trên thế giới, bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho nhiều nước,
nhất là ở các nước nhiệt đới nóng ẩm thuộc châu Á, bệnh xảy ra tại các
nước Đông Dương, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia. Ở Nhật Bản, bệnh được
phát hiện vào năm 1923, song không thấy gây thành dịch và không thể hiện
dịch tễ. Bệnh cũng được phát hiện ở bò rừng Vườn thú quốc gia Mỹ vào
các năm 1912, 1922, 1967 và chỉ thấy có một báo cáo cho biết bệnh có ở
bò sữa vào năm 1969 (Cater, 1982)[53]. Năm 1984, Tổ chức dịch tễ thế
giới OIE (Office International Epizooties) chính thức công bố bệnh THT
trâu, bò trên thế giới (FAO, 1991)[61], OIE cũng phân loại bệnh (HS) vào
bảng B trong danh mục các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở gia súc. Theo
(De Alwis, 1992a De Alwis, 1992a[57]) bệnh cũng đã sảy ra ở châu Phi và
gây thiệt hại nghiêm trọng cho đàn gia súc.
Kể từ khi phát hiện đến nay, vi khuẩn P. multocida vẫn là nguyên nhân
gây bệnh tụ huyết trùng cho nhiều loài gia súc và gia cầm. Tuy có tính thích
nghi gây bệnh trên các loài vật khác nhau, nhưng P. multocida đều có đặc tính
cơ bản giống nhau.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5
1.1.2. Ở Việt Nam
Có nhiều nghiên cứu về bệnh tụ huyết trùng, theo Phan Đình Đỗ và Trịnh

số đặc tính của vi khuẩn P. multocida phân lập từ trâu, bò, lợn; Đỗ Ngọc
Thúy và cs (2007)[36] đã ứng dụng kỹ thuật PCR để định type các chủng vi
khuẩn P. multocida phân lập từ vật nuôi. Tuy nhiên việc nghiên cứu vi khuẩn
P. multocida gây bệnh ở lợn một cách hệ thống thì vẫn còn chưa đầy đủ.
1.2. Đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng lợn
Bệnh tụ huyết trùng lợn là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn P. multocida
gây ra thường ở thể nhiễm trùng máu, xuất huyết (Haemorrhagic Septicaemia).
Bệnh thường phát sinh rải rác, nhưng có khi tạo thành dịch lây lan rộng tại địa
phương. Hiện nay, bệnh tụ huyết trùng lợn xuất hiện ở hầu hết các địa phương
trong cả nước và gây tổn thất đáng kể về kinh tế cho người chăn nuôi.
1.2.1. Nguồn bệnh, đƣờng xâm nhiễm của mầm bệnh và cơ chế gây bệnh
tụ huyết trùng
Trong tự nhiên các giống lợn đều mắc bệnh, trong đó lợn sau cai sữa,
lợn từ 3 - 6 tháng tuổi hay mắc bệnh nhất. Nguồn lây lan bệnh tụ huyết trùng
chủ yếu là lợn bị bệnh, mang trùng và thải ra môi trường, do việc giết mổ thịt
đem phân tán làm cho dịch lây lan rộng, đặc biệt là quá trình vận chuyển lợn
từ nơi này sang nơi khác. Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1970)[23] lợn mắc bệnh
cấp tính thì trong máu, dịch bài tiết, các phủ tạng đều có vi khuẩn và bài thải
vi khuẩn ra môi trường ngoài trong thời kỳ nung bệnh. Ngoài ra, vi khuẩn
P.multocida còn gặp thường xuyên trong cơ thể lợn khỏe, chúng cư trú ở
niêm mạc đường hô hấp trên, ở hầu bệnh súc, khi gia súc gặp điều kiện không
thuận lợi như stress, thời tiết thay đổi, mật độ nuôi nhốt đông, chăm sóc nuôi
dưỡng kém làm sức đề kháng con vật giảm thì vi khuẩn P. multocida sẽ tăng
độc lực và gây bệnh. Bệnh tụ huyết trùng lan truyền theo hai phương thức
trực tiếp và gián tiếp. Truyền bệnh trực tiếp do tiếp xúc giữa lợn ốm với lợn
khỏe hoặc qua không khí thở ra từ lợn ốm rồi lợn khỏe hít vào, đây là cách

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7

8
1.2.2. Chất chứa và độc tố của vi khuẩn P. multocida
Vi khuẩn P. multocida thường tồn tại trong cơ thể gia súc khỏe mạnh và
cư trú ở niêm mạc đường hô hấp trên, trong niêm mạc mũi, nước mũi và có khi
trong ruột. Vì thế, có thể phân lập vi khuẩn này từ vòm khẩu cái và hạch nhân
của gia súc khỏe. Ở những gia súc này có hiện tượng mang trùng và liên tục
thải vi khuẩn ra ngoại cảnh qua đường hô hấp, nguồn vi khuẩn phân lập được
bằng cách nuôi cấy các hạch lympho lấy từ lò mổ hay từ các dịch tiết ở mũi,
hầu (Omar và cs, 1982)[78]. Trong cơ thể con vật bị bệnh ở thể quá cấp tính và
cấp tính vi khuẩn P. multocida có nhiều trong máu, tủy xương, gan, lách, phổi,
tim và các chất bài tiết đều có chứa vi khuẩn. Mầm bệnh còn có trong các dịch
rỉ, dịch trào ra ở hầu hết các mô và cơ quan do kết quả của nhiễm trùng máu
giai đoạn cuối (Carter, 1989 )[55]. Trong xác chết, vi khuẩn có thể tồn tại lâu
trong tủy xương, do vậy khi gia súc đã chết lâu ngày mà nghi bệnh tụ huyết
trùng thì bệnh phẩm tốt nhất là xương ống. Con vật mắc bệnh ở thể mãn tính,
vi khuẩn có trong khớp bị viêm, ở gan và lách. Ackemann và cs, (1994)[42]
cho rằng hạch nhân là nơi P. multocida thường tập trung nhiều nhất, có vai trò
gây bệnh viêm khí quản, viêm phổi, viêm màng phổi
1.2.3. Tuổi mắc bệnh của gia súc
Bệnh tụ huyết trùng xảy ra ở mọi lứa tuổi của gia súc, theo các tác giả thì
gia súc non đang bú mẹ ít mắc hơn những con trưởng thành, gia súc sau cai sữa
dễ mắc bệnh hơn gia súc già. Các giống lợn đều mắc bệnh THT, bệnh thường
xảy ra ở lợn 3 - 6 tháng tuổi. Võ Văn Hùng (1997)[10] khi nghiên cứu bệnh tụ
huyết trùng ở Đắk Lắk cho biết lợn ở lứa tuổi 3 - 4 tháng mẫn cảm nhất với
bệnh. Theo Bùi Quý Huy (1998)[11] lợn dưới 2 tháng tuổi ít mắc bệnh hơn.
Ở một số nước châu Á những con vật non dễ cảm nhiễm hơn những
con vật trưởng thành (De Alwis, 1999)[58]. Cao Văn Hồng (2002)[9] khi
nghiên cứu về bệnh THT gia súc ở Đắk Lắk cho biết ở lợn từ 3 -10 tháng tuổi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

10
ở miền Bắc bệnh có quanh năm nhưng tập trung vào các tháng mưa nhiều từ
tháng 7 đến tháng 9. Ở miền Nam bệnh xảy ra mạnh sau khi mưa và nắng từ
tháng 4 đến tháng 10. Từ tháng 7 đến tháng 9 số ở dịch chiếm tới 78% trong
tổng số các ổ dịch sảy ra trong năm. Đỗ Văn Được (1999)[5] cho biết ở Lạng
Sơn bệnh xảy ra mạnh từ tháng 4 đến tháng 8, tháng 9, bệnh xảy ra nhiều đối
với gia súc chưa được tiêm phòng vac-xin. Bùi Xuân Đồng (2000)[3] nghiên
cứu bệnh THT trâu, bò ở Hải Phòng cho thấy bệnh bắt đầu vào tháng 4, đỉnh
cao là tháng 6 và tháng 7. Theo Bùi Văn Dũng (2000)[4] cho biết ở Lai Châu
bệnh THT xảy ra quanh năm nhưng tập trung vào tháng 3, tháng 4, tháng 7,
tháng 8 và vào cuối mùa khô, đầu mùa mưa. Cao Văn Hồng (2002)[9] cho
biết mùa dịch THT ở Đắk Lắk từ tháng 5 đến tháng 9, đây là những tháng
mưa nhiều. Theo Hoàng Đăng Huyến (2004)[12] bệnh THT xảy ra ở Bắc
Giang từ tháng 4 đến tháng 9 háng năm, thời gian này đang là mùa mưa. Cũng
theo Nguyễn Văn Minh (2005)[15] bệnh THT xảy ra rải rác quanh năm
nhưng tập trung từ tháng 3 đến tháng 8, vào các tháng đầu mùa mưa đến cuối
mùa mưa của vụ hè thu, cao nhất là tháng 5 và tháng 6, đây là những tháng
nắng, nhiệt độ, ẩm độ cao và mưa nhiều.
1.2.5. Vùng phát dịch
Theo Phan Đình Đỗ và Trịnh Văn Thịnh (1958)[2] bệnh thường xảy ra ở
những vùng ẩm thấp, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, đặc biệt là vào đầu mùa mưa.
Điều kiện tự nhiên, khí hậu và phương thức chăn nuôi cũng ảnh hưởng đến quá
trình phát sinh và lây lan bệnh. Đặc biệt là ở những vùng đất trũng, ẩm thấp, lầy
lội, bị ngập lụt, có nhiều ruộng nước, nhiều kênh rạch, bệnh thường xảy ra và lây
lan mạnh, làm chết nhiều gia súc.
Đoàn Thị Băng Tâm (1987)[31], Nguyễn Ngã (1996)[17] cho biết bệnh
này phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội. Theo Võ Văn
Hùng (1997)[10] bệnh xảy ra ở vùng có địa hình phức tạp như núi cao, đầm


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

12
Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1970)[23] trong đàn gà thường xuyên có
mầm bệnh tụ huyết trùng, tỷ lệ gà khỏe mang trùng lên tới 20 - 30%, còn đàn
gà không bị bệnh thì không có gà khỏe mang trùng. Ảnh hưởng của đàn
gà khỏe mang trùng đến đàn gà nuôi có xảy ra dịch hay không vẫn chưa được
làm rõ và tác giả có nhận xét rằng khi gia súc mang vi trùng P. multocida đây
cũng chính là nguồn reo rắc mầm bệnh ra môi trường, vi khuẩn Pasteurella
xâm nhập vào các con khỏe gây nên các ổ dịch.
Mustafa (1978)[74] đã tiến hành lấy dịch ngoáy mũi trâu, bò để phân
lập P. multocida và có nhận xét thường ở nơi không có dịch tụ huyết trùng
trâu bò, thì tỷ lệ trâu bò khỏe mạnh mang trùng là 3%, còn ở nơi có dịch tụ
huyết trùng trâu bò tỷ lệ mang trùng là 44,4%.
Gupta (1980)[64] nghiên cứu bệnh THT ở Ấn Độ thấy tỷ lệ mang trùng ở
trâu bò khỏe trong vùng không có dịch là 0%, ở vùng ít xảy ra dịch là 1,9%, còn
ở vùng dịch hay xảy ra 5 - 6%. Ngay ở các vùng có dịch thì tỷ lệ mang trùng ở
đàn trâu bò khỏe mạnh cũng giảm dần theo thời gian sau khi dịch chấm dứt.
Theo Hiramune (1982)[67] tỷ lệ trâu bò khỏe mang trùng giảm nhanh
từ 22% ở tuần lễ đầu, sau 6 tuần của vụ dịch giảm xuống còn 1,9% và vi
khuẩn này có thể tồn tại đến 8 tháng.
Nguyễn Vĩnh Phước (1986a)[26] cho biết tỷ lệ mang trùng ở đường
hô hấp trên của trâu bò khỏe ở các tỉnh phía Nam là 5,61%. Ở miền Trung
Tây Nguyên là 1,0 - 9,4%. Tương tự như ở trâu bò, thì có 4,1% tỷ lệ lợn
khỏe mang vi khuẩn Pasteurella. Theo Wijewardana (1992)[94] trong các
đàn động vật khoẻ mạnh luôn có một tỷ lệ cá thể mang vi khuẩn
Pasteurella ở đường hô hấp trên.
Theo Phan Thanh Phượng (1994)[27] khi gia súc mang vi khuẩn
Pasteurella hoặc nó sẽ gây bệnh cho vật chủ khi vật chủ chịu tác động của các


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

14
gốc như: Pasteurella của bò có thể gây cho ngựa, lợn. Pasteurella của thỏ độc
với thỏ, bồ câu
1.2.7.2. Phân loại vi khuẩn P. multocida
Theo Bergey (1974)[47] vi khuẩn P. multocida thuộc bộ Eubacteriales, họ
Pavrobacteriacea, tộc Pasteurellaceae, giống Pasteurella, loài multocida.
Vi khuẩn P. multocida thuộc chi Pasteurella, trong P. multocida có
nhiều loài và chủng vi khuẩn khác nhau. Trước kia trong chi Pasteurella còn
có P. haemolytica nhưng loài này được xếp vào chi Mannheimia với tên gọi
Mannheimia haemolytica. Trong chi Pasteurella thì các vi khuẩn thuộc
P.multocida gây nhiều bệnh nguy hiểm cho gia súc, gia cầm và làm thiệt hại
kinh tế chung cho nghành chăn nuôi.
1.2.7.3. Đặc điểm hình thái của P. multocida
Theo Smith (1959)[89] vi khuẩn P. multocida có sự thay đổi phụ thuộc
vào nguồn gốc của chúng, vi khuẩn phân lập từ bò có kích thước đồng nhất từ
0,5 - 1,2 µ, trong khi đó vi khuẩn phân lập từ lợn có dạng tròn hơn, kích thước
0,8 - 1,0 µ.
Vi khuẩn P. multocida có dạng cầu trực khuẩn nhỏ, ngắn, hình trứng,
hình cầu hay bầu dục, có kích thước 0,6 - 2,5 x 0,2 - 0,4µ. Vi khuẩn có thể
đứng riêng lẻ, thành đôi hoặc chuỗi, có giáp mô, không sinh nha bào, không
có lông, không di động và bắt màu lưỡng cực. Ở các tiêu bản động vật mới
chết. P. multocida là vi khuẩn Gram âm, dễ bắt màu với thuốc nhuộm Fucxin
hoặc xanh Methylen. Tính chất bắt màu lưỡng cực của P. multocida có thể
thấy khi nhuộm bằng xanh Methylen và chỉ thấy ở những tiêu bản làm từ máu
động vật hay vi khuẩn phân lập từ những bệnh phẩm từ con vật mới chết. Vi
khuẩn nuôi cấy trong môi trường nhân tạo ít thấy tính chất này, nguyên nhân
này là do trong quá trình phân bào, nguyên sinh chất bắt màu lưỡng cực dồn

Trích đoạn Đặc điểm nuôi cấy Đặc tính sinh hoá của vi khuẩn P.multocida Kết quả theo dõi các triệu chứng ở lợn bệnh nghi mắc tụ huyết trùng Kết quả kiểm tra bệnh tích của lợn ốm nghi mắc bệnh tụ huyết trùng Kết quả xác định đặc tính sinh hoá của vi khuẩn Pasteurella phân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status