ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐẶNG NGỌC LƢƠNG
XÁC ĐỊNH MỘT SỐ ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA VI KHUẨN
PASTEURELLA MULTOCIDA GÂY BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU,
BÒ TẠI CAO BẰNG VÀ LỰA CHỌN VẮC XIN PHÒNG BỆNH LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : Thú y
tự như vậy, tại tỉnh Cao Bằng trong năm 2008 đã có 455 trâu, bò chết và năm
2009 có gần 400 trâu bò chết do bệnh tụ huyết trùng.
Để khống chế bệnh, cho đến nay đã có một số loại vắc xin tụ huyết
trùng trâu, bò được các cơ quan nghiên cứu, chế tạo, sử dụng để tiêm phòng
cho trâu, bò nhưng bênh vẫn liên tục xảy ra, đặc biệt trên địa bàn các tỉnh
miền núi phía Bắc. Đinh Duy Kháng và cs (2000) [14] cho biết: Việc tiếp tục
phân lập xác định vi khuẩn Pasteurella là cần thiết để làm rõ đặc điểm dịch tễ
của bệnh để tìm ra quy luật lưu hành, tính gây bệnh của vi khuẩn để sản xuất
và ứng dụng vắc xin phù hợp trong từng vùng, hạn chế tiến tới thanh toán
bệnh. Lê Văn Tạo và cs (1998)[32] cũng khuyến cáo: Nên tiêm phòng bệnh tụ
huyết trùng trâu bò đạt tỷ lệ cao bằng vắc xin tương đồng kháng nguyên với
chủng vi khuẩn Pasteurella gây bệnh ở địa phương.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Về đáp ứng miễn dịch của một số loại vắc xin hiện đang được sử dụng
để phòng bệnh tụ huyết trùng trâu bò ở nước ta, Hoàng Xuân Nghinh và cs
(2004) [22] trao đổi: Hiện nay ở Việt Nam có hai loại vắc xin sản xuất trong
nước được các địa phương sử dụng. Tuy nhiên tỷ lệ trâu bò mắc bệnh và chết
vẫn không ngừng gia tăng dẫn tới chúng ta phải suy nghĩ xem có phải chất
lượng kháng nguyên trong vắc xin chưa được chuẩn hoá hay đặc tính kháng
nguyên của vi khuẩn Pasteurella ở mỗi vùng có sự khác nhau.
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn sản xuất, căn cứ vào cơ sở khoa học
và năng lực của cơ quan nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành đề tài “Xác định
một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Pasteurella multocida gây bệnh tụ
huyết trùng trâu, bò tại Cao Bằng và lựa chọn vắc xin phòng bệnh”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định đặc điểm dịch tễ bệnh tụ huyết trùng trâu bò tại các huyện,
thị xã thuộc tỉnh Cao Bằng.
- Khảo sát sự lưu hành vi khuẩn Pasteurella multocida ở trâu, bò khỏe
và trâu, bò nghi mắc bệnh tụ huyết trùng.
- Giám định đặc tính sinh vật hóa học, yếu tố gây bệnh và serotype
4. Đối tƣợng và địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Trâu, bò ở mọi lứa tuổi, vi khuẩn Pasteurella
multocida.
- Địa điểm nghiên cứu: Đề tài được thực hiện tại tỉnh Cao Bằng, Bộ
môn Công nghệ Vi sinh, Viện KHSS - Đại học Thái Nguyên, Viện Thú y
quốc gia, Trung tâm chẩn đoán thú y - Cục thú y Việt Nam.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tình hình bệnh tụ huyết trùng gia súc
1.1.1. Trên thế giới
Bệnh tụ huyết trùng được Bollinger phát hiện lần đầu tiên trên bò năm
1878 ở Munich (Đức). Những năm tiếp theo bệnh được phát hiện ở khắp mọi
nơi trên thế giới, trên nhiều loài gia súc, gia cầm. Năm 1885, Kitt đã phân lập
được vi khuẩn. Khi nghiên cứu vi khuẩn tụ huyết trùng gây bệnh ở các loài
gia súc, các nhà khoa học thấy sự giống nhau về tính chất gây bệnh, tương
đồng kháng nguyên, nhưng khác nhau về tính gây bệnh cho các loài vật. Năm
1887, Trevisan đã đề nghị đặt tên cho vi khuẩn là Pasteurella để ghi nhớ công
lao của Louis Pasteur, người có nhiều đóng góp nghiên cứu phát hiện ra loại
vi khuẩn này (De Alwis, 1992) [50].
Vi khuẩn pasteurella gây bệnh cho nhiều loài gia súc nên tên của chúng
được gắn với tên của loài vật mà chúng gây bệnh:
Pasteurella suiseptica gây bệnh ở lợn
Pasteurella boviseptica gây bệnh ở bò
Pasteurella oviseptica gây bệnh ở dê, cừu
Pasteurella aviseptica gây bệnh ở gà…
Đến năm 1939, Rosenbush và Merchant [79] đã đề nghị đặt tên cho vi
khuẩn này là Pasteurella multocida, để chỉ khả năng gây bệnh cho nhiều loài
vật của chúng, tên này đã được công nhận chính thức trên thế giới và sử dụng
dịch tụ huyết trùng và 84% số thiệt hại gia súc do bệnh tụ huyết trùng thuộc
về các tỉnh ở phía Nam. Đến những năm 90 phân bố địa lý của bệnh nghiêng
về các tỉnh phía Bắc, số địa phương có dịch tụ huyết trùng cũng tăng lên
nhiều, hàng năm có 20 - 25 tỉnh thông báo có bệnh lưu hành.
Ở nước ta khí hậu nóng ẩm, mỗi miền Bắc - Trung - Nam có điều kiện
khí hậu và hệ sinh thái khác nhau. Các tác giả (Nguyễn Vĩnh Phước
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
(1978)[25], Nguyễn Ngã (1996)[21], Nguyễn Thiên Thu (1996)[34]) đã nhận
định bệnh tụ huyết trùng trâu, bò xảy ra thường trùng với những cơn mưa ở
từng vùng và kéo dài đến hết mùa mưa.
Nhiều tác giả cũng đã đi sâu nghiên cứu đặc tính sinh vật hoá học của
vi khuẩn P. multocida, phương pháp chẩn đoán, phân lập và chế tạo vắc xin
phòng bệnh.
Trần Xuân Hạnh và Tô Thị Phấn (2007)[8] tiến hành nghiên cứu một
số đặc tính của vi khuẩn P. multocida phân lập từ trâu, bò, lợn.
Phan Thanh Phượng (1986 - 1990)[28] đã nghiên cứu, chế tạo và sử
dụng vắc xin nhũ hoá bằng công nghệ lên men sục khí để phòng chống bệnh
tụ huyết trùng trâu, bò, lợn và gia cầm có nhiều ưu việt hơn vắc xin cũ.
Dương Thế Long (1995)[18] đã phân lập được vi khuẩn P. multocida
gây bệnh cho các loài vật nuôi (trâu, bò, lợn và gà) tại tỉnh Sơn La.
Nguyễn Ngã (1996)[21], Nguyễn Thiên Thu (1996)[34] đã phân lập
được vi khuẩn P. multocida từ trâu, bò mang trùng ở khu vực miền Trung và
xác định tính tương đồng kháng nguyên của các chủng vi khuẩn phân lập
được với chủng vắc xin Iran.
Trong những năm gần đây đã có một số nghiên cứu về bệnh tụ huyết
trùng như Bùi văn Dũng (2000) [3] nghiên cứu tình hình bệnh tụ huyết trùng
và vi khuẩn P. multocida phân lập từ dịch ngoáy mũi trâu, bò khỏe ở tỉnh Lai
Châu. Hoàng Đăng Huyến (2004) [12] nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, các yếu
tố ảnh hưởng đến bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở Bắc Giang. Nguyễn Đăng
Minh (2005) [20] nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh THT và xác định
bò thì ở đó người ta cũng phát hiện bệnh này ở động vật hoang dã.
De Alwis (1982) [48] cho rằng loài vật cảm nhiễm mạnh nhất đối với
bệnh tụ huyết trùng là trâu, bò trong đó trâu mẫn cảm hơn bò. Tỷ lệ mắc bệnh
và tỷ lệ chết của các loài vật với bệnh tụ huyết trùng trâu, bò phụ thuộc vào
rất nhiều yếu tố như mức độ cảm nhiễm của vùng, mức độ bùng nổ của các vụ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
dịch trước đó, mức độ miễn dịch toàn đàn, đặc biệt phụ thuộc vào lứa tuổi
mắc bệnh.
Ở Việt Nam, trâu dễ bị nhiễm và mắc bệnh nặng hơn bò. Trâu, bò rừng
cũng mắc bệnh (Đoàn Thị Băng Tâm, 1987) [31]. Trâu thường chết khi gặp
thể quá cấp hoặc cấp tính.
1.2.3. Tuổi mắc bệnh
De Alwis (1984)[49] cho biết mức độ cảm nhiễm của động vật non mạnh
hơn động vật già, kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy ở bò và trâu tỷ lệ mắc
bệnh ở lứa tuổi dưới 6 tháng là 3,5%, trong khi đó trâu, bò ở lứa tuổi từ 6 tháng
đến 2 năm là 30 - 32%, ngược lại trâu, bò trên 2 năm tuổi tỷ lệ mắc bệnh chiếm
từ 3 - 5% toàn đàn. Nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ chết của trâu, bò trong mỗi ổ
dịch là 84 và 91% tập trung vào lứa tuổi 6 tháng đến 18 tháng.
Bệnh xảy ra ở hầu hết các lứa tuổi, những con đang bú mẹ ít mắc hơn
những con trưởng thành. Trâu, bò 1-3 tuổi dễ mắc hơn trâu bò già và khi mắc
thì tỷ lệ chết cao hơn. Trâu bò càng béo, khỏe, trẻ càng dễ mắc bệnh và tỷ lệ
chết cao. Bê, nghé dưới 6 tháng tuổi ít mắc bệnh (Bùi Quý Huy, 1998) [11].
Cao Văn Hồng (2002) [9] tại Đắk Lắk cũng cho thấy lứa tuổi cảm nhiễm với
bệnh nhất là dưới 36 tháng tuổi. Hoàng Đăng Huyến (2004) [12] cho biết tại
Bắc Giang trâu, bò nhỏ hơn 2 năm tuổi mẫn cảm với bệnh nhất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.2.4. Mùa vụ phát bệnh
Bệnh tụ huyết trùng phụ thuộc rất lớn vào thời tiết, khí hậu. Mustafa và
cs (1978)[64 ] nghiên cứu về ảnh hưởng của mùa vụ tới bệnh tụ huyết trùng
đã nhận xét bệnh thường liên quan tới điều kiện khí hậu ẩm ướt.
nắng từ tháng 4 đến tháng 10. Theo Nguyễn Đăng Minh (2005) [20] bệnh tụ
huyết trùng xảy ra rải rác quanh năm tập trung từ tháng 3 đến tháng 8, vào các
tháng đầu mùa mưa của vụ hè thu, cao nhất là tháng 5, 6 vì đây là các tháng
nắng nóng, nhiệt độ cao, ẩm độ cao.
1.2.5. Vùng phát bệnh
Các nghiên cứu đều cho thấy bệnh tụ huyết trùng thường xảy ra ở những
vùng đất trũng, khí hậu nóng và ẩm ướt. Theo Phan Đình Đỗ và Trịnh Văn
Thịnh (1958)[4] bệnh thường xảy ra ở vùng ẩm thấp, khí hậu nóng ẩm, mưa
nhiều, đặc biệt là đầu mùa mưa. Điều kiện tự nhiên, khí hậu và phương thức
chăn nuôi cũng ảnh hưởng đến quá trình lây lan và phát sinh bệnh. Đặc biệt ở
những vùng đất trũng, ẩm thấp, lầy lội, bị ngập lụt, có nhiều ruộng nước, nhiều
kênh rạch, bệnh thường xảy ra và lây lan mạnh làm chết nhiều gia súc (Đoàn Thị
Băng Tâm, 1987[31]). Năm 1990 riêng ba tỉnh Sơn La, Hoàng Liên Sơn, Bắc
Thái số ở dịch tụ huyết trùng gia súc chiếm 60% và trong đó có tới 70% số gia
súc chết so với toàn miền Bắc (Bùi Quý Huy, 1998[11]). Đỗ Văn Được
(2003)[6] cho biết ở Lạng Sơn vùng núi đất, có độ dốc lớn, nhiệt độ thấp, ẩm độ
cao, tập quán chăn nuôi còn lạc hậu, chăn thả tự do thì tỷ lệ bị nhiễm bệnh và
chết cao. Theo Hoàng Đăng Huyến (2004) [12] ở Bắc Giang những vùng đồi núi
thấp tỷ lệ mắc bệnh và chết do tụ huyết trùng cao. Nguyễn Văn Minh (2005)[20]
thông báo ở Hà Tây tỷ lệ trâu, bò ốm chết vì bênh tụ huyết trùng ở vùng đồi, bán
sơn địa cao hơn so với vùng chiêm trũng và vùng đồng bằng.
Ở những vùng mà phương thức chăn nuôi còn thả rông, không có
người chăm sóc, không làm chuồng nuôi nhốt, để gia súc ở những nơi bùn
lầy, ngập nước, vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng kém thì khả năng xảy ra bệnh
cao. Ngoài ra, trình độ dân trí thấp, nhận thức của người dân về công tác
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
phòng chống bệnh chưa cao, việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào việc
phòng chống dịch bệnh còn nhiều khó khăn… cũng không tránh khỏi việc
dịch bệnh thường xuyên xảy ra.
1.3. Đặc tính sinh học của mầm bệnh
Trong canh khuẩn vi khuẩn có hình trứng, hình cầu đứng riêng lẻ hay
thành chuỗi ngắn. Trong canh khuẩn già vi khuẩn suy yếu, biến dạng thay đổi
hình thái như hình gậy dài, dùi cui, quả đấm, kích thước lớn hơn bình thường có
khi dài 2-3µm. Vi khuẩn không có lông, không di động không hình thành nha bào.
Pasteurella dễ nhuộm với thuốc nhuộm thông thường như anilin,
Methylen Bleu, Fuchsine và Giemsa.
Vi khuẩn P. multocida có thể nuôi cấy ở nhiều loại môi trường
như: Môi trường nước thịt, môi trường thạch thường. Theo (Seleim R. S.
(2005) [80], để vi khuẩn P. multocida phát triển tốt trên môi trường nhân tạo
cần thêm một số chất như: cystein, glutamic axit, leucine, methionine, muối
vô cơ, nicotinamide, pantothenate, thiamine và đường. Trong đó leucin tác
dụng kích thích tăng trưởng. Trên các môi trường nuôi cấy thông thường vi
khuẩn phát triển kém, vi khuẩn phát triển tốt hơn trên môi trường nuôi cấy có
bổ sung 5-10% huyết thanh hoặc máu động vật.
P. multocida là vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tùy tiện, ưa kiềm nhẹ,
pH=7,2-7,4, có thể nuôi cấy ở nhiệt độ từ 13
0
C đến 38
0
C, thích hợp nhất là 37
0
C
Trên các môi trường nuôi cấy thông thường vi khuẩn phát triển kém. Vi
khuẩn phát triển tốt hơn trên môi trường nuôi cấy có bổ sung thêm 5-10 %
huyết thanh hoặc máu động vật.
Trên môi trường nước thịt: Sau khi cấy 24h ở nhiệt độ 37
o
C vi khuẩn
làm đục môi trường, đáy ống có cặn nhày, lắc có hiện tượng vẩn như sương
mù rồi lại mất, có khi sinh ra một màng mỏng trên mặt môi trường. Môi
Trên môi trường thạch có huyết thanh và huyết cầu tố: Đây là môi
trường đặc biệt dùng để phân lập, giám định và xác định độc lực của vi khuẩn
Pasteurella. Trên môi trường này vi khuẩn phát triển thành những khuẩn lạc
đặc biệt, có hiện tượng phát huỳnh quang khi xem khuẩn lạc bằng kính hiển
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
vi có hai thị kính với độ phóng đại thấp (khoảng 20 lần) và góc phản quang
của ánh sáng đèn điện là 45
o
. Những khuẩn lạc dạng S từ canh trùng thường
mới có tính dung quang. Khuẩn lạc dạng M và R không có đặc điểm nói trên.
Tuỳ theo độc lực của vi khuẩn mà màu sắc huỳnh quang của khuẩn lạc
khác nhau:
+ Nếu vi khuẩn có độc lực cao: Khuẩn lạc có màu xanh lơ, xanh lá mạ
chiếm 2/3 diện tích khuẩn lạc về phía đèn, còn 1/3 diện tích khuẩn lạc là màu
vàng kim loại, khuẩn lạc này gọi là Fg (Greenish Fluorescent).
+ Nếu vi khuẩn có độc lực vừa: Khuẩn lạc màu xanh lơ ít hơn diện
tích màu vàng da cam, khuẩn lạc loại này là Fo (Orange Fluorescent).
+ Nếu vi khuẩn có độc lực yếu: Khuẩn lạc của chúng không có hiện
tượng phát quang, khuẩn lạc loại này là Nt (Not Fluorescent). Khuẩn lạc nhỏ
tròn trong.
Hiện tượng phát huỳnh quang của khuẩn lạc xem rõ khi nuôi cấy sau
24h. Nếu để lâu sau 72h thì huỳnh quang sẽ mất đi. Theo Smith (1990)[81]
đặc tính dung quang này còn có quan hệ chặt chẽ với sự tạo vỏ của vi khuẩn
tụ huyết trùng. Dựa vào tính chất này, có thể chọn những chủng tụ huyết trùng
có tính kháng nguyên và miễn dịch cao.
Như vậy, vi khuẩn tụ huyết trùng có thể phát triển trên nhiều loại môi
trường, song có một số loại môi trường được các tác giả cho là thích hợp để
sản xuất kháng nguyên tụ huyết trùng, đó là: Môi trường YPC, môi trường
BHI và môi trường Hottinger cải tiến. Cần lưu ý là khi cấy chuyển trên môi
trường nhân tạo nhiều lần, vi khuẩn tụ huyết trùng có sự biến đổi về khả năng
Phấn (1996)[24].
1.3.4. Kháng nguyên của vi khuẩn
Kháng nguyên P. multocida rất phức tạp và cấu trúc từng loại kháng
nguyên cũng luôn thay đổi. Những nghiên cứu về cấu trúc, số lượng và sự
phân bố kháng nguyên P. multocida rất quan trọng trong việc chế tạo vắc xin.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Khi nghiên cứu đặc tính kháng nguyên của vi khuẩn P. multocida
Lignière (1900)[62] đã khẳng định các chủng P. multocida phân lập từ các
loài vật mắc bệnh khác nhau có đặc tính huyết thanh không đồng nhất.
Cho đến nay, người ta đã xác định được kháng nguyên của
P.multocida có 3 loại là: Kháng nguyên vỏ K, Kháng nguyên thân O, kháng
nguyên ngoại tế bào OMP (outer memmbrane protein).
Kháng nguyên vỏ (K): Chỉ có ở P. multocida tạo khuẩn lạc dạng S,
không gặp ở vi khuẩn tạo khuẩn lạc dạng M và R. Kháng nguyên K bao bọc
xung quanh thân vi khuẩn, che cho kháng nguyên O khỏi bị các phage tác
động, đồng thời ngăn cản sự tiếp xúc giữa kháng nguyên O và kháng thể O.
Do đó, muốn phát hiện kháng nguyên O bị che lấp, người ta phải phá huỷ
kháng nguyên K hoặc dùng phương pháp nuôi cấy không cho vi khuẩn hình
thành giáp mô. Kháng nguyên K thu được qua chiết xuất từ canh khuẩn non,
phát hiện được dễ dàng qua phản ứng ngưng kết hồng cầu gián tiếp. Thành
phần và cấu trúc kháng nguyên K khá phức tạp, theo Price G. H. và Smith
(1966)[73] chúng gồm có 3 loại là α, β, γ. Kháng nguyên có cấu tạo dạng
phức giữa protein và polysaccaride. Kháng nguyên protein của vỏ (giáp mô)
có khả năng gây miễn dịch mạnh.
Kháng nguyên K, đặc biệt là thành phần protein của kháng nguyên K
đóng vai trò tích cực trong quá trình hình thành miễn dịch.
Kháng nguyên thân (O): Vi khuẩn P. multocida có kháng nguyên thân
là phức hợp protein - lipid - polysaccaride chiết xuất được nhờ acid
trichoaxetic, dung dịch phenol và siêu âm. Phát hiện được bằng phản ứng kết
tủa khuếch tán trong thạch.
(W) của kháng nguyên này, khối lượng phân tử dao động trong khoảng giữa
28 kDa và 40kDa. Protein H của Pasteurella multocida có các đặc điểm
tương tự protein xuyên màng của vi khuẩn thuộc họ Enterobacteriaceae,
giống các peptidoglycane, kháng trypsine, kháng dung dịch SDS (sodium
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
dodicyl sulphate). Hơn nữa protein H phức hợp với lipopolysaccharide khi
gây đáp ứng miễn dịch. Mặc dầu không thể phát hiện ra mối quan hệ giữa độc
tính của các chủng với protein ngoại tế bào, song OMP type I có độc tính cao
với lợn và gây ra viêm teo mũi truyền nhiễm. ngược lại OMP type II và III ít
độc tính hơn. Seleim (2005)[80] cho biết các chủng Pasteurella multocida có
khá tương đồng và ít có sự khác nhau về cấu trúc các protein ngoại bào.
Tóm lại, kháng nguyên của P. multocida rất phức tạp, còn nhiều vấn
đề chưa được sáng tỏ, đặc biệt là kháng nguyên thân O. Xét về quan hệ hoá
học, các kháng nguyên protein và lipopolysaccarid của P. multocida có vai trò
chính trong quá trình hình thành miễn dịch bảo hộ gia súc chống bệnh và
kháng nguyên là polysaccarid đóng vai trò hỗ trợ.
1.3.5. Độc lực của vi khuẩn P. multocida
Độc tố của canh trùng P. multocida được biết từ thời Pasteur, đầu thế
kỷ 20, Baldrey đã nhắc đến ảnh hưởng của chất lọc canh trùng già trên thỏ và
cho rằng vi khuẩn có độc tính của lipopolysaccharide.
Độc lực của P. multocida rất phức tạp và không ổn định, tuỳ thuộc
vào chủng vi khuẩn và loài vật kí sinh. Giáp mô của P. multocida là yếu tố
độc lực quan trọng, ảnh hưởng đến khả năng xâm nhập và phát triển trong kí
chủ. Đa phần những chủng P. multocida có giáp mô thì độc lực cao, những
chủng P. multocida không có giáp mô thì độc lực yếu hoặc không có độc lực.
Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp vi khuẩn này không có giáp mô nhưng
vẫn có độc lực cao và một số chủng có giáp mô lại độc lực thấp. Khi nuôi cấy
P. multocida trong môi trường nhân tạo qua 24h thì giáp mô của vi khuẩn
phát triển đầy đủ, sau đó mất dần đi. Một số tác giả còn cho rằng ở nhiều
chủng P. multocida độc lực có thể phụ thuộc vào cấu trúc hoá học của giáp
thấy ở một số chủng P. multocida thuộc type huyết thanh A và D, đặc tính
kháng nguyên của những độc tố này tương đối giống nhau. Các vi khuẩn
thuộc serotype B hiếm khi có độc tố bản chất từ protein, chưa có thí nghiệm
nào chứng minh độc tố có bản chất protein của serotype E.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.3.6. Sức đề kháng
Pasteurella dễ bị tiêu diệt bởi nhiệt độ, ánh sáng mặt trời và các chất
sát trùng thông thường. Vi khuẩn bị diệt khi đun ở 58
o
C trong 20 phút, 80
o
C
trong 10 phút, 100
o
C trong vài giây. Trong các mô bào của cơ thể, ở nhiệt độ
80
o
C vi khuẩn giữ được độc lực trong vòng 15 - 20 ngày, ánh sáng mặt trời
diệt vi khuẩn trong 12 giờ. Trong xác xúc vật, vi khuẩn sống được từ 1 - 3
tháng. Trong máu, mô bào, nước tiểu của súc vật chết, vi khuẩn giữ được độc
lực trong vòng từ 5 - 9 ngày. Trong tuỷ xương vi khuẩn giữ được độc lực ít
nhất 8 ngày sau khi con vật chết. Vì vậy, bệnh phẩm được gửi đi chẩn đoán
tốt nhất là tuỷ xương.
Các chất sát trùng thông thường diệt vi khuẩn nhanh chóng như axit
phenic 5% trong 1 phút, creolin 3%, crezyl 3%, nước vôi 1% trong 3-5 phút.
Vi khuẩn sống khá lâu và sinh sản trong đất có nhiều nitrat và thiếu ánh sáng.
Trong chuồng, trên đồng cỏ, trong đất, vi khuẩn có thể sống hàng tháng có khi
hàng năm. Vi khuẩn trong da đun sấy khô từ từ có thể giữ độc lực 15 - 25
ngày, trong tổ chức thối nát vi khuẩn sống tương đối lâu hơn, từ 1 - 3 tháng
nếu nhiệt độ dưới 20
hạch lâm ba trước vai, trước đùi làm cho những hạch này sưng và thủy thũng.
Bởi vậy ta thường thấy trâu, bò bị bệnh tụ huyết trùng có biểu hiện đặc trưng:
Sưng hầu mà nhân dân gọi là “bệnh trâu hai lưỡi”.
Sự tồn tại của vi khuẩn ở đường hô hấp và tiêu hóa của gia súc khỏe,
khi gia súc bị yếu vi khuẩn sẽ trỗi dậy và gây bệnh.
1.4.2. Biể u hiệ n đặ c trưng của trâu bò mắc bệnh tụ huyết trùng
+ Triệu chứng lâm sàng
Theo Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (2002)[15] Trâu bò mắc bệnh
ở 3 thể: Thể ác tính (quá cấp tính), cấp tính (thường gặp) và thể mãn tính.
- Thể ác tính (quá cấp tính): Thể này thường ít gặp. Trâu bò phát bệnh
rất nhanh: Con vật đột nhiên lên cơn sốt cao (41 - 42
0
C) và trở nên hung giữ,
điên loạn, đập đầu vào tường, có thể chết trong 24 giờ. Ở một số ổ dịch, một
số bê nghé 3 - 18 tháng có triệu chứng thần kinh, dãy giụa, rồi ngã xuống đất
chết; Có khi con vật đang ăn cỏ lồng lên, điên loạn, run rẩy, ngã xuống và lịm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
đi. Ở xã Tư Đình (Gia Lâm - Hà Nội) đã thấy bò sữa trong dân bị chết đột
ngột do bệnh tụ huyết trùng thể ác tính.
- Thể cấp tính: Thể này xảy ra phổ biến ở trâu bò, thời gian nung bệnh
ngắn từ 1 - 3 ngày, con vật không nhai lại, mệt lả, bứt dứt, sốt cao đột ngột 40
- 42
0
C. Các niêm mạc mắt, mũi đỏ sẫm rồi tái xám. Nước mắt, nước mũi chảy
liên tục. Các hạch lâm ba đều sưng, đặc biệt là dịch lâm ba dưới hầu sưng rất
to, làm cho con vật lè lưỡi ra, thở khó khăn, người ta thường gọi là “Bệnh lưỡi
đòng” hay bệnh trâu bò hai lưỡi. Hạch lâm ba trước vai, trước đùi sưng, thủy
thũng làm cho con vật đi lại khó khăn.
Vật bệnh thể hiện hội chứng hô hấp, thở mạnh và khó khăn do viêm
màng phổi, tràn dịch màng phổi, có tụ huyết và viêm phổi cấp.
- Bệnh tích ở ngực: Thủy thũng trong lồng ngực có nước vàng. Màng
phổi lấm tấm xuất huyết, viêm phổi, viêm ngoại tâm mạc có nước, viêm tim
có chấm xuất huyết.
- Bệnh tích ở hạch lâm ba: Thủy thũng vùng xung quanh, cắt hạch có
nước màu vàng, thủy thũng lan tràn có khi đến 1/2 cơ thể.
- Bệnh tích ở bụng: Viêm phúc mạc có nước vàng, thủy thũng, xuất
huyết ở các phủ tạng.
1.5. Những hiểu biết về vắc xin phòng bệnh
Theo thuật ngữ của Louis Pasteur dùng từ năm 1885 thì “vắc xin” dùng
để chỉ một chế phẩm sinh học được chế từ vi sinh vật, để gây miễn dịch phòng
bệnh truyền nhiễm. Ngày nay không chỉ có vắc xin phòng bệnh truyền nhiễm
mà còn có vắc xin phòng ký sinh trùng, vì vậy thuật ngữ vắc xin được hiểu
rộng hơn, đó là một chế phẩm sinh học chứa vật chất của mầm bệnh gọi là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn