1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ xưa đến nay, trâu và bò luôn là vật nuôi không thể thiếu trong mỗi
gia đình. Trâu, bò là loài vật không có tính cạnh tranh thức ăn với con người
và có thể chuyển đổi từ thức ăn đơn giản như cỏ rơm, rạ thành sữa và thịt.
Không những thế, chúng còn cung cấp sức kéo và phân bón cho cây trồng
trong trồng trọt, góp phần làm giàu cho cuộc sống của người dân.
Hiện nay, nước ta đang chuyển dần cơ cầu từ chăn nuôi trâu, bò cày
kéo sang chăn nuôi trâu, bò theo hướng kiêm dụng vừa lấy sữa vừa lấy thịt.
Nhu cầu tiêu thụ thịt và sữa trâu, bò ngày càng tăng cao. Thịt trâu béo cung
cấp 2558 Kcal/kg, loại trung bình cung cấp 2080 Kcal/kg. Sữa được xếp vào
loại thực phẩm cao cấp vì nó hoàn chỉnh về dinh dưỡng và dễ tiêu hóa. Đàn
trâu, bò của nước ta ở thời điểm 1/4/2011 ước đạt 8,5 triệu con giảm 4,6% so
cùng kỳ. Tuy số lượng đầu con giảm, nhưng sản lượng thịt sản xuất tại thời
điểm 1/4/2011 lại tăng cụ thể: Thịt bò tăng 4,8%, thịt trâu tăng 9,3%. Chính vì
vậy, việc tăng số lượng đàn trâu, bò ở nước ta là rất quan trọng. Hiện nay đàn
trâu, bò ở nước ta đang tăng chậm không chỉ bởi vì do lai tạo trong truyền
giống, khả năng chống chịu giá rét trong mùa đông, kỹ thuật chăm sóc của
người dân mà còn do các loại bệnh. Ngoài những bệnh truyền nhiễm phổ biến
như Lở mồm long móng, Nhiệt thán, Tụ huyết trùng đàn trâu, bò ở nước ta
còn giảm bởi các bệnh ký sinh trùng.
Bệnh sán lá gan (Fasciolosis) do sán Fasciola hepatica và Fasciola
gigantica ký sinh trong gan và ống dẫn mật gây ra, ở nước ta chủ yếu là do
Fasciola gigantica. Bệnh thường xảy ra ở thể mãn tính, ít gây chết, nhưng
làm gia súc gầy ốm, tiêu chảy kéo dài, giảm năng suất, dễ mắc các bệnh
truyền nhiễm khác. Do nước ta là nước nhiệt đới gió mùa nên bệnh xảy ra
quanh năm, thời tiết nóng ẩm mưa nhiều tạo điều kiện cho ký chủ trung gian
phát triển. Vì vậy, bệnh được phát hiện ở khắp các tỉnh từ miền Bắc đến miền
Nam nước ta. Bình quân tỷ lệ nhiễm sán ở các vùng điều tra như sau: Vùng
2.1.1. Sán lá gan ký sinh ở trâu, bò
2.1.1.1. Loài sán, ký chủ và vị trí ký sinh
- Bệnh sán lá gan do hai loài sán lá Fasciola gigantica và Fasciola
hepatica gây ra.
- Ký chủ của sán lá gan gồm: Ký chủ cuối cùng và ký chủ trung gian.
+ Ký chủ cuối cùng: Là các gia súc nhai lại: Như trâu, bò, dê, cừu, cũng
thấy ở lợn, ngựa, thỏ, một số động vật hoang dã và cả người.
+ Ký chủ trung gian: Các loài ốc nước ngọt thuộc họ Lymnaea:
Lymnaea auricularia, L. swinhoei, L. viridis, Radix ovata
- Vị trí ký sinh: Sán thường ký sinh ở ống dẫn mật, đôi khi thấy sán ký
sinh ở tim, phổi, hạch lâm ba, tuyến tụy.
2.1.1.2. Đặc điểm sinh học của sán lá Fasciola
*
Vị trí của sán lá Fasciola trong hệ thống phân loại động vật học
Theo Skrjabin và cs (1963), Nguyễn Thị Lê và cs (1996), sán lá gan ký
sinh và gây bệnh cho gia súc nhai lại được xếp trong hệ thống phân loại động
vật như sau:
Ngành Plathelminthes Schneider, 1873
Phân ngành Platodes Leuckart, 1854
Lớp Trematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp Prosostomadidea Skrjabin và Guschanskaja, 1962
Bộ Fasciolida Skrjabin et Schulz, 1937
Phân bộ Fasciolata Skrjabin et Schulz, 1937
Họ Fasciolidae Railliet, 1895
Phân họ Fasciolinae Stiles et Hassall, 1898
Giống Fasciola Linnaeus, 1758
Loài Fasciola hepatica (Linnaeus, 1758)
Loài Fasciola gigantica (Cobbold, 1885)
3
4
Đặc điểm vòng đời của sán lá Fasciola
Chu kỳ sinh học của sán lá Fasciola đã được Leukart (1882) nghiên
cứu ở Đức và Thomas (1882) nghiên cứu ở Anh.
4
5
Fasciola trưởng thành ký sinh trong ống dẫn mật của trâu, bò, dê Sau
khi thụ tinh, mỗi sán đẻ hàng chục vạn trứng. Những trứng này cùng dịch mật
vào ruột, sau đó theo phân ra ngoài gặp điều kiện thuận lợi: được nước mưa
cuốn trôi xuống các vũng nước, hồ, ao, suối, ruộng nước… nhiệt độ 15 -
30
o
C, pH = 5 - 7,7, có ánh sáng thích hợp… sau 10 - 25 ngày trứng nở thành
Miracidium bơi tự do trong nước. Nếu thiếu ánh sáng, Miracidium không có
khả năng thoát vỏ nhưng vẫn tồn tại đến 8 tháng trong vỏ, Miracidium có hình
tam giác, xung quanh thân có lông di chuyển được trong nước. Khi gặp vật
chủ trung gian thích hợp (ốc Lymnaea), Miracidium xâm nhập vào cơ thể ốc
và phát triển thành bào ấu (Sporocyst). Những Miracidium không gặp vật chủ
trung gian thì rụng lông, rữa dần và chết.
Bào ấu (Sporocyst) hình túi, màu sáng, được bao bọc bởi lớp màng
mỏng, các tế bào ngọn lửa hoạt động hình thành hầu, ống ruột và các đám
phôi. Trong một ốc có thể có 1 - 2 ấu trùng. Khoảng 3 - 7 ngày, bào ấu sinh
sản vô tính cho ra nhiều Redia (lôi ấu). Một bào ấu sinh ra từ 5 - 15 lôi ấu.
Redia hình suốt chỉ, ít hoạt động, có miệng, hầu, ruột, hình túi đơn
giản, Có hai hệ: Redia thế hệ I và Redia thế hệ II cùng phát triển trong ốc - vật
chủ trung gian. Ở nhiệt độ 16
o
C hoặc thấp hơn, lôi ấu chỉ sản sinh Redia I và
dừng phát triển. Ở nhiệt độ phù hợp (20 - 30
o
C), sau 29 - 35 ngày, lôi ấu biến
Phân Trứng As, t
o
, pH
Mao ấu
Ốc
nước
ngọt
Trâu
bò
nuốt
phải
nang
ấu
Môi trường nước
7 ngày
Bào ấu
8-21 ngày
Lôi ấu
Nang ấu
Rời KCTG sau
2giờ
20-28 ngày
Vĩ ấu
(lơ lửng trong nước hoặc bám vào
cây cỏ thuỷ sinh)
2.1.2. Đặc điểm của bệnh do sán lá Fasciola gây ra ở trâu, bò
Trâu, bò bị bệnh sán lá gan thể hiện những biến đổi cơ bản ở gan và
ống dẫn mật do tác động của Fasciola gây ra.
6
trong năm. Cuối mùa thu và mùa đông bệnh thường phát ra.
- Yếu tố vùng và địa hình
Vùng và địa hình là hai khái niệm khác nhau, song có liên quan chặt
chẽ với nhau. Các vùng khác nhau có địa hình không giống nhau. Địa hình là
yếu tố quan trọng quyết định sự khác nhau giữa các vùng.
7
8
Các vùng khác nhau trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều
có bốn loại địa hình: ven biển, đồng bằng, trung du và miền núi.
Hầu hết các nhà ký sinh trùng học thống nhất rằng, gia súc nhai lại ở
vùng đồng bằng nhiễm sán lá gan nhiều nhất, tỷ lệ và cường độ nhiễm giảm
dần đối với đàn gia súc ở vùng ven biển, vùng trung du và vùng núi. Nguyên
nhân dẫn đến quy luật này, các tác giả Trịnh Văn Thịnh, 1963 [25]; Phạm
Văn Khuê và cs, 1996 [5]; Soulsby, 1982 [39]; Kaufmann, 1996 [38] đều cho
rằng: vùng đồng bằng có nhiều hồ, ao, kênh rạch, tạo điều kiện thuận lợi cho
ốc - vật chủ trung gian sống và sinh sản. Các kiểu địa hình khác thì vấn đề
này hạn chế hơn so với đồng bằng.
- Yếu tố loài và tuổi vật chủ cuối cùng
Súc vật nhai lại đã được thuần hoá như trâu, bò, dê, cừu đều nhiễm sán
lá gan Fasciola. Ngoài ra, súc vật hoang dã cũng nhiễm sán lá này (hươu, nai,
hoẵng…). Cũng có những trường hợp thỏ, ngựa, lợn nhiễm Fasciola, ngay cả
người cũng có thể nhiễm sán.
Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [27], Phạm Văn Khuê và cs (1996)
[5], loài súc vật nhiễm sán nhiều nhất là trâu (79,6%), bò ít hơn (36%), dê ít
nhất (20%). Sở dĩ trâu nhiễm sán lá gan nhiều nhất là do đặc tính ưa nước của
chúng (thích ăn gần chỗ có nước, đằm tắm trong nước và uống nước ở vũng,
ao, kênh rạch), trong khi đặc điểm của bò và dê ít ưa nước hơn.
Về mối liên quan giữa tỷ lệ, cường độ nhiễm sán lá gan với tuổi vật
chủ, các tác giả đều thống nhất rằng, tuổi súc vật càng cao thì tỷ lệ và cường
độ nhiễm càng tăng lên. Súc vật tuổi càng tăng lên (thời gian sống càng dài)
C, khi ở nhiệt độ này chúng đẻ số lượng rất lớn.
Trứng nở trong vòng 2 tuần và sau 1 tháng thành ốc trưởng thành. Một con ốc
trong vòng 10 - 12 tuần có thể sinh sản ra hàng ngàn con ốc. Dưới 10
0
C, ốc
không phát triển và ngừng hoạt động. Tuy nhiên, ốc có thể chui vào bùn và
sống trong điều kiện bất lợi nhiều tháng.
Nguyễn Trọng Kim (1997) [7] đã khảo sát đặc điểm sinh học của ốc -
vật chủ trung gian của F. gigantica ở miền Bắc Việt Nam. Tác giả cho biết,
vật chủ trung gian của sán lá Fasciola là hai loài ốc nước ngọt thuộc giống
Lymnaea với tên gọi là ốc vành tai (L. swinhoei) và ốc chanh (L. viridis). Loài
L. swinhoei có vỏ mỏng, dễ vỡ, không có nắp miệng, kích thước 20 mm, vòng
xoắn cuối cùng rất lớn, chiếm gần hết phần thân, vỏ loe ra như vành tai. Loài
L. viridis cũng có vỏ mỏng, không có nắp miệng, kích thước 10 mm, vỏ dễ
vỡ, có 4 - 5 vòng xoắn, vòng xoắn cuối cùng lớn.
9
10
Ốc L. viridis thường sống ở những nơi nước xâm xấp, đẻ 7 - 10 trứng,
sau 7 ngày nở thành ốc con. Ốc L. swinhoei thường sống trôi nổi ở cống rãnh,
ao, hồ, đẻ trứng quanh năm và quanh năm có ốc con được nở ra.
Phan Địch Lân (1994, 2004), ([13], [14]) cho biết: Ốc L. swinhoei phân
bố nhiều nơi ở vùng đồng bằng, trong khi ốc L. viridis phân bố nhiều ở vùng
núi, trung du và ven biển. Theo kết quả nghiên cứu của tác giả thì hai loài ốc
này đều xuất hiện trong cả 12 tháng của năm, nhưng mật độ (tính trên 1m
2
)
khác nhau theo vùng: Vùng đồng bằng, mật độ ốc L. swinhoei cao hơn và
phân bố đều trong năm, còn ốc L. viridis thì xuất hiện với mật độ cao hơn ở
các vùng núi, trung du, ven biển. Từ đó, tác giả nhận xét rằng, L. swinhoei
chịu nước hơn, còn L.viridis chịu cạn hơn.
ẩm và trong môi trường nước có thể tồn tại đến trên 5 tháng.
2.1.2.2. Cơ chế sinh bệnh của bệnh sán lá Fasciola
10
11
Theo các nhà ký sinh trùng học, sán lá gan gây bệnh ở vật chủ bằng các
tác động cơ học, tác động của độc tố, sự chiếm đoạt chất dinh dưỡng và tác
động mang trùng. Khi súc vật mới bị bệnh, sán non di hành trong cơ thể làm
tổn thương ở ruột, thành mạch máu, nhu mô gan. Một số ấu trùng có thể theo
máu di chuyển “lạc chỗ” đến phổi, lách, cơ hoành, tuyến tuỵ… gây tổn
thương và xuất huyết (nặng hoặc nhẹ). Sán non xuyên qua các nhu mô gan,
làm tổ chức gan bị phá hoại, tạo ra những đường di hành đầy máu và mảnh tổ
chức gan bị phá huỷ. Gan bị viêm từ nhẹ đến nặng tùy theo số lượng ấu trùng
nhiễm vào cơ thể. Súc vật bị thiếu máu do xuất huyết, có thể chết do mất máu.
Tác động cơ giới của sán còn tiếp tục khi sán đã vào ống dẫn mật, sán
tiếp tục tăng lên về kích thước và phát triển thành sán trưởng thành. Sán
trưởng thành thường xuyên kích thích lên niêm mạc ống dẫn mật bằng các gai
cutin trên cơ thể, gây viêm ống dẫn mật. Số lượng sán nhiều có thể làm tắc
ống dẫn mật, dịc mật ứ lại không xuống ruột được sẽ tràn vào máu, gây hiện
tượng hoàng đản.
Trong quá trình ký sinh, sán thường tiết độc tố, độc tố tác động vào
thành ống dẫn mật và nhu mô gan, gây biến đổi đại thể và vi thể, làm tăng quá
trình viêm. Đồng thời, độc tố của sán còn hấp thu vào máu, gây hiện tượng
trúng độc toàn thân, gây huỷ hoại máu, làm biến chất protein trong máu, làm
giảm Albumin, và tăng globulin. Độc tố của sán còn làm tăng nhiệt độ cơ thể,
tăng bạch cầu (đặc biệt là bạch cầu ái toan), tác động vào thần kinh, làm cho
con vật có triệu chứng thần kinh (run rẩy, đi xiêu vẹo…). Độc tố của sán lá
gan tác động vào thành mạch máu, làm tăng tính thấm của thành mạch, gây
hiện tượng thủy thũng, làm cho máu đặc lại. Cũng do tác động của độc tố nên
giữa những tiểu thuỳ gan có hiện tượng thấm nhiễm huyết thanh và tế bào,
hình thành nên các mô liên kết mới dọc theo các vách ngăn của tiểu thuỳ gan
thần kinh (lảo đảo, xiêu vẹo). Súc vật có thể chết do xuất huyết nặng, trúng
độc và suy nhược cơ thể.
- Thể mãn tính thấy phổ biến ở trâu, bò trưởng thành, khi trâu, bò được
nuôi dưỡng tốt và sán đã ở giai đoạn trưởng thành, ký sinh trong ống dẫn mật
với số lượng ít.
Trâu, bò biểu hiện: Ăn uống kém, suy nhược, niêm mạc nhợt nhạt, lông
xù và dễ rụng (nhất là lông ở vùng dọc hai bên sườn và dọc xương ức). Xuất
hiện thủy thũng ở mí mắt, yếm, ngực, bộ phận sinh dục. Con vật nhai lại yếu,
khát nước, ỉa chảy xen kẽ táo bón, gầy yếu dần. Giai đoạn sau đi tháo nhiều
hơn và gầy rất nhanh. Kiểm tra lâm sàng thấy gan sưng to và đau. Có thể thấy
hiện tượng sảy thai ở bò cái bị bệnh, lượng sữa có thể giảm 30 - 50%. Triệu
12
13
chứng thần kinh cũng có thể gặp song rất hiếm. Bệnh kéo dài nhiều tháng,
con vật có thể chết do suy nhược toàn thân.
Nhìn chung, khi súc vật bị bệnh sán lá gan kéo dài, cơ thể suy nhược
nặng, nếu không được điều trị kịp thời thì xúc vật thường chết.
2.1.2.4. Bệnh tích của trâu, bò mắc bệnh sán lá Fasciola
Đối với trâu, bò nhiễm nặng, bệnh tích thấy rõ là viên gan cấp tính, gan
sưng to, màu vàng sẫm, xung huyết. Trên mặt gan có thể thấy những đường di
hành của sán non tạo thành những vệt đỏ thẫm, dài 2 - 4 mm, trong đó sán
non với số lượng nhiều. Lớp thanh mạc xuất huyết nhẹ, đôi khi có tơ huyết.
Khi nhiễm nặng thấy viêm phúc mạc, gan xuất huyết nhiều, niêm mạc mắt
nhợt nhạt.
Ở những trâu, bò nhiễm sán lá gan đã lâu, gan viêm mãn tính, những
chỗ nhu mô gan bị phá hủy có sẹo mầu vàng xám. Gan xơ cứng, niêm mạc
ống dẫn mật dày, có hiện tượng canxi hoá mặt trong thành ống. Lòng ống dẫn
mật dãn rộng, chứa đầy dịch mật màu nâu và sán Fasciola. Khi ống dẫn mật
bị canxi hoá nhiều, sán ở chỗ đó thường bị chết hoặc chuyển đến chỗ ít biến
đổi hơn.
([13], [14]), cho biết: khi mổ khám trâu, bò bị bệnh sán lá gan thấy có bệnh tích
đặc biệt là gan to hơn nhiều so với bình thường (gấp 2 - 3 lần). Gan màu đỏ
sẫm, biểu hiện sung huyết, dưới vỏ gan thấy ứ nước, trên mặt gan còn giữ lại
những đường ngoằn nghèo do sán di hành. Tổ chức liên kết phát triển tạo nên
những sẹo đặc biệt. Trong gan còn thấy những sán non không đến được ống
dẫn mật, đóng kén to bằng hạt đậu và chết trong kén. Cắt tổ chức gan thấy lạo
xạo do biến chất thoái hoá. Do tăng sinh tổ chức liên kết nên gan cứng và xơ
gan. Trường hợp viêm phúc mạc bụng chứa nhiều nước (cổ chướng).
2.1.2.5. Chẩn đoán bệnh sán lá Fasciola ở trâu, bò
Việc chẩn đoán có thể được tiến hành trên súc vật còn sống hoặc đã
chết. Tùy điều kiện thực tế mà áp dụng biện pháp phù hợp.
- Đối với súc vật còn sống:
Để chẩn đoán bệnh do Fasciola gây ra, thường áp dụng các biện pháp
như: chẩn đoán lâm sàng, kết hợp đặc điểm dịch tễ, xét nghiệm phân con vật
nghi bệnh và chẩn đoán miễn dịch học.
Triệu chứng lâm sàng của bệnh sán lá gan thường dễ thấy nhất là: Kiệt
sức, suy nhược, rụng lông, phù thũng ở ngực, ức… Tuy nhiên, các biểu hiện
14
15
trên không chỉ thấy ở bệnh do Fasciola gây nên. Vì vậy, triệu chứng lâm sàng
không phải là căn cứ duy nhất để kết luận bệnh.
Những dẫn liệu dịch tễ học của bệnh cần xem xét là: yếu tố mùa vụ,
vùng và tuổi súc vật bệnh. Song, những dẫn liệu này chỉ là những thông tin
cần xem xét trong chẩn đoán chứ không phải là sở cứ quan trọng nhất trong
chẩn đoán.
Việc xét nghiệm phân tìm trứng Fasciola là biện pháp có tính quyết
định trong chẩn đoán. Thường dùng phương pháp gạn rửa nhiều lần. Theo
Phạm Văn Khuê và cs (1996) [5], phương pháp này phổ biến nhưng chưa phát
hiện được tất cả mọi gia súc nhiễm sán Fasciola, nhất là ở những trâu, bò
nhiễm ít hoặc ở giai đoạn sán còn non. Khi xét nghiệm phân, cần phân biệt
sán non, ấu trùng của sán và độ đặc hiệu không cao. Hiện nay các nhà khoa
15
16
học đang nghiên cứu ứng dụng phương pháp sinh học phân tử sử dụng chỉ thị
di truyền là AND hệ gen của nhân tế bào hoặc là hệ gen ty thể cho kết quả có
độ tin cậy cao, rất phù hợp để xác định chính xác loài Fasciola kí sinh tại gia
súc ở nước ta.
- Đối với trâu, bò chết:
Khi trâu, bò chết, mổ khám tìm sán Fasciola ở giai đoạn ấu trùng và
trưởng thành trong ống dẫn mật, gan, xoang bụng… Phương pháp này chính
xác hơn cả, vì tìm thấy cả sán non ở giai đoạn di hành.
2.1.2.6. Phòng và tri bệnh sán lá Fasciola cho trâu, bò
*
Điều trị bệnh
Hiện nay, có thể tẩy sán lá gan cho trâu bò bằng một trong các loại
thuốc sau:
- Thuốc Dertil: Dertil là thuốc có tác dụng đặc hiệu với sán lá gan
Fasciola, tên gọi khác: Menichlofolan, Bayer ME 3625, Bayer 9015A,
Bilevon M. Dertil được bào chế thành viên to, màu xanh lá cây đậm. Viên
Dertil “O” có chứa 100 mg hoạt chất, viên Dertil ”B” chứa 300 mg hoạt chất.
Dertil có tác dụng diệt sán lá gan trưởng thành ở trâu bò, với liều cao
còn diệt được cả sán non đang di hành trong nhu mô gan. Thuốc chỉ cần dùng
một lần, không cần điều trị lặp lại. Được chỉ định điều trị bệnh sán lá gan cấp
tính và mãn tính cho trâu, bò.
Liều lượng:
Bò: 5 - 6 mg/kg TT; Trâu: 8 - 9 mg/kg TT.
Cho từng cá thể uống thuốc, hoặc gói thuốc vào lá chuối non, đưa sâu
vào miệng cho con vật nuốt.
- Thuốc Fasiolid (tên khác: Fasciolidum)
Thuốc được bào chế dưới dạng dung dịch màu vàng nâu, chứa 25%
rộng rãi, đồng thời phòng ngừa cho súc vật không bị tái nhiễm.
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [5], hàng năm nên tẩy sán cho toàn
đàn ít nhất hai lần, lần đầu vào mùa xuân (trước mùa vật chủ trung gian phát
triển), lần thứ hai vào cuối mùa thu nhằm diệt những sán đã nhiễm trong vụ
Xuân - Hè, ngăn ngừa bệnh phát ra ở mùa đông.
17
18
- Ủ phân theo phương pháp sinh học, lợi dụng quá trình lên men sinh
nhiệt các chất hữu cơ trong phân của hệ vi sinh vật để tiêu diệt trứng sán lá
gan trong phân trâu, bò. Biện pháp này có hiệu quả và đơn giản nhất để phòng
bệnh do sán Fasciola gây ra.
- Xử lý các cơ quan có sán ký sinh: Nếu gan nhiễm nhiều sán phải huỷ
bỏ (chôn, rắc vôi bột, đốt) hoặc không huỷ bỏ mà để lại chế biến chín làm
thức ăn gia súc.
- Diệt vật chủ trung gian của sán lá Fasciola: Tháo cạn nước, làm khô
những đồng cỏ, bãi chăn lầy lội, ẩm ướt. Dùng một số chất hoá học có khả
năng diệt ốc (vôi bột, sulfas đồng…), đẩy mạnh chăn nuôi thuỷ cầm (vịt,
ngan, ngỗng) và cá trắm đen.
- Tăng cường vệ sinh thức ăn, nước uống. Không chăn thả trâu, bò ở
những bãi chăn lầy lội, ẩm thấp, Nếu khó khăn về bãi chăn thả thì chỉ chăn
thả ở bãi chăn lầy lội, ẩm ướt 1,5 - 2 tháng, rồi phải chuyển sang chăn ở bãi
khác. Nếu lấy cỏ ở những chỗ ẩm ướt thì phải cắt cao hơn mặt nước để tránh
Adolescaria, sau đó phơi khô, bảo quản trong 6 tháng rồi cho gia súc ăn.
Nguồn nước uống phải sạch, không có vật chủ trung gian và Adolescaria.
- Không nhập trâu, bò từ vùng có bệnh, khi chưa kiểm tra và điều trị
triệt để.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo kết quả của Nguyễn Đức Tân và cs (2010) [23] ở các tỉnh Nam
trung bộ cho thấy tỷ lệ trâu, bò nhiễm sán lá gan là: Ở bò, bê là 47,16 %; ở
gan trâu bò ở miền núi là 30-35%, vùng đồng bằng trung du nhiễm 40 - 70%.
Kết quả nghiên cứu của Lê Hữu Khương và cs (2001) [6] cho thấy tỷ lệ
nhiễm sán lá gan trung bình trên cả nước ở trâu là 46,23%, dao động từ 8,74 -
61,09%, ở bò là 30,64%, tỷ lệ này tăng dần từ Nam ra Bắc.
Phạm Sỹ Lăng, Lê Văn Tạo (2002) [16] cho biết tại các cơ sở chăn
nuôi bò sữa, tỉ lệ nhiễm sán của bò sữa từ 28-30%.
Theo Vũ Đức Hạnh, Nguyễn Thị Kim Lan (2009) [2] tỉ lệ nhiễm sán lá
gan tại 9 xã thuộc huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang là 51,6%.
Hoàng Văn Hiền và cs (2011) [3] cho biết tình hình nhiễm sán lá gan
trâu bò ở Việt Nam là 35%.
19
20
Phan Lục và cs (1996) [18] cho biết khi sử dụng Fasinex liều 12 mg/kg
TT tẩy sán lá gan cho trâu, thuốc có hiệu lực và hiệu lực tẩy sạch sán đều đạt
100%.
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [32] cho biết có hai loài sán lá gan ký
sinh ở đường tiêu hoá gia súc nhai lại Việt Nam, đó là Fasciola gigantica và
Fasciola hepatica.
Theo Đỗ Đức Ngái và cs (2006) [30], tỷ lệ nhiễm ấu trùng Fasiola của
ốc L. swinhoei ở ĐắkLắk là 0,45%.
2.2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Bệnh sán lá gan là bệnh phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Ở các
nước chăn nuôi trâu bò phát triển thì việc kiểm tra tình hình nhiễm sán lá gan
được coi là công việc thường xuyên.
Qua các tài liệu điều tra cho thấy tỉ lệ nhiễm sán lá gan trâu, bò ở các
nước phụ thuộc các yếu tố: Điều kiện khí hậu, tập quán chăn thả, trình độ dân
trí đặc biệt phụ thuộc vào khả năng thực hiện các biện pháp phong trừ tổng
hợp bệnh sán lá gan ở vật nuôi.
Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978) [27], đã tổng hợp công
trình nghiên cứu ký sinh trùng cho biết sán lá gan Fasciola hepatica đã được
vậy phổ biến ở châu Âu, Mỹ và châu Đại dương, trong khi F. gigantica thích
nghi ở vùng nhiệt đới và ẩm ở châu Phi và châu Á.
Mas-Coma và cs (2005) [36] cho biết: Trâu, bò bị nhiễm sán lá gan có
triệu chứng gầy yếu, tăng trọng chậm, sản lượng thịt sữa thấp, rất nhiều buồng
gan không sử dụng được do sán làm viêm, xơ cứng.
Sự phát triển của ấu trùng F. gigantica trong ốc L. auricularia được mô
tả bởi Dinnik J. A., Dinnik N. N. (1964) [33]: Ở 26°C 1 Miracidium phát triển
thành 1 Sporocyst sau 6 - 8 ngày. Sporocyst chứa tới 6 túi phôi, sản sinh thế
hệ Rediae đầu tiên, từ mỗi Rediae này lại sản sinh Rediae thế hệ thứ 2 sau 20-
22 ngày. Cercariae phát triển sau 26 ngày sau khi nhiễm. Sự phát triển ấu
trùng trong ốc sẽ chậm hơn khi nhiệt độ giảm và cuối cùng là ngừng phát
triển. Ở nhiệt độ dưới 16°C, chỉ 1 thế hệ Redia con được sản sinh, nhưng
chúng sẽ sản sinh Cercariae khi nhiệt độ tăng lên đến 20°C.
21
22
Mặc dù là động vật thủy sinh, nhưng ốc - vật chủ của sán lá gan
F.gigantica có thể sống qua một giai đoạn khô, vì thế Mahato S. N. và cs
(1995) [34] kết luận rằng, sự ngủ hè có thể đóng vai trò quan trọng trong dịch
tễ của bệnh sán lá gan ở Nepal. Họ quan sát thấy ốc L. Viridis sống ở bùn khô
ít nhất 1 tháng. Tuy nhiên, những loài ốc này thường không vùi mình xuống
bùn khi nước khô, mà vẫn nằm trên bề mặt. Vì vậy, chúng dễ bị khô nhiều
hơn và bị vật ăn mồi ăn nhiều hơn so với khi chúng vùi mình xuống đất. Tuy
nhiên, khi không tiếp xúc với mặt trời, chúng vẫn sống và sản sinh trứng
trong một số tuần sau khi môi trường của chúng bị khô.
Ở đồng lúa, mật độ ốc không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi dòng nước,
nhưng bị ảnh hưởng bởi mức nước tưới tiêu và mùa vụ. Ốc và trứng của
chúng sống từ mùa trước có thể phát triển ở mùa vụ mới hoặc chúng có thể
được đưa vào cùng với nước. Sau đó, số lượng của chúng tăng lên qua vài
tháng tiếp theo, sau đó giảm xuống vài tuần trước khi thu hoạch (Widjajanti
S., 1989) [42]).
- Mẫu đất bề mặt và mẫu nước đọng trên bãi chăn trâu, bò.
- Mẫu ốc nước ngọt thu thập ở các ao, ruộng vũng nước đọng.
- Mẫu cỏ thủy sinh thu thập ở khu vực chăn thả trâu, bò.
3.2.2. Dụng cụ và hoá chất
- Kính hiển vi quang học, buồng đếm trứng giun sán Mc.Master.
- Dụng cụ xét nghiệm mẫu: cốc thuỷ tinh, lam kính, la men, lưới lọc
phân và các dụng cụ thí nghiệm khác.
- Thuốc Han-Dertil B, Fasciolid-25%, Bio-Alben.
23
24
3.3. Nội dung nghiên cứu
3.1.1. Điều tra về công tác phòng chống bệnh ký sinh trùng cho trâu, bò ở
huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
3.3.2. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh sán lá gan trâu, bò
3.3.2.1. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan trâu, bò ở các xã thuộc huyệnYên
Sơn, tỉnh Tuyên Quang
3.3.2.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo tuổi trâu, bò
3.3.2.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo mùa
3.3.3. Nghiên cứu sự ô nhiễm trứng và ấu trùng sán lá gan ở ngoại cảnh và
trong ký chủ trung gian
3.3.3.1. Sự ô nhiễm trứng sán lá gan ở chuồng và khu vực xung quanh
chuồng nuôi trâu, bò
3.3.3.2. Sự ô nhiễm trứng sán lá gan ở bãi chăn thả trâu, bò (ở đất bề mặt, ở
vũng nước trên bãi chăn)
3.3.3.3. Xác định loài và sự phân bố của ốc nước ngọt, ký chủ trung gian của
sán lá gan
3.3.3.4. Tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan của ốc nước ngọt
3.3.3.5. Tỷ lệ mẫu cỏ thủy sinh nhiễm Adolescaria
3.3.4. Nghiên cứu biện pháp phòng chống bệnh sán lá gan trâu, bò ở
huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
- Mùa Hè (từ tháng 5/2012 đến 11/6/2012)
3.4.1.2. Thu nhập mẫu phân trâu, bò
Lấy mẫu theo phương pháp lấy mẫu chùm nhiều bậc, lấy mẫu ở 4 xã.
Để riêng mỗi mẫu vào một túi nilon nhỏ, mỗi túi đều có nhãn ghi: loại gia súc
(trâu, bò), địa điểm lấy mẫu, tuổi trâu, bò, trạng thái phân, thời gian lấy mẫu
và các biểu hiện lâm sàng của trâu, bò. Ngoài ra căn cứ vào những yếu tố cần
xác định có liên quan đến đặc điểm dịch tễ để lấy mẫu cho tương đối đồng
đều về các yếu tố khác.
3.4.1.3. Phương pháp xét nghiệm mẫu
Xét nghiệm bằng phương pháp lắng cặn Benedek (1943)
Nguyên lý: Tỷ trọng của trứng sán lá gan nặng hơn tỷ trọng của nước
lã, nên trứng sẽ bị lắng xuống có thể tách trứng sán lá gan ra khỏi nước.
Cách tiến hành: Lấy một lượng phân khoảng 5 - 10g cho vào cốc thủy
tinh, cho khoảng 100 - 150ml nước lã vào, dùng đũa thủy tinh khuấy đều rồi
dùng lưới lọc lọc cặn bã trong phân đi, để cho lắng xuống. Gạn nước ở trên
đi, tiếp tục cho nước vào, để yên 20-30 phút cho lắng xuống, rồi lại gạn nước
25