Nghiên cứu ảnh hưởng của trồng xen ổi trong vườn cam để hạn chế bệnh vàng lá greening trên cây cam tại huyện hàm yên, tỉnh tuyên quang - Pdf 13

DANH MỤC HÌNH
Trang
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
1. STT Số thứ tự
2. FAO Tổ chức nông lương thế giới
3. UBND Ủy ban nhân dân
4. CV (%) Hệ số biến động (Coefficient of varation)
5. LSD Sai số nhỏ nhất (Least Significant Defference Test)
6. LSD05 Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa ở mức 95 %

MỤC LỤC
Trang
PHỤ LỤC
5
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cây có múi (cam, chanh, quýt) là loại cây ăn quả phổ biến và quan
trọng của nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam trong hiện tại và
tương lai.
Cây cam sành (Citrus nobilis Lour) có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới
nóng ẩm và ưa khí hậu ẩm, sinh trưởng và phát triển thích hợp nhất ở nhiệt độ
23
o
C – 29
o
C, nhưng cũng có thể chịu rét và sinh trưởng ở nhiệt độ 12
o
C. Vùng
có thể trồng được cây cam sành từ 35 vĩ độ Bắc đến 40 vĩ độ Nam.
Việt Nam là một trong những nước nằm trong trung tâm phát sinh cây

erytrae (ở châu Phi), đồng thời là do chiết ghép từ cây có nguồn bệnh. Trong
các năm qua Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam đã thử nghiệm thành
công việc trồng xen ổi trong vườn cam quýt và đã hạn chế được rầy chổng
cánh, rầy mềm. Chính vì vậy việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật có tính
khả thi cao, dễ áp dụng, không gây độc hại với các sản phẩm nhằm hạn chế
tác hại của bệnh vàng lá greening và tăng thêm thu nhập cho người dân là
việc rất cần thiết
Xuất phát từ nhu cầu thực tế, từ những lý do trên tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của trồng xen ổi trong vườn cam để hạn chế bệnh
vàng lá Greening trên cây cam tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang”
1.2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của trồng xen ổi trong vườn trồng cam đến việc
xua đuổi rầy chồng cánh, hạn chế bệnh vàng lá greening tại vườn cam xã Yên
Lâm, huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang.
1.3. Yêu cầu
- Theo dõi và mô tả đặc điểm hình thái, khả năng sinh trưởng, phát triển
của cam sành Hàm Yên.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của trồng xen giống ổi Đài Loan trong vườn
cam đến 1 số loại sâu bệnh hại.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
+ Giúp sinh viên củng cố và hệ thống hoá những kiến thức đã học trong
nhà trường vào nghiên cứu khoa học và trau dồi những kiến thức, kinh
nghiệm thực tế.
7
+ Là cơ hội tiếp cận thực tế để hiểu rõ hơn về bản chất vấn đề.
+ Giúp sinh viên nắm được cách tiến hành một đề tài nghiên cứu khoa học
+ Giúp sinh viên biết phương pháp thu thập, xử lý số liệu và trình bày
một báo cáo khoa học.
+ Là cơ sở để lựa chọn, áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới trong việc

Theo các nghiên cứu trên thế giới và trong nước thì bệnh greening gây
hại trên cây có múi là một bệnh mang tính huỷ diệt, nhiều vùng trồng cam quýt
trên thế giới và trong nước đã bị xoá sổ và mang lại những thiệt hại to lớn cho
nghề trồng cam quýt. Bệnh greening do vi khuẩn Liberobacter Asiaticum,
thuộc nhóm Procaryote, sống trong mô libe của cây bệnh gây ra. Bệnh lan
truyền qua rầy chổng cánh (Diaphorina citri) là môi giới truyền bệnh. Cây biểu
hiện triệu chứng bệnh sau 4 - 6 tháng bị lây nhiễm. Bệnh làm cho lộc nhỏ lại,
phiến lá chuyển sang màu vàng, gân lá vẫn giữ màu xanh. Cây bị bệnh nặng
cho các lá rất nhỏ, mọc thẳng đứng, phiến lá vàng, chỉ còn gân chính màu xanh.
Cây bị bệnh thường cho quả trái vụ, quả biến dạng, quả nhỏ, vỏ dày, quả chín
rồi mà vỏ vẫn còn xanh, múi bị khô sượng, tép có vị đắng, hạt thui lép, không
phát triển, tâm quả bị vẹo và sau 1 vài năm cây sẽ chết.
Để hạn chế bệnh greening đã có nhiều biện pháp về giống, canh tác và
bảo vệ thực vật, trong đó biện pháp phòng trừ rầy chống cánh là biện pháp có
hiệu quả nhất. Đã có nhiều biện pháp phòng trừ rầy chổng cánh: phun thuốc
bảo vệ thực vật, trồng các đai rừng cách ly, trồng cây dẫn dụ để phun thuốc
9
diệt trừ , tuy nhiên các biện pháp phòng trừ trên cũng còn nhiều hạn chế do
tốn kém và khó mở rộng, áp dụng. Sử dụng thuốc trừ sâu có hiệu quả nhưng
những tàn dư nó để lại cho cây trồng và môi trường sống là rất lớn. Ô nhiễm
môi trường đất, không khí, để lại dư lượng thuốc trong sản phẩm sẽ trực tiếp
và gián tiếp ảnh hưởng tới sức khỏe con người và vật nuôi.
Gần đây Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam đã thử nghiệm thành
công việc trồng xen ổi trên vườn cam sành, hạn chế được rầy chổng cánh, rầy
mềm gây bệnh vàng lá gân xanh (bệnh greening). Tháng 4/2005 tiến sĩ
Katsuya Ichiniose – chuyên gia của trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc
tế Nhật Bản (JIRCAS) đã được cử sang Việt Nam để nghiên cứu sâu hơn về
mối quan hệ (ổi - cam - rầy) sau thời gian nghiên cứu ông đã xác định: mùi
của chất dịch terpenoids (nhóm hương ổi) có trong lá ổi chính là “kẻ thù của
rầy”, chất này có tác dụng xua đuổi rầy chổng cánh đến trú ngụ và chích hút,

2010 8.643.501 143.178 123.755.750
(Nguồn: FASTAT/FAO Statistics - năm 2012)
Từ năm 2002 đến năm 2010 diện tích trồng cam, quýt trên thế giới tăng
thêm được 1.003.225 ha, từ 7.640.276 ha (2002) tăng lên đến 8.643.501 ha
(năm 2010) cam, quýt mới. Sản lượng cam, quýt toàn thế giới từ năm 2002
đến 2010 có tăng lên nhưng còn khá chậm từ 107.490.468 tấn (năm 2002) lên
123.755.750 tấn (năm 2010).
Bảng 2.2. Sản lượng cam, quýt các châu lục năm 2010
(đơn vị: tấn)
Vùng lãnh thổ Cam Quýt
Châu Mỹ 34.898.652 3.192.911
Châu Á 20.960.153 14.147.836
Châu Âu 6.495.029 2.199.197
Châu Phi 6.749.760 1.678.423
Châu Đại Dương 404.023 99.225
(Nguồn: FASTAT/FAO Statistics - năm 2012)
Kết quả thống kê của FAO cho thấy sản lượng cam quýt trên thế giới
rất cao nhưng lại không đồng đều giữa các châu lục, sản lượng cam chiếm tỷ
lệ cao nhất (63.012.588 tấn), Châu Mỹ có sản lượng cam lớn nhất so với các
châu lục khác (34.898.652 tấn) và thấp nhất là châu Đại Dương (chỉ có
404.023 tấn).
11
Những năm tới đây theo dự đoán sẽ có hai hướng phát triển về nhu cầu
cam, quýt. Đầu tiên là sự phát triển về nhu cầu cam sẽ chậm lại, một số nước
hiện nay đang phải đối phó với hai vấn đề trong sản xuất là bệnh loét (cakel)
và hiện tượng biến vàng trên cam, quýt (Citrut varriegatet chlorosis), ngoài ra
thu nhập người trồng cam thấp do giá thành không cao nên diện tích trồng
mới sẽ không tăng. Hai là xu hướng sử dụng quả cam tươi đối với các quốc
gia phát triển sẽ giảm và công nghiệp chế biến cam sẽ tiếp tục phát triển ở
những quốc gia đang phát triển mặc dù thị trường chính vẫn là các nước Bắc

Thế giới 122.157.195 122.368.732
123.755.75
0
12
(Nguồn: FASTAT/FAO Statistics - năm 2012)
Năm 2008 diện tích cam quýt của toàn thế giới là 8.867.779ha, năng
suất trung bình đạt 137.75 tạ/ha, sản lượng đạt 122.157.195tấn. Đến năm
2010 diện tích (8.643.501ha) và sản lượng đạt cao hơn (122.368.732tấn) vì
năng suất tăng (143.178tạ/ha).
So sánh về diện tích của 5 châu lục, châu Á có tổng diện tích lớn nhất
sau đó đến châu Mỹ, châu Phi, châu Âu và vùng có diện tích nhỏ nhất là châu
Đại Dương (31.626ha)
- Vùng châu Mỹ: các nước sản xuất nhiều như Mỹ, Mêxico, CuBa,
Costarica, Braxin, Achentina tuy vùng cam, quýt châu Mỹ được hình thành
muộn hơn so với vùng khác, song do điều kiện thiên nhiên thuận lợi, do nhu
cầu đòi hỏi của nền công nghiệp Hoa Kỳ đã thúc đẩy ngành cam quýt ở đây
phát triển rất mạnh. Về năng suất cam năm 2008 đạt 196.275tạ/ha, đến năm
2010 năng suất trung bình đạt 188.555tạ/ha đây là vùng cam có năng suất cao
nhất trên thế giới
- Vùng châu Á: được khẳng định là quê hương của cam, quýt, hầu hết
các nước châu Á đều sản xuất cam quýt. Tuy nhiên năng suất bình quân vẫn
còn đang ở mức thấp, đó là do điều kiện kinh tế, xã hội của các nước này có
những hạn chế nhất định, nghề trồng cam quýt chưa được chú trọng nhiều và
đang tồn tại sự pha trộn của kỹ thuật hiện đại (Nhật Bản, Hàn Quốc) và sự
canh tác truyền thống của Trung Quốc, Ấn Độ, Philippin tình trạng sâu bệnh
hại nhiều nghiêm trọng.
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ của FAO về tình hình sản xuất cam
quýt ở một số nước châu Á năm 2010 như sau:
13
Bảng 2.4. Tình hình sản xuất cam và quýt ở một số nước vùng châu Á

chuyên canh như xã Đoài (Nghệ An), Bố Hạ (Bắc Giang) đây là 2 vùng
14
chuyên canh cam có kinh nghiệm, 1 số gia đình cũng đã biết làm giàu từ trồng
cam nhưng trên thị trường cam quýt vẫn là một mặt hàng vô cùng quý hiếm.
Thời kỳ từ 1975 trở lại đây ở miền Bắc diện tích và sản lượng cam có
xu hướng giảm dần, những diện tích được trồng vào thời kỳ từ 1960 - 1965
thì nay đã già cỗi, sâu bệnh nặng vì vậy đã chuyển sang trồng các loại cây
khác hoặc trồng lại. Tuy nhiên vào thời điểm đó ở miền Nam diện tích và sản
lượng cam quýt lại tăng lên nhất là khu vực tư nhân, các tỉnh có diện tích cam
nhiều như Vĩnh Long, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp… Vào đầu những
năm của thế kỷ 21 trở lại đây so những năm 1975 của thế kỷ trước diện tích
năng suất và sản lượng của cam được tăng lên rất mạnh và dần ổn định.
Bảng 2.5. Tình hình sản xuất cam và quýt của nước ta
giai đoạn 2002 - 2010
STT
Tình hình
sản xuất cam
Năm
2002 2005 2006 2007 2008 2009 2010
1 Diện tích (1000 ha) 75,7 87,2 84,8 100,4 117,3 111,2 115,4
2
Diện tích cho sản
phẩm (1000 ha)
53,5 60,1 62,3 64,6 67,8 87,5 89,4
3 Năng suất (tạ/ha) 87,85 99,41 98,07 102,48 98,85 117,3 118,6
4 Sản lượng (1000 tấn) 470,0 606,4 611,0 662,0 670,2 683,3 720,1
(Bộ NN & PTNT 2011)
Kết quả thống kê của bộ NN và PTNN cho thấy diện tích sản xuất cam,
quýt được tăng vọt từ năm 2002 (75.700) đến 2005 (87.200) sau đó ổn định
qua các năm từ 2005-2008. Diện tích cao nhất đạt 89.900 ha. Cùng với tổng

hiện rất thấp, chỉ đạt 117,3 tạ/ha. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long 117,3 tạ/ha
Nam trung bộ đạt năng suất thấp nhất là 42,9tạ/ha. Tổng sản lượng cam năm
2009 đạt 683.300 tấn riêng vùng cam của Đồng bằng sông Cửu Long đạt
433.900 tấn, chiếm sản lượng cao nhất trong 8 vùng trồng cam trong cả nước.
Thấp nhất là vùng Nam Trung bộ đạt 2.200 tấn.
Trong những năm gần đây nhìn chung xu thế phát triển cam quýt chậm
lại, giảm đi nhất là miền Bắc. Nguyên nhận chính là sâu, bệnh nhiều, chưa có
biện pháp phòng trừ hiệu quả, chưa tạo ra được những giống tốt có khả năng
chống chịu sâu bệnh, để cung cấp cho nhu cầu tiêu thụ nội địa và xuất khẩu.
2.2.3. Các vùng trồng cam trong nước
2.2.3.1. Vùng đồng bằng Sông Cửu Long
Gồm các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh,
Cần Thơ, Sóc Trăng và An Giang có vị trí địa lý từ 9
0
15’ – 10
0
30’ vĩ độ Bắc
16
và 105
0
– 106
0
45’ độ kinh Đông. Đây là vùng tận cùng phía Nam đất nước
thuộc châu thổ sông Cửu Long, địa hình rất bằng phẳng.
Vùng đồng bằng Sông Cửu Long có nhiều điều kiện thuận lợi về khí
hậu để phát triển sản xuất cây có múi, có chế độ nhiệt độ cao và rất ôn hòa.
Nhiệt độ trung bình năm 25,5 - 29,8
0
C, tháng nhiệt độ thấp nhất là tháng 12
và tháng 1, nhiệt độ trung bình 24 - 25

0
đến
20
0
30’ vĩ độ Bắc. Trọng điểm trồng cam quýt vùng này là vùng Phủ Quỳ -
Nghệ An, gồm một cụm gồm các nông trường chuyên trồng cam, với diện tích
năm 1990 là 1.600 ha.
17
Vùng Phủ Quỳ nằm ở phía tây Bắc thuộc tỉnh Nghệ An. Diện tích tự
nhiên 730.000 ha. Là vùng đồi núi, nhưng phần lớn diện tích đất có độ dốc từ
3
0
- 6
0
rất thuận lợi cho trồng cam quýt và các cây trồng lâu năm khác, ảnh
hưởng của 2 loại gió mùa Đông - Bắc (gió lạnh) và Tây – Nam (gió nóng),
nên khí hậu vùng Phủ Quỳ phân thành 4 mùa rõ rệt: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Nhiệt độ trung bình trong các tháng mùa Đông vùng Phủ Quỳ từ 15
0
– 17
0
C.
Nhiệt độ tối thấp trong tháng lạnh nhất (tháng 1) xuống tới 2
0
C. Số ngày có
nhiệt độ thấp dưới 10
0
C ở Phủ Quỳ thường có tới 10 ngày. Đây là một hạn chế
lớn đối với vùng sinh trưởng của cam quýt.
Ngược lại về mùa Hè do ảnh hưởng của gió Tây – Nam nên khí hậu rất

năm vào khoảng 21
0
- 22
0
C, nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất (tháng 1) từ
14
0
- 15
0
C, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất (tháng 7) từ 27
0
- 28
0
C. Tuy
nhiên do ảnh hưởng của địa hình ở mỗi tỉnh và mỗi địa phương trong tỉnh
khác nhau cũng gây nên sự biến đổi phức tạp về điều kiện khí hậu. Đây là một
trong những khó khăn đối với việc bố trí cơ cấu giống cây trồng ở các tỉnh
miền núi phía Bắc.
18
Lượng mưa trung bình ở các tỉnh miền núi phía Bắc từ 1.600 – 1.800mm.
Riêng trung tâm Bắc Quang lượng mưa rất lớn từ 2.500 – 3.200mm. Tuy nhiên,
sự phân bố của mưa không đều .
Hạn chế cơ bản của việc phát triển cam quýt ở vùng miền núi phía Bắc là:
+ Địa bàn phân tán, ít có vùng tập trung lớn như vùng Phủ Quỳ - Nghệ
An hoặc vùng đồng bằng sông Cửu Long.
+ Địa hình dốc, giao thông đi lại khó khăn, hạn chế nhiều đến việc mở
rộng vùng sản xuất cam quýt làm hàng hoá.
+ Việc áp dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất gặp nhiều khó khăn
do trình độ dân trí còn thấp, tính thích ứng với nền kinh tế hàng hoá còn chậm.
Sản xuất chủ yếu theo lối kinh nghiệm, thường chỉ độc canh một giống,

năng thích ứng khá rộng, chịu hạn tốt, chịu đất tốt đất ven biển. Hiện nay
giống này được trồng phổ biến ở các tỉnh miền núi tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh,
Hòa Bình, Hưng Yên.
* Giống cam Sông Con.
Giống cam này được tạo ra bằng phương pháp chọn lọc từ một giống
nhập nội, có thể là do dạng đột biến mầm của cam Washington Navel. Cây
sinh trưởng khỏe, tán hình cầu, phân cành nhiều, cành ngắn và tập trung. Lá
cam bầu, gân phía lưng nổi rõ, hoa màu xanh bóng có phản quang, hoa bất
dục đực 50%. Khối lượng quả trung bình đạt 200 – 220 g, quả hình cầu, mọng
nước, vỏ quả mỏng, ít hạt, ngọt đậm và thơm. Cây chiết hoặc cây từ giâm
cành sau 3 năm cho quả. Giống cam Sông Con cho năng suất trung bình có
khả năng chống chịu được một số sâu bệnh và có tính thích ứng rộng nên đã
được trồng ở trung du, miền núi, ven biển và vùng đồng bằng. Cam Sông Con
còn được trồng phổ biến khắp các vùng trong cả nước.
* Giống cam Vân Du .
Được nhập nội từ những năm của thập kỷ 40 do trạm nghiên cứu cam
Vân Du (Thanh Hóa) chọn lọc. Đây là một trong các giống cam chủ lực của
nước ta, cây phân cành khỏe, tán hình trụ, cành dày, có gai. Lá hơi thuôn, màu
xanh đậm, eo lá hơi to. Quả hình tròn ôvan, vỏ dày, mọng nước, giòn, ngọt
nhiều hạt. Giống cam này cho năng suất khá cao, chống chịu tốt với một số
sâu bệnh hại, chịu hạn và được phổ biến rộng. Được trồng phổ biến ở các
nông trường thuộc các tỉnh miền Trung và phía Bắc.
20
* Giống cam Bù Hà Tĩnh
Được trồng từ lâu ở Hương Sơn - Hà Tĩnh, có nơi gọi là quýt. Có 3
dạng hình chủ yếu:
- Dạng vỏ dày, quả có thành cao, phẩm chất tốt, ăn rất ngon.
- Dạng hoàn toàn giống cam sành nhưng quả có thành cao, vỏ mỏng
hơn, nhiều hạt.
- Dạng có quả hình cầu, chín muộn, vỏ quả đẹp

5 năm tuổi có thể cho 600 – 1000 quả, khối lượng trung bình đạt 100 – 120 g.
Quả hình cầu,vỏ mỏng dai, khi chín có màu vàng tươi, thịt quả mọng
nước, ngọt thơm, ít xơ bã nhưng tương đối nhiều hạt.
* Quýt Tích Giang
Được trồng nhiều ở Hải Dương, Hưng Yên và được gọi là quýt Tiền,
ngày xưa được dùng để tiến vua, giống quýt này được trồng nhiều ở xã Tích
Giang từ đó có tên gọi là quýt Tích Giang. Lá dày, thuôn dài, quả to đẹp,
đường kính quả lớn hơn chiều cao quả, vỏ hạt dày và giòn, thịt quả mọng
nước, nhiều hạt, hạt to, thịt nhiều xơ bã nhưng ngọt đậm.
* Quýt Vỏ Vàng Lạng Sơn.
Cây mọc thẳng và cao, phân cành nhiều và nhỏ. Lá giống lá quýt Tích
Giang, nhưng nhỏ và dài hơn, trên lá có nhiều túi hình dầu, mùi thơm đặc
biệt. Thịt quả mọng nước, vách múi mỏng, ít hạt hương vị thơm ngon, hấp
dẫn, ngọt đậm hơi có vị chua. Tính chống chịu tốt với điều kiện sinh thái cao,
khả năng thích nghi lớn được trồng nhiều ở các tỉnh như: Lạng Sơn, Bắc Cạn,
Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng.
2.3.3. Một số giống cam quýt trồng tại Tuyên Quang
* Cam sành: quả to trung bình 180 - 200g, vỏ dày thô, sần sùi, màu sắc
vỏ quả và thịt quả đẹp, vị quả ngọt đậm, ít xơ, chín muộn vào dịp tết (tháng
12 - tháng 1 năm sau).
* Quýt sen: cây sinh trưởng khoẻ, năng suất cao, chín sớm, vị ngọt mát,
thơm nhưng xơ bã nhiều, dai, thích hợp trồng để dải vụ.
* Quýt đỏ Ngọc Hồi: sinh trưởng khoẻ, năng suất cao, mẫu mã đẹp, quả còn
xanh mọng nước và rất chua. Khi chín vỏ quả chuyển màu đỏ, có vị ngọt đậm.
* Quýt vàng: quả hình cầu hơi dẹt, khi chín vỏ quả màu vàng, giòn, thịt
quả mọng nước, vị ngọt đậm, hơi chua, ít xơ.
* Quýt chum: quả hình quả lê, có núm lồi, vỏ màu vàng da cam, hơi
sần sùi, dễ bóc, vị ngọt hoàn toàn, không chua
22
2.4. Quy trình trồng và chăm sóc cam quýt.

kém. Vì vậy sau khi trồng không có mưa phải tiến hành tưới nước hàng ngày
để cây chóng bén rễ và phục hồi tốt. Trong thời gian chăm sóc nếu bị khô hạn
phải tiến hành tưới để cung cấp đầy đủ nước cho cây, tạo điều kiện cho cây
sinh trưởng, phát triển tốt. Cây cam rất sợ đất úng nước nên những vùng đồng
bằng mùa mưa cần chú ý tiêu nước cho cam.
23
- Vệ sinh vườn: vườn cam bị bệnh khô cằn hoặc bị vàng lá do nhiều
nguyên nhân khác nhau vì vậy cần thường xuyên cắt tỉa các cành bị sâu bệnh
bị sâu đốt, xung quanh vườn cam phải luôn thoáng, sạch cỏ dại để tránh hiện
tượng ẩn nấp của sâu bệnh hại.
- Tạo hình, tỉa tán: để cây ra hoa, đậu quả cao cần phải tạo cho cây một
khung tán cân đối, thoáng, ánh sáng đầy đủ. Thường xuyên cắt tỉa các cành bị
sâu bệnh, cành nhỏ, cành vượt, cành tăm nhằm tạo cho tán luôn thông thoáng.
- Bón phân thúc cho cam: tăng lượng phân chuồng, giảm phân hóa học,
phun bổ sung phân bón lá thường xuyên để giữ bộ lá luôn luôn có màu xanh.
Sau khi trồng mới cây đã ổn định và ra lộc thì bón thúc một đợt với 1 lượng
100 kg ure + 100 kg kali, sau đó bón thúc theo độ tuổi của cây.
- Phòng trừ sâu bệnh:
+ Sâu vẽ Bùa: là sâu phổ biến nhất trên cây cam, sâu tập trung cây hại
trên các vườn ươm và vườn cây trong thời kỳ kiến thiết cơ bản. Khi nở sâu
đục những đường hầm để ăn lớp tế bào nhu mô diệp lục, các đường hầm do
sâu gây trên lá có thể làm lá uốn cong và biến dạng. Sâu non phá hoại quanh
năm nhất là các đợt lộc non từ tháng 4 đến tháng 10.
Phòng trừ: dùng thuốc Selecron 500 EC (0,2 %), Decil 2,5 EC (0,1 %)
Padan 95 SP (0,1 – 0,2 %) phun vào các đợt lộc non 2 lần (lần 1 phun khi mới
nhú lộc, lần 2 phun khi cây ra lộc rộ), phun thuốc kết hợp với dầu khoáng để
tăng hiệu quả cao hơn .
+ Sâu Nhớt: sâu non và sâu trưởng thành phá hoại lá non, quả non
trong mùa Xuân thường từ tháng 2 đến tháng 4.
Phòng trừ: Supracid 0,2 %, Selecron 500 EC (0,2 %), Viphensa 0,2 %

hơi lõm xuống. Khi bổ thấy có mùi ủng, bên trong các múi không có sâu bọ
hoặc dòi. Quả dễ bị rụng và không sử dụng được.
Phòng trừ: Nhanh chóng tạo độ thông thoáng cho cây, thu gom những
quả rụng để tập trung tiêu huỷ. Phun thuốc Boocđô, Aliette, chú ý phun cả
mặt đất dưới tán cây và xung quanh gốc.
+ Bệnh Greening: gây hại nặng trên cây cam và quýt. Cây bị bệnh cành
nhỏ, cành tăm mọc chụm vào nhau, tán cây nhỏ lại, lá vàng và bé, lá có gân xanh
thịt vàng, phiến lá con hình thìa, quả nhỏ chín không đều ít nước và chua, phầm
chất kém, hạt lép nhiều và có màu nâu có khi có hiện tượng chảy nhựa.
Phòng trừ: hiện nay chưa có loại thuốc nào chữa bệnh này, vì vậy cần
phải được áp dụng các biện pháp phòng ngừa sau:
25
+ Trồng mới bằng giống sạch bệnh .
+ Chọn tổ hợp gốc ghép và mắt ghép chống chịu bệnh
+ Nếu phát hiện cây bị bệnh phải bỏ và đốt đi không để cây lan sang
cây khỏe
+ Phun thuốc diệt trừ rầy chổng cánh là môi giới truyền bênh vàng lá
Greening. Phun vào các đợt lộc non trong năm, mỗi đợt lộc cần phun 2 lần,
lần 1 cần phun khi cây nhú lộc, lần 2 phun khi cây ra lộc.
2.5. Quy trình trồng và chăm sóc ổi
2.5.1 Chọn đất, đào hố, bón lót chuẩn bị trồng
- Chọn đất: chọn đất màu mỡ, thoát nước, có thể trồng trên đất có lẫn đá.
- Đào hố ổi giữa các hàng cam, khoảng cách 4m x 4m (mật độ 625
cây/ha). Kích thước hố 40 x 40 x 40 (cm)
Xử lí khử trùng hố bằng Foocmalin theo tỷ lệ 2%, pha thuốc, phun đều
xuống hố và đất đã đào.
Lượng phân cho mỗi hố: + Phân chuồng: 10 - 15 kg/hố.
+ NPK: 1kg/hố
Tất cả các loại phân trên được trộn đều với 10 - 20g chất xử lý đất
Diaphos và lớp đất mặt xuống đáy hố, vun cao hơn mặt đất 15 - 20 cm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status