ÐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ÐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM VĂN LUÂN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA CHẤT KÍCH THÍCH SINH TRƢỞNG
ĐẾN TÌNH HÌNH RA HOA VÀ ĐẬU QUẢ CỦA CAM SÀNH
TẠI HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa
Khóa học
: Chính quy
: Trồng trọt
: Nông học
: 2011 - 2015
THÁI NGUYÊN - 2015
ÐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ÐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM VĂN LUÂN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA CHẤT KÍCH THÍCH SINH TRƢỞNG
ĐẾN TÌNH HÌNH RA HOA VÀ ĐẬU QUẢ CỦA CAM SÀNH
năm 2015
Ngƣời viêt cam đoan
( Ký, ghi rõ họ tên)
trước hội đồng khoa học!
( Ký, ghi rõ họ tên)
PGS.TS. Đào Thanh Vân
Phạm Văn Luân
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
đã sửa chữa sai xót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu!
( Ký, ghi rõ họ tên)
ii
LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối trong chương trình học tập và thực
hành của sinh viên trong các Trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên
nghiệp.Trong thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp chuyên ngành trồng trọt,
em đã được vận dụng lý thuyết vào thực tiễn sản xuất, trực tiếp thực hiện các
thao tác kỹ thuật trên cây cam sành tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.
Để hoàn thành được đề tài tốt nghiệp, trước tiên em xin được bày tỏ
lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Nông
học trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và em xin chân thành cảm ơn
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến tình hình sâu
hại cam sành tại huyện Hàm Yên, Tuyên Quang .......................... 47
Bảng 4.8. Ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến tình hình bệnh hại
cam sành tại huyện Hàm Yên, Tuyên Quang ................................ 48
iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CT
: Công thức
DT
: Diện tích
ĐC
: Đối chứng
ĐV
: Đơn vị
FAO : Food and Agricultural Organization of the Unitet National
SL
: Sản lượng
cây ăn quả có múi ............................................................................................ 11
2.1.5. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt trên thế giới .......................... 15
2.1.6. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt tại Việt Nam ......................... 18
2.2. Tình hình nghiên cứu cây cam quýt trên thế giới .................................... 21
2.2.1. Nghiên cứu về tuyển chọn giống, vật liệu gen và cây ưu tú đầu dòng . 21
vi
2.2.2. Các nghiên cứu về sử dụng phân bón lá và các chất điều hòa sinh
trưởng trên cam quýt ...................................................................................... 23
2.3. Tình hình nghiên cứu cam quýt ở Việt Nam ........................................... 26
2.3.1. Nghiên cứu về tuyển chọn giống .......................................................... 26
2.3.2. Các nghiên cứu về sử dụng phân bón lá và các chất điều hòa sinh
trưởng trên cam quýt ...................................................................................... 29
Phần 3: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................... 31
3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu ............................................................. 31
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 31
3.1.2. Vật liệu nghiên cứu ............................................................................... 31
3.1.3. Địa điểm nghiên cứu ............................................................................. 31
3.2. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 31
3.3. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 31
3.3.1. Điều tra đánh giá tình hình sản xuất cam sành tại huyện Hàm Yên, tỉnh
Tuyên Quang ................................................................................................... 31
3.3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến tình hình ra
hoa và đậu quả của cam sành Hàm Yên, Tuyên Quang.................................. 31
3.4. Phương pháp tổng hợp và xử lý kết quả nghiên cứu ............................... 34
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................. 35
4.1. Tình hình sản xuất phát triển cam sành tại Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang ....... 35
4.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội huyện Hàm Yên ............................. 35
dại thuộc họ cam quýt. Hiện nay cam quýt trở thành một trong những cây ăn
quả chủ yếu ở Việt Nam và được trồng từ Bắc vào Nam với bộ giống gồm
khoảng gần 200 giống khác nhau (Viện nghiên cứu Rau Quả Hà Nội (2000).
Việt Nam tuy là nước trồng nhiều cam quýt và có lịch sử trồng trọt từ
lâu, nhưng năng suất, chất lượng và các sản phẩm của cam quýt hiện nay còn
ở mức khiêm tốn, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển cũng như tiến trình
hội nhập khu vực và quốc tế. Nguyên nhân, do Việt Nam còn thiếu bộ giống
tốt, công tác giống chưa thực sự được chú trọng và quản lý tốt, điều kiện kinh
tế còn hạn hẹp, trình độ dân trí còn thấp, tập quán sản xuất còn mang nặng
tính quảng canh. Các địa phương còn thiếu đội ngũ cán bộ chuyên môn thực
sự có năng lực cũng như trình độ khoa học vv...
Vùng Trung du miền núi phía Bắc có nhiều lợi thế về đất đai, khí hậu
và nguồn gen phong phú cho phép phát triển tốt về cây ăn quả. Cam quýt, trên
thực tế đã là cây trồng phổ biến, nhiều nơi trồng thành những vùng tập trung
từ vài trăm đến vài nghìn hec ta như ở Bắc Sơn (Lạng Sơn), Bắc Quang, Vị
Xuyên (Hà Giang), Hàm Yên, Chiêm Hoá (Tuyên Quang), Bạch Thông (Bắc
Kạn) vv... Trong tập đoàn giống cam quýt ở vùng Trung du - miền núi phía
Bắc, cam sành (Citrus nobilis Lour) là một giống lai giữa cam và quýt
(C.reticulata x C.sinensis) (Đỗ Đình Cả (1995)) được người dân trồng trọt lâu
năm và hiện nay đang có diện tích trồng trọt lớn nhất so với các giống khác.
2
Huyện Hàm Yên (tỉnh Tuyên Quang), nổi tiếng có vùng cam sành rộng
lớn, thương hiệu cam sành Hàm Yên chính thức xuất hiện và được công bố
rộng rãi tháng 12/2007. Cây cam hiện đang chiếm vị trí quan trọng trong việc
xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân nơi đây.
Tuy nhiên, vùng cam sành Hàm Yên, Tuyên Quang những năm gần đây
có nhiều diễn biến cần quan tâm, đó là: diện tích cam tăng, chủ yếu là sử dụng
canh tăng năng suất, chất lượng cũng như nâng cao giá trị kinh tế cho cây cam
Sành trồng tại huyện Hàm Yên.
4
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Những nét chung về tài nguyên cây ăn quả có múi
2.1.1. Nguồn gốc cây ăn quả có múi
Nobumasa Nito (2004) [30], đã viết “Nguồn gốc cây có múi được ghi
nhận là ở Đông Nam Á bao gồm cả Trung Quốc, Đông Bắc Ấn Độ, trong đó
có cả vùng nam Nepal, nơi có những thung lũng và sườn đồi được bảo vệ
khỏi những cơn gió lạnh khô và mưa vào mùa hè. Tuy nhiên sự thuần hoá và
trồng trọt cây ăn quả có múi lại bắt đầu ở Trung Quốc. Những ghi chép cổ ở
Trung Quốc cho thấy trồng trọt cây ăn quả có múi đã có ở đó hơn 4.000 năm
trước”. Nhiều nhà nghiên cứu trước đó cho rằng cây cam quýt phần lớn có
nguồn gốc ở miền Nam châu Á, trải dài từ Ấn Độ qua dãy núi Hymalaya,
Trung Quốc xuống vùng quần đảo Philippine, Malaysia, miền Nam Indonesia
hoặc kéo đến lục địa Úc. (FAO, 1998) [27]. Tuy nhiên, Swingle W.T (1967)
[34] còn có nhận định khác là nguồn gốc cây ăn quả có múi phân bố từ Đông
Bắc Ấn Độ, trung tâm Trung Quốc, miền Bắc và Trung Úc, qua New
Caledonia. Một số tác giả cho rằng nguồn gốc quýt Kinh (citrus nobilis
Osbeck) và quất là ở miền Nam Việt Nam, xứ Đông Dương [19].
Tóm lại, tuy ý kiến của các tác giả có khác nhau song về cơ bản đều
thống nhất là các loại cây ăn quả có múi trồng trên thế giới hiện nay đều có
nguồn gốc từ vùng Đông Nam châu Á, bao gồm cả Nam Trung Quốc, Đông
Bắc Ấn Độ và Miến Điện. Nằm trong khu vực này, Việt Nam cũng là nơi phát
sinh của một số loài và giống cam, quýt tồn tại cho đến nay.
2.1.2. Phân loại cây ăn quả có múi
Citrus sinensis (cam ngọt – orange), Citrus paradisi (bưởi chùm –
grapefruit), Citrus aurantium (cam chua – orange), Citrus jambhiri (chanh
sần – rough lemon).
6
- Citrus maxima và Citrus reticulata là những loài thuần thật sự được
thương mại của chi Citrus, còn cam ngọt là dạng cây lai giữa quýt và bưởi,
bưởi chùm là dạng cây lai của cam ngọt và bưởi, chanh ta là dạng cây lai của
cam và chanh sần hay bưởi, còn chấp là dạng cây lai của chanh, bưởi và
Microcitrus (Nobumasa Nito, 2004) [30].
- Nhóm quýt Citrus reticulata tập hợp khá nhiều loài và dạng lai của các
vật liệu trong và giữa loài, có một số đặc điểm riêng biệt. Đặc điểm phân biệt
rõ nhất của các giống thuần, giống lai thuộc nhóm quýt là rất dễ bóc vỏ, vỏ
không có vỏ xốp trắng. Nhóm quýt được chia thành 5 phân nhóm:
- Quýt Địa Trung Hải (C.deliciosa Tan)
- Quýt Satsuma (C.unshiu Marc)
- Quýt Kinh (C.nobolis Lour)
- Quýt Đại trà (C.reticulata Blanco)
- Quýt quả nhỏ.
Ngày nay có hàng loạt các thể đột biến của quýt Satsuma, một số có
nguồn gốc phôi tâm đã được phát hiện ở Nhật Bản và Tây Ban Nha. Giống
quýt được trồng rộng rãi nhất thế giới là giống Ponkan, đặc biệt ở Ấn Độ,
Trung Quốc, Philippin và Brasil (Nobumasa Nito, 2004) [30].
Theo Võ Văn Chi (1997) [3], ở Việt Nam chi Citrus có 11 loài. Theo
Phạm Văn Hộ (1999) [10] chi Citrus ở Việt Nam có 25 loài cả trồng trọt và
hoang dại (có 4 loài có tên quýt), phần lớn là cây thích nghi rộng, được trồng
rộng rãi ở cả 3 miền Bắc – Trung – Nam từ vùng núi cao Sa Pa, Đà Lạt tới
các vùng thấp đồng bằng Bắc Bộ, bao gồm các tỉnh: Nam Định, Thái Bình,
rộng, có loại tán thưa, phân cành hướng ngọn hoặc phân cành ngang; tán hình
cầu, hình tròn, hình tháp hoặc hình chổi xể. Cành có thể có gai hoặc không có
gai, cũng có thể có gai khi còn non và rụng gai khi cây lớn và già. Một số
giống, loài không có gai nhưng khi nhân giống bằng hạt lại xuất hiện gai trên
thân và cành, nhưng ở cấp cành càng cao thì gai càng ít và càng ngắn. (Hoàng
Ngọc Thuận, 2002) [17]. Trên cây cam quýt mọc 2 loại cành chủ yếu: cành
dinh dưỡng và cành mang quả. Cành dinh dưỡng mang cành hoa quả là cành
mẹ. Cành mang hoa quả được chia thành các nhóm sau:
8
+ Nhóm hoa đơn: Thường chỉ ra 1 hoa ở đầu cành. Cành đơn có nhiều lá
và 1 hoa là những cành có khả năng đậu quả cao. Những cây được chăm
bón đầy đủ thường có nhiều loại cành này. Cành quả không có lá, thường
có nhiều cành quả mọc trên 1 cành mẹ, cuống hoa ngắn do vậy hay lẫn
với nhóm hoa chùm.
+ Nhóm hoa chùm: Trên cành, ở mỗi nách lá có 1 hoa và trên ngọn cành
có 1 hoa. Thông thường có từ 3 – 7 hoa trên 1 cành. Mỗi cành đậu 1 – 2 quả.
Có một số cành hoa không có lá. Mỗi chùm có 4 – 5 hoa. Loại này có tỷ lệ
đậu quả thấp. Có thể có những cành hoa chùm, trên ngọn có 1 hoa trong đó có
một số lá phát triển không đầy đủ, chỉ ở dạng hình vẩy. Loại này có tỷ lệ đậu
quả khá hơn loại trên. Hoa ở trên nở trước, hoa ở dưới nở sau. Đa số các
giống quýt chỉ có các cành đơn vì vậy tỷ lệ đậu quả của quýt thường cao hơn
cam. Năng suất của đa số các giống quýt thường cao hơn so với cam.
- Lá:
Lá gồm 3 phần chính: Phiến lá, eo lá và cuống lá. Lá thường có 2 mặt
(mặt lá và lưng lá), mặt lá có mô dậu, chứa nhiều nhu mô diệp lục làm nhiệm
vụ quang hợp. Độ dày của mô diệp lục thay đổi tuỳ theo giống. Lưng lá có mô
xốp, nhiều khí khổng tập trung, phân bố ở mặt lưng lá (mật độ khí khổng phụ
thì xuất hiện hoa.
- Quả và hạt:
Quả cam thường có dạng hình cầu, hình cầu hơi dẹt, quả dẹt hoặc hơi
thuôn, còn màu sắc thịt quả được quyết định bởi tỷ lệ 2 sắc tố
caroten và
Sabtophil. Quả có từ 8 – 14 múi, có thể có 0 – 20 hạt hoặc nhiều hơn. Một số
đặc điểm về hình thái quả như dạng quả, kích thước quả, trọng lượng quả,
màu sắc thịt quả phụ thuộc cơ bản vào đặc trưng của giống.
Quả cam, quýt gồm 3 phần cơ bản: vỏ quả, thịt quả và hạt.
Vỏ quả: Gồm 2 lớp: lớp vỏ ngoài (Ngoại quả bì) và lớp vỏ giữa (Trung
quả bì). Lớp vỏ ngoài bao gồm lớp biểu bì trên và biểu bì dưới. Lớp biểu bì có
10
chức năng làm giảm tốc độ bốc hơi nước của quả; Lớp vỏ giữa gồm 2 lớp đó
là lớp sắc tố vỏ quả: gồm có nhiều túi tinh dầu và lớp trắng vỏ quả, lớp trắng
này dày hay mỏng chủ yếu do đặc tính giống. Màu vỏ quả thay đổi tuỳ theo
giống, loài cùng các điều kiện sinh thái.
Thịt quả: Do nội bì phát triển thành, gồm các múi, giữa các múi có vách
ngăn, nhờ có vách ngăn ta phân biệt được trung quả bì và nội quả bì. Phần
chủ yếu của thịt quả là tép quả (tép quả được bao bọc bởi múi quả) màu sắc
tép quả phụ thuộc giống.
Hạt: Kích thước, dạng hạt và số lượng hạt trên quả thay đổi tuỳ theo
giống. Trong chi Citrus hạt quất có kích thước nhỏ nhất, sau đó đến hạt quýt,
cam, chanh và to nhất là hạt bưởi. Nhìn chung, hạt cam, quýt là hạt đa phôi,
còn hạt bưởi đơn phôi; nhũ phôi hạt cam quýt thường màu xanh nhạt, còn nhũ
phôi hạt bưởi màu trắng lục. Trong hạt cam quýt có 1 phôi hữu tính do thụ
Cam quýt được trồng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới do có phổ thích
nghi rộng, tuy nhiên năng suất cao và chất lượng cam quýt ngon, mẫu mã quả
đẹp khi được trồng ở vùng á nhiệt đới [5], [8], [9].
Cam quýt là cây kém chịu hạn và không chịu được ngập úng do có bộ rễ
cộng sinh với nấm. Vì vậy đất trồng cam quýt cần đủ ẩm, thoáng khí, mực
nước ngầm sâu dưới 1m là những điều kiện tốt cho sự sinh trưởng và phát
triển của bộ rễ cam quýt. Về mặt dinh dưỡng, bên cạnh các nguyên tố đa
lượng như N, P, K cam quýt còn cần các nguyên tố trung lượng, vi lượng như:
Ca, S, Zn, B, Mo, Mn, Mg, Fe, Cu v.v... Nếu thiếu hụt một trong các nguyên
tố dinh dưỡng trên đều làm cho cam quýt sinh trưởng và phát triển kém, khả
năng chống chịu với các điều kiện bất lợi của ngoại cảnh kém, làm giảm năng
suất và chất lượng sản phẩm [ 30].
- Nhiệt độ
Theo Trần Thế Tục (1980) và nhiều tác giả khác cho rằng cây cam, quýt,
chanh, bưởi sinh trưởng được trong phạm vi nhiệt độ từ 12 - 39oC, nhiệt độ
12
thích hợp nhất từ 23-27oC. Tại nhiệt độ thấp -5oC có một số giống có thể chịu
được trong thời gian rất ngắn. Khi nhiệt độ cao 400C kéo dài trong thời gian dài
trong nhiều ngày cam quýt sẽ ngừng sinh trưởng, biểu hiện bên ngoài là lá rụng,
cành khô héo. Tuy nhiên cũng có giống chỉ bị hại khi nhiệt độ không khí lên đến
50 - 570C [4], [9].
Nhìn chung nhiệt độ đất và nhiệt độ không khí ảnh hưởng đến toàn bộ
hoạt động của cam quýt như: Sự phát lộc, quá trình quang hợp, sự hoạt động
của bộ rễ, sự lớn lên của quả.v.v...Bằng những nghiên cứu của mình Vũ Công
Hậu (1960) cho rằng rễ cam quýt hoạt động tốt khi nhiệt độ tăng dần từ 9 23oC. Khi nhiệt độ tới 26oC cây hút đạm mạnh. Ngoài ra sự chênh lệch nhiệt
độ giữa ngày và đêm lớn làm quả phát triển mạnh, đồng thời có ảnh hưởng
đến khả năng tích luỹ, vận chuyển đường bột và axit trong cây vào quả. Tuy
quýt rất sợ úng đất sẽ bị thiếu oxy, bộ rễ hoạt động sẽ kém vì vậy sẽ làm cho
cây rụng lá, hoa, quả [17], [30].
Cam quýt yêu cầu độ ẩm không khí 75% và độ ẩm đất 60%, độ ẩm này
không những đảm bảo cho cây sinh trưởng phát triển tốt mà còn cho năng
suất cao, phẩm chất quả tốt, mẫu mã quả đẹp, quả to, vỏ mỏng. Nếu độ ẩm
không khí quá cao hoặc quá thấp đều có hại cho cam quýt, ẩm độ không khí
quá cao và kèm theo nắng to vào tháng 8, tháng 9 hàng năm thường gây hiện
tượng rám nắng và nứt quả [14], [20].
Theo Hoàng Ngọc Thuận (2002), lượng mưa thích hợp cho các vùng
trồng cam quýt trên dưới 2.000mm, Cam cần 1.200 - 1.500, quýt cần nhiều
hơn từ 1.500 - 2.000, chanh cần ít nước hơn quýt, lượng nước trong đất có
ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt động của bộ rễ, lượng nước được coi là đủ khi nước
tự do bằng 1% và độ ẩm đất bằng 60% độ ẩm bão hòa đồng ruộng [15].
Sự thiếu nước có liên quan đến sinh trưởng và độ héo của lá, có thể gây
rụng lá. Khi ẩm độ đất thiếu, sinh trưởng chồi chậm, lá cũng nhỏ đi. Hạn hán
kéo dài có thể làm cành khô, nhánh nhỏ bị khô và chết. Các nghiên cứu cũng
cho thấy rằng cây ăn quả có múi rất mẫn cảm với sự thiếu nước lúc nở hoa,
trong giai đoạn rụng quả và tăng kích thước quả.
14
Nhìn chung lượng mưa ở các vùng sản xuất nông nghiệp Việt Nam đủ
thoả mãn cho nhu cầu sinh trưởng, phát triển của cây cam quýt (1.400 mm –
2.500 mm), nhưng lượng mưa phân bố không đều giữa các tháng trong năm,
do đó ảnh hưởng không tốt đến năng suất, phẩm chất quả. Ví dụ ở huyện Bắc
Quang có tổng lượng mưa 3.000 mm – 3.500 mm/năm, cá biệt có năm lên đến
5.000 mm/năm và tập trung nhiều vào các tháng mùa hè. Trong khi ở Nghệ
Tĩnh thời kỳ quả chín là thời kỳ mưa bão, lũ lụt, thời kỳ quả đang phát triển
mạnh thường có gió tây nóng hoạt động, nên vừa hạn đất vừa hạn không khí.
vậy, phần lớn đất đai vùng đồi núi phía Bắc, phía Tây Nghệ An, Hà Tĩnh,
miền Đông Nam Bộ đều thoả mãn các yêu cầu của cây cam quýt [15].
Cây cam quýt có thể trồng được trên đất có độ pH từ 4 - 8 nhưng thích
hợp nhất là từ 5,5 - 6, điện thế oxy hóa khử Eh > 300mV. Ở độ pH này các
nguyên tố khoáng cần thiết cho cây cam quýt phần lớn ở dạng dễ tiêu, nếu là
đất chua nhất thiết phải bón vôi để nâng cao độ pH cho đất. Đất trồng cam quýt
cần có độ thoáng cao, nồng độ oxy phải lớn hơn 4% cây mới sinh trưởng và
phát triển bình thường, nếu hàm lượng oxy nhỏ hơn 2% cây sẽ ngừng sinh
trưởng. Nếu chúng ta đánh giá mức độ thích nghi của đất đối với cam quýt thì
đất phù sa cổ là tốt nhất, sau đó đến đất phù sa mới bồi hàng năm, đất Bazan,
đất dốc tụ và đất đá phiến sét. Không nên trồng cam quýt trên đất thịt nặng, đất
có tầng canh tác mỏng, đất đá ong và đá lộ đầu hoặc những nơi có mực nước
ngầm cao mà không thể thoát được nước [17], [26].
Tóm lại, cam quýt có thể sinh trưởng, phát triển tốt ở khắp các miền sinh
thái ở Việt Nam, nhưng lý tưởng nhất là khí hậu các tỉnh miền núi phía Bắc
của Việt Nam [9], [19].
2.1.5. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt trên thế giới
Hiện nay cam quýt được phát triển khắp các lục địa, sự phát triển của các
vùng cam quýt trên thế giới có sự tương quan với các cuộc cách mạng công
nghiệp ở các vùng. Vùng nào sớm phát triển công nghiệp thì nghề cam quýt
cũng sớm phát triển và ngược lại.
16
Năm 2009 diện tích cam quýt của toàn thế giới là 4003,4 nghìn ha, năng
suất trung bình đạt 17,0 tấn/ha, sản lượng đạt 67995,3 nghìn tấn. Đến năm
2013, các chỉ tiêu đều tăng và đạt: diện tích là 4080,0 nghìn ha, năng suất
17,5 tấn/ha và sản lượng là 71445,4 nghìn tấn.
So sánh về diện tích của 5 châu lục năm 2013, châu Á có tổng diện tích
giới
Dƣơng
2009
386,8
1735,6
1546,2
314,5
20,2
4003,4
Diện tích 2010
393,9
1738,2
1656,8
313,9
22,2
23,3
3961,4
2013
440,3
1608,3
1712,9
294,3
24,2
4080,0
2009
17,6
19,9
13,0
19,5
17,8
13,1
17,8
(tấn/ha)
2012
18,9
21,1
12,7
19,8
17,3
17,4
2013
19,0
21,2
13,1
21,0
7795,3
36371,2
20337,4
6434,6
302,7 71241,2
2012
8241,0
34370,8
20053,1
5750,3
402,3 68817,5
2013
8355,9
34101,2
22408,5