ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÙI VĂN QUYẾN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA XỬ LÝ CỦ GIỐNG VÀ MỘT SỐ LOẠI
PHÂN BÓN LÁ, CHẤT KÍCH THÍCH SINH TRƢỞNG ĐẾN GIỐNG HOA
LILY LAKE CAREY TẠI THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính Quy
Chuyên ngành : Hoa Viên cây cảnh
Khoa : Nông học
Khóa học : 2011 – 2015
Thái Nguyên, năm 2015 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn. Các thông tin,
tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc.
i
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn, PSG. TS. Đào Thanh Vân-Phó Trưởng
Phòng đào tạo sau đại học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận
tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình triển khai thực hiện đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo Trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên, đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập tại trường.
Một lần nữa tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới tất cả những giúp đỡ quý
báu đó.
TÁC GIẢ
BÙI VĂN QUYẾN
sinh trưởng phát triến của hoa Lily Lake Carey. 45
Bảng 4.15. Ảnh hưởng của 1 số loại phân bón lá, chất kích thích sinh trưởng
đến năng suất hoa Lily Lake Carey. 47
Bảng 4.16 : Ảnh hưởng của 1 số loại phân bón lá, chất kích thích sinh trưởng
đến chỉ tiêu chất lượng hoa 48
iii
Bảng 4.17. Thành phần tỷ lệ sâu bệnh hại 49
Bảng 4.18. Ảnh hưởng của 1 số loại phân bón lá,chất kích thích sinh trưởng
đến độ bền hoa 50
Bảng 4.19. Hiệu quả kinh tế của các thí nghiệm khi sử dụng các chất kích
thích sinh trưởng và phân bón lá khác nhau 51
iv
MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu đề tài 2
1.2.1. Yêu cầu của đề tài. 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
1.3.2.Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 2
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1. Cơ sở khoa học của việc xử lí lạnh 3
2.1.2. Cơ sở khoa học của việc sử dụng chất điều tiết sinh trưởng 3
2.1.3. Cơ sở khoa học của việc sử dụng phương pháp dinh dưỡng qua lá 7
3.4.3. Theo dõi tình hình sâu bệnh hại 24
3.4.4. Hiệu quả kinh tế 25
3.5. Phương pháp xử lý số liệu 25
3.6. Kỹ thuật trồng và chăm sóc 25
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
4.1.Nghiên cứu ảnh hưởng của xử lý củ giống đến giống hoa lily Lake Carey
tại Thái Nguyên. 26
4.1.1. Tỷ lệ mọc mầm của hoa lily Lake Carey 26
4.1.2. Ảnh hưởng của xử lý củ giống đến khả năng sinh trưởng phát triển của
giống hoa lily Lake Carey 27
4.1.3. Ảnh hưởng của xử lý củ giống đến động thái ra lá của giống hoa lily
Lake Carey 29
vi
4.1.4. Ảnh hưởng của xử lý củ giống đến các giai đoạn sinh trưởng và phát
triến của hoa Lily Lake Carey. 31
4.1.5. Ảnh hưởng của xử lý củ giống đến năng suất hoa Lily Lake Carey. 34
4.1.6. Ảnh hưởng của xử lý củ giống đến chỉ tiêu chất lượng hoa. 35
4.1.7. Thành phần tỷ lệ sâu bệnh hại trên hoa 36
4.1.8. Ảnh hưởng của 1 số loại phân bón lá, chất thích sinh trưởng đến độ bền
hoa Lily của các công thức thí nghiệm. 37
4.1.9. Hiệu quả kinh tế 39
4.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của 1 số loại phân bón lá, chất kích thích sinh
trưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của giống hoa lily 40
4.2.1. Ảnh hưởng của 1 số loại phân bón lá, chất kích thích sinh trưởng đến
khả năng sinh trưởng phát triển của giống hoa lily Lake Carey. 40
4.2.2. Ảnh hưởng 1 số loại phân bón lá, chất kích thích sinh trưởng đến các
giai đoạn sinh trưởng và phát triến của hoa Lily Lake Carey. 43
4.2.3. Ảnh hưởng của 1 số loại phân bón lá,chất kích thích sinh trưởng đến
trồng hoa cho thu nhập 10 –15 triệu/1 sào bắc bộ/ năm. Các loại hoa được trồng
phổ biến như : Hoa hồng, hoa Cúc, hoa Lay ơn, Đồngtiền, Phong Lan, Lily là
loại hoa đẹp, có hình dáng, màu sắc và hương thơm quyến rũmới được du nhập
và trồng tại nước ta.
Hoa lily là một loài hoa có giá trị kinh tế, thẩm mĩ cao. Hoa lily Lake
Carey nói riêng là một giống hoa mới trên thị trường hiện nay được rất nhiều
người ưu chuộng đặc biệt là thị trường Thái Nguyên vì hoa có màu sắc đẹp,
hương thơm dịu, hoa to.
2
Vì là một giống hoa lily mới nên chưa có nhiều công trình nghiên cứu về
hoa lily Lake Carey, bên cạnh đó việc tìm hiểu ảnh hưởng của phân bón lá, chất
kích thích sinh trưởng đến sinh trưởng phát triển năng suất hoa Lily Lake Carey
cũng chưa được quan tâm nghiên cứu.
Xuất phát từ những nhu cầu thực tế trên, đồng thời được sự nhất trí của
nhà trường tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của xử lý củ
giống và một số loại phân bón lá, chất kích thích sinh trưởng đến giống hoa lily
Lake Carey tại Thái Nguyên”.
1.2. Mục tiêu đề tài
- Nghiên cứu ảnh hưởng của việc xử lý lạnh đến khả năng sinh trưởng
phát triển của giống hoa lily Lake Carey tại Thái Nguyên.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của 1 số loại phân bón lá và chất kích thích sinh
trưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của giống hoa lily Lake Carey tại
Thái Nguyên
1.2.1. Yêu cầu của đề tài.
Đạt được các mục tiêu đề ra của đề tài, tuân thủ các quy định chung khi
thực hiện một đề tài.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
sinh trưởng (KTST) và nhóm ức chế sinh trưởng. Sự cân bằng này xá định
trong suốt quá trình sinh trưởng phát triển của cây
Trong quá trình phát triển cá thể từ khi cây sinh ra cho đến khi cây chết
thì sự cân bằng trong chúng diễn ra theo quy luật ảnh hưởng các kích thích
giảm dần và ảnh hưởng các ức chế tăng dần
4
+ Sự cân bằng riêng
Trong cây có vô số các quá trình phát sinh hình thái và hình thành cơ
quan khác nhau như rễ, thân, lá, hoa, quả, sự nảy mầm, sự chín… đều được
điều chỉnh bởi sự cân bằng của hai hay một vài hoocmon đặc hiệu.
- Tái sinh rễ hoặc chồi được điều chỉnh bằng tỷ lệ giữa Auxin và
Xytokinin trong mô. Nếu tỷ lệ này nghiêng về Auxin thì rễ được hình thành
nhanh hơn và ngược lại
- Hiện tượng thế ngọn cũng được điều chỉnh bằng tỷ lệ
Auxin/Xytokinin. Auxin làm tăng ưu thế ngọn còn Xytokinin lại làm giảm ưu
thế ngọn…
Tại bất cứ một thời điểm nào trong các quá trình đó cũng đều xác định
được một sự cân bằng đặc hiệu giữa các hoocmon đó. Con người có thể điều
chỉnh các quan hệ cân bằng đó theo hướng có lợi cho con người ( Hoàng
Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch, 1994)[4].
2.1.2.2. Vai trò sinh lý của các chất điều tiết sinh trưởng
* Vai trò sinh lý của Auxin:
Auxin là một chất kích thích sinh trưởng, kích thích sự giãn nở của tế
bào theo chiều ngang, điều chỉnh tính hướng của cây: Với lá – hướng quang,
với rễ - hướng địa. Auxin điều chỉnh hiện tượng ưu thế ngọn, ngoài ra còn
kích thích sự hình thành rễ đặc biệt là rễ bất định trên cành chiết, giâm và mô
nuôi cấy, đồng thời kìm hãm sự rụng lá, hoa, quả ( Hoàng Minh Tuấn-
Nguyễn quang Thạch, 1993)[3]
6
- Ở nồng độ rất thấp các chất điều tiết sinh trưởng đã phát huy tác dụng
đối với cây trồng nói chung và với hoa nói riêng nên dư lượng của nó trong
đất, nước là không đáng kể.
- Tác dụng cảu chất điều tiết sinh trưởng đối với hoa nhanh, rỗ rệt.
- Các chất điều tiết sinh trưởng có thể làm thay đổi một số đặc điểm thực
vật học của hoa như: Thay đổi chiều cao cây, mùa sắc lá, thời gian sinh
trưởng, sự ra hoa, chất lượng và tuổi thọ của hoa. Những chất có tác dụng
kích thích sinh trưởng của cây gọi là chất kích thích sinh trưởng như: Auxin,
Gibberellin, Xytokinin Những chất có tác dụng kìm hãm các quá trình sinh
trưởng của cây gọi là chất kìm hãm sinh trưởng như: Axit abxixic, Etylen…
2.1.2.4. Nguyên tắc sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng
- Việc sử dụng các chât điều tiết sinh trưởng thực vật trong nghề trồng
hoa cũng tuân theo các nguyên tắc chung như khi sử dụng chúng với các cây
trồng khác trong nông nghiệp là:
+ Nồng độ của các chất điều tiết sinh trưởng: Thông thường, ở nhiệt độ
thấp chúng có tác dụng như kích thích xúc tiến nảy mầm, tăng chiều cao, kích
thích nảy mầm, tăng khôi lượng… Ở nồng độ cao (hàng ngàn ppm) chúng ức
chế sinh trưởng ngọn hay toàn cây, gây rụng lá, xúc tiến ra hoa…
+ Chất điều tiết sinh trưởng thực vật không phải là chất dinh dưỡng nên
không thể thay thế cho phân bón. Vì vậy muốn đạt hiệu quả cao khi sử dụng
chất điều tiết sinh trưởng phải phối hợp với phân bón, đặc biệt các trường hợp
mốn làm tăng chiều cao và sinh khối của hoa
+ Mặc dù việc sử dụng chất điều tiết sinh trưởng, thực vật với nghề
trồng hoa có nhiều lợi nhuận nhưng ảnh hưởng tiêu cực của chúng đối với đất
đai, nước và sức khỏe con người không phải là không có, nhất là khi sử dụng
nhiều và thường xuyên các chất điều tiết sinh trưởng. Do đó phải sử dụng
đúng nồng độ, thời điểm và phương pháp ( Nguyễn Xuân Linh, 2002)[2]
- Tầng đất nghèo dinh dưỡng, khả năng dinh dưỡng của cây bị hạn chế
- Đất bị khô hạn không thể dinh dưỡng vào đất
- Dinh dưỡng qua l á là phương pháp rất phổ biến với các nguyên tố
trung lượng như: Mg, S và vi lượng được yêu cầu với lượng nhỏ, phương
pháp dinh dưỡng qua lá hoàn toàn thỏa mãn nhu cầu của cây khi được sử
dụng 2 – 3 lần vào những thời điểm thích hợp.
- Hiệu lực nhanh chỉ sau vài phát cây có thể hấp thụ ngay do vậy rất có
hiệu quả để điều chỉnh sự mất cân bằng dinh dưỡng( ngay cả đối với nguyên
tố đa lượng như: Đạm, Kali) của cây khi chuyển từ gia đoạn từ sinh trưởng
sinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực. Lúc này các chất dinh dưỡng được tập
8
chung vàohình thành cơ quan sinh sản làm giảm sinh trưởng của bộ rễ, giảm
hút khoáng dẫn đến mất cân bằng, nên việc bổ sung qua lá sẽ khắc phục được
tình trạng trên.
- Lúc này các chất dinh dưỡng được tập trung vào hình thành cơ quan
sinh sản làm giảm sinh trưởng của bộ rễ, giảm hút khoáng dẫn đến mất cân
bằng nước, nên việc bổ sung qua lá sẽ khắc phục được tình trạng trên
- Cây sử dụng phân phun lên lá nhanh chóng nên hiệu lục sử dụng cao,
có thể sử dụng 90% (Tlustos 2001)[8], so với 40– 50% với đạm khi bón vào
đất do hạn chế ô nhiễm đất và nước ngầm
- Phương pháp dinh dưỡng qua lá còn rất hiệu quả khi trong đất có hiện
tượng đối kháng ion giữa K
+
và Mg
2+,
khi đódinh dưỡng vào đất không có
hiệu quả thậm chí làm cho cây chết do mất cân bằng
- Bón Mg và các nguyên tố vi lượng làm tăng các hàm lượng nguyên tố
sinh sản và kết thúc chu kỳ sống của mình.
Về đại cương các chất điều hòa sinh trưởng thực vật được chia thành
hai nhóm có tác dụng đối kháng về sinh lý: Các chất kích thích sinh trưởng và
các chất ức chế sinh trưởng.
Các chất điểu chỉnh sinh trưởng ở nồng độ sinh lý có tác dụng kích
thích các quá trình sinh trưởng của cây gọi là các chất kích thích sinh trưởng.
Thuộc các chất kích thích sinh trưởng bao gồm Auxin, Xytokinin,
Gibberellin.
Các chất điều chỉnh sinh trưởng gây tác dụng ức chế lên quá trình
sinh trưởng của cây gọi là chất ức chế sinh trưởng. Chúng bao gồm các
chất Axit abxixic, Etylen, các chất Phenol, các chất làm chậm sinh trưởng,
các chất diệt cỏ…
10
2.1.3.2. Một số ứng dụng chất kích thích sinh trưởng trong sản xuất hoa
* Xúc tiến sự nảy mầm của hạt giống và củ giống :
Sự ngủ nghỉ của hạt và của giống được quyết định cân bằng ABA/GA
3
.
Do đó, có thể thay đổi cân bằng đó có lợi cho sự này mầm bằng các giảm nhẹ
ABA hoặc tăng GA
3
. Với nhiều hạt giống và củ giống hoa việc sử lý GA
3
2 –
5 ppm có tác dụng xúc tiến nảy mầm tốt ( cẩm chướng, Violet, lay ơn .
Lily…)
* Xúc tiến hình thành rễ bất định của cành chiết, cành giâm trong nhân
giống vô tính:
3
5 – 10 pp, vào đỉnh sinh trưởng để làm cho nhanh ra hoa.
Hoa Trà nếu được xử lý CCC có thể ra hoa sau 1 năm giâm cành.
Trong khi đó hoa Trà không được xử lý phải 3 – 4 năm sau mới có hoa.
Hoa Nhài có thể ra hoa sớm hơn nếu được xử lý CCC 1000 ppm
Xử lý hoa Lay ơn với GA
3
100 ppm trước khi trồng, sau đó định kỳ 30
ngày một lần phun GA
3
100 ppm cho hoa nở sớm hơn, bông dài, nhiều mỏ và
bền hơn. Lay ơn là một trong rất ít cây mà chiều cao của cây được kích thích
khi sử dụng CCC. Phun CCC nồng độ 8000 ppm ba lần. Lần thứ nhất xử lý
ngay sau khi mọc, lần thứ 2 sau 4 Tuần, lần thứ 3 cách 3 tuần sau lần thứ 2,
tức khoảng 25 ngày trước khi ra hoa. Kết quả là hoa tự kéo dài, số lượng hoa
trên một ngồng hoa nhiều hơn.
+ Điều khiển sinh trưởng của cây
Làm tăng chiều cao và sinh khối của toàn cây
GA
3
10 – 15 ppm làm tăng chiều dài cành hoa, do đó nâng cao được
chất lượng hoa cắt ở hầu hết các loài hoa
Ví dụ: NAA 500 ppm thúc đẩy sự phân nhánh của Nhài, Thược dược
NAA 200 ppm làm tắng năng suất hoa Nhài 20%
NAA 50 ppm làm nụ hoa láy ơn to, bông dài, nhiều bông hơn …
- Làm ngắn thân của một số loài hoa đặc biệt là hoa chậu CCC 0.25 –
1% có tác dụng ức chế chiều cao của một số hoa châu ( Hồng, Cẩm chướng,
Cúc, Lily ).
- Ức chế sự hình thành chồi bên ở hoa Cúc, hoa Cẩm chướng.
Để hoa nở lúc cần thiết, người ta sử dụng GA
với nơi khác. Hiên tượng thiếu Mg còn ảnh hưởng lớn đến các nguyên tố khác
cũng như sự hấp thu nước dẫn đến giảm hiệu lục của phân bón, giảm năng
suất, phẩm chất cây trồng. Việc cung cấp Mg bằng con đường phân bón lá là
cần thiết.
13
2.1.5. Đặc điểm của một số chất kích sinh trưởng và phân bón lá
- Atonik: Hợp chất nitr thơm… 1.8g/l là chất kích sinh trưởng, có thể
dùng ngâm, tưới, phun.
- GA
3
: Gibberellin
- Phân bón lá NPK Trung Quốc: (30-10-10)
Thành phần: NO
3
3.32%, NH
4
2.42%, Urea – N: 24.26%, P
2
O
5
: 10%,
K
2
O:10%, Mg:0.2%, B:0.09%, Cu: 0.02%, Fe :0.1%, Mn 0.05%, Mo0.002%,
Zn 0.002%, Co:0.0005%
- Phân bón lá Đầu trâu: 15%N, 30% P
2
O
1998
Năm 1999-
2001
1
Hà Lan
1200
4000
5000
2
Pháp
30
150
420
3
Canada và Mỹ
200
215
235
4
Nhật
370
350
360
5
Úc
50
350
400
6
Chi Lê
sản xuất thấp, hiệu quả kinh tế cao.
Trung Quốc là nước trồng hoa Lily sớm nhất, những nghiên cứu thấy
rằng từ đời Đường người ta đã trồng Lily để lấy củ ăn như một món ăn sang
trọng có lợi cho sức khoẻ (http://en.wikipedia.org)[56]. Hiện nay Trung Quốc
có 46 loài 18 biến chủng Lily, chiếm khoảng 50% tổng số loài trên thế giới
(Zhao.X, 1996)[51].
Từ đầu thập niên 1990 nghiên cứu sản xuất giống lai khác loài Lily đã
được tiến hành ở Hàn Quốc (Rhee, 2002)[42]. Hiện nay Hàn Quốc đang tập
trung nghiên cứu sản xuất giống sạch bệnh vi rút, nghiên cứu sản xuất kết hợp
quản lý dịch hại, khắc phục bệnh sinh lý để đưa vào trồng trọt.
Đài Loan là nước có công nghệ sản xuất hoa Lily cắt cành tiên tiến,
trình độ canh tác cao, diện tích trồng hoa Lily khá lớn: năm 2001 có 490ha
trồng Lily, giá trị xuất khẩu Lily cắt cành đạt 7,4 triệu USD.
Ngoài các nước kể trên còn có nhiều nước khác trên thế giới trồng
Lily, như: Mỹ, Đức, Pháp, Canada, Israel, Úc, Chi Lê, Mêhicô, Côlômbia,
NewZeland, Thái Lan, Singapore…
2.3. Tình hình sản xuất hoa Lily ở Việt Nam
2.3.1. Tình hình sản xuất hoa Lily ở Việt Nam
a. Tình hình sản xuất hoa Lily trong nước
So sánh với chủng loại hoa khác thì sản xuất hoa Lily ở nước ta chiếm
một tỷ lệ thấp về cả diện tích và số lượng.
Đà Lạt là nơi hiện đang có diện tích trồng hoa Lily nhiều nhất so với
các địa phương khác trong cả nước, chiếm khoảng 8% trong tổng diện tích
trồng hoa. Tình hình phát triển hoa Lily ở Đà Lạt khá thuận lợi, do có điều
kiện ngoại cảnh phù hợp cho sự phát triển của các giống hoa. Hơn nữa Đà Lạt
16
có kỹ thuật trồng hoa Lily cao hơn những vùng khác, nên hoa sinh trưởng
phát triển tốt, chất lượng hoa đồng đều. Lily là một trong những loại hoa đem