Bộ Công Thơng
Báo cáo
kết quả nghiên cứu đề tài
"Nghiên cứu sản xuất các chất kích thích
tăng trởng cây trồng từ nguồn nớc thải
công nghiệp giấy". Chủ nhiệm đề tài : Th.S Nguyễn Hoài Vân
7709
12/02/2010
Hà Nội 2009
BÀI TÓM TẮT
Ngay từ thời cổ đại, con người đã phát hiện và biết cách sử dụng
phân bón. Người Trung Quốc, Hy Lạp và La Mã cổ đại biết dùng phân
hữu cơ và tro đốt để bón cho cây trồng. Từ thế kỷ thứ 17, các nhà khoa
học đã có những thí nghiệm nghiên cứu về dinh dưỡng cây trồng và từ đó
phân bón mới thực sự phát triển có hệ thống và ngành công nghiệp phân
bón ra đời và phát triển.
Trong thành phần phân bón, ngoài các ch
ất dinh dưỡng như N
(Nitơ), P (Phospho), K (Kali), cây trồng luôn cần một lượng nhỏ các
nguyên tố vi lượng (Fe, Zn, Cu, Mn, B, Mo,…) để duy trì các quá trình
sinh trưởng và sinh thực (tạo củ, quả). Hiện nay, trên thế giới có nhiều
sản phẩm phân bón chứa các muối kim loại vi lượng lignosulfonat được
sử dụng rộng rãi và hiệu quả, ví dụ: Antichlorol LS-Fe Fertilizer,
Microchelacyt LS-3 của Balan; Brotomax
TM
(Cu, Mn, Zn) của hãng
Agrometodos SA, Tây Ban Nha,…Tại Việt Nam, nhiều sản phẩm cũng
đã khẳng định được vai trò và tác dụng của nó trên đồng ruộng: Phabela
(Công ty Cổ phần Thuốc sát trùng Việt Nam), Mekofa (Xí nghiệp phân
bón Cửu long), Poly Feed (Công ty Haifa Chemicals Ltd),…
Các muối vi lượng lignosulfonat có thể được điều chế trực tiếp từ
C.
- Tỷ lệ khối lượng Ca-lignosulfonat/ZnSO
4
.7H
2
O : 4/1.15
*Muối mangan:
- Thời gian phản ứng: 40 phút.
- Nhiệt độ thích hợp: 70
o
C.
- Tỷ lệ khối lượng Ca-lignosulfonat/MnSO
4
.H
2
O : 7/1.15
3. Đã khảo sát qui trình tổng hợp công thức phân bón lá với hàm
lượng các nguyên tố đa lượng (NPK) và các nguyên tố vi lượng cho trước.
4. Sản phẩm phân bón lá điều chế và gia công được khảo nghiệm hiệu
quả trên hai loại cây ngắn ngày là đậu xanh và dưa chuột. Kết quả thu
được cho thấy, phân bón chứa hỗn hợp các muối kim loại vi lượng
lignosulfonat cho hiệu quả cao tương đương hoặc hơn loại phân bón lá
PHABELA của Công ty Cổ ph
ần Thuốc sát trùng Việt Nam
1
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 4
2.1.3. Tổng hợ
p các muối kim loại vi lượng lignosulfonat 29
2.1.4. Điều chế phân bón lá chứa hỗn hợp nhiều kim loại vi lượng 29
2.1.4.1. Lựa chọn công thức 29
2.1.4.2. Điều chế phân bón lá 30
2.1.5. Khảo nghiệm sơ bộ hiệu quả của phân bón lá trên cây trồng 30
2
2.2. Vật liệu và thiết bị nghiên cứu 31
2.2.1. Nguyên liệu và hóa chất 31
2.2.2. Thiết bị và dụng cụ 31
2.3. Phương pháp phân tích sản phẩm 32
Phần 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
3.1. Tổng hợp muối kim loại vi lượng lignosulfonat 33
3.1.1. Điều chế muối sắt lignosulfonat 33
3.1.2. Điều chế muối kẽm lignosulfonat 37
3.1.3. Điều ch
ế muối mangan lignosulfonat 40
3.1.4. Kết luận về phương pháp tổng hợp muối kim loại vi lượng
lignosulfonat 43
3.1.5. Quy trình quy mô phòng thí nghiệm 43
3.1.6. Sơ đồ quy trình điều chế muối kim loại vi lượng lignosulfonat 44
3.1.7. Phân tích định tính và định lượng 45
3.2. Điều chế phân bón lá chứa hỗn hợp nhiều kim loại vi lượng 45
3.2.1. Điều chế hỗn hợp muối vi lượng lignosulfonat 45
3.2.2. Điề
u chế phân bón lá 45
3.3. Khảo nghiệm sơ bộ hiệu quả của phân bón lá trên cây trồng 46
3.3.1. Ảnh hưởng của phân bón lá LS1 đến sinh trưởng và phát triển của
mg/l hoặc ppm)
LD
50
Liều gây chết trung bình (Lethal dose, mg/kg)
LS Lignosulfonat
CaLS Canxi lignosulfonat
NAA Naphthalene acetic acid
BVTV Bảo vệ thực vật
4
MỞ ĐẦU
Ngay từ thời cổ đại, con người đã phát hiện và biết cách sử dụng
phân bón. Người Trung Quốc, Hy Lạp và La Mã cổ đại biết dùng phân
hữu cơ và tro đốt để bón cho cây trồng. Từ thế kỷ thứ 17, các nhà khoa
học đã có những thí nghiệm nghiên cứu về dinh dưỡng cây trồng và từ đó
phân bón mới thực sự phát triển có hệ thống và ngành công nghiệp phân
bón ra đời và phát triển.
Trong thành phần phân bón, ngoài các chất dinh dưỡng nh
ư N
(Nitơ), P (Phospho), K (Kali), cây trồng luôn cần một lượng nhỏ các
nguyên tố vi lượng (Fe, Zn, Cu, Mn, B, Mo,…) để duy trì các quá trình
sinh trưởng và sinh thực (tạo củ, quả). Vai trò quan trọng của các nguyên
tố vi lượng đối với cây trồng mới chỉ được phát hiện vào đầu thế kỷ 20.
Các nguyên tố này thường không có đủ trong thành phần của đất. Vì vậy,
ngày nay người ta thường phải bổ sung cho cây những nguyên tố này dưới
dạng phân bón vi lượng, kết hợ
p với các thành phần dinh dưỡng khác.
Các nguyên tố vi lượng sử dụng thường ở dạng muối vô cơ hoặc
t
ương ứng.Sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên, dễ phân hủy sinh học, không
để lại dư lượng trong nông phẩm và môi trường nên thường được khuyến
cáo sử dụng, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp sạch.
Hàng năm, trong quá trình hoạt động, các nhà máy giấy của nước ta
thải ra dịch đen chứa một lượng lớn chất hữu cơ, trong đó lignin chiếm
một lượng đáng k
ể. Tận dụng nguồn nguyên liệu này để tạo ra các sản
phẩm phục vụ nền kinh tế quốc dân, đồng thời giải quyết được vấn đề môi
trường cho ngành công nghiệp giấy là một hướng nghiên cứu mang ý
nghĩa khoa học và thực tiễn.
Xuất phát từ mục đích trên,®Ò tµi sẽ nghiên cứu tổng hợp một số
kim loại vi lượng lignosulfonat từ lignin, sử dụng làm phân bón qua lá cho
cây trồ
ng tại Việt Nam. 6
MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Mục tiêu của đề tài:
Từ dịch đen thải của nhà máy sản xuất bột giấy, tạo ra một số muối vi
lượng lignosulfonat để sử dụng làm phân bón qua lá nhằm kích thích tăng
trưởng cây trồng nông nghiệp.
ng loài cây gỗ và theo tuổi của chúng cũng như điều kiện địa lý. Hàm
lượng lignin trong gỗ mềm là 27 – 33%, trong gỗ cứng là 18 – 25% và trong
cây thân cỏ là 17 – 24%.
1.1.1.1. Cấu trúc phân tử lignin [10]
Phân tử
lignin là một polyme có cấu trúc không đồng nhất, hình thành
trong cây nhờ quá trình polyme hóa các hợp phần p-coumaryl (I), coniferyl
(II) và sinapyl (III), dưới tác dụng của enzym. Coniferyl và sinapyl ancol là
những những vị trí khởi đầu cho sự hình thành các cấu trúc guaiacyl và
syringyl của lignin.
Hình 1. Các hợp phần cấu tạo nên phân tử lignin
Nghiên cứu cấu trúc phân tử của lignin, người ta thấy chúng chứa
nhiều nhóm cấu trúc
xuất hiện lặp đi lặp lại một cách ngẫu nhiên trong đó chủ
yếu là các dẫn xuất của phenylpropan.
Các nhóm chức trong phân tử lignin có ảnh hưởng lớn nhất đến tính
chất của chúng là nhóm hydroxy liên kết trực tiếp với nhân thơm, nhóm
8
hydroxy liên kết với mạch cacbon và nhóm cacbonyl. Số lượng của các nhóm
chức thay đổi tùy theo loài thực vật và cấp của tế bào thực vật.
1.1.1.2. Tính chất vật lí của lignin [1]
Trong công nghiệp sản xuất bột giấy, quá trình biến đổi hóa học của
lignin thường gặp nhất là delignin hóa. Delignin hóa là quá trình thủy phân và
hòa tan lignin từ nguyên liệu gỗ dưới tác dụng của kiềm hoặc các hợp chất
sulfit, tạo ra các sản phẩm có đặ
c trưng phenol.
Trong gỗ, các cấu tử chính của thành tế bào không nằm riêng rẽ mà tồn
phụ thuộc vào bản chất của dung môi.
Hiện tượng liên hợp phân tử này là hiện tượng hóa lý thường xảy ra với
hệ chất thơm, kể cả chất thơm có khối lượ
ng phân tử thấp. Như vậy, lignin là
chất dễ tham gia vào quá trình liên hợp, do đó để đo giá trị khối lượng phân
tử chính xác hơn ta cần tìm được dung môi hòa tan thích hợp.
Các thông số về khối lượng phân tử và độ đa phân tán của lignin
thường khác nhau, phụ thuộc vào nguồn gốc mẫu lignin cũng như phương
pháp thực nghiệm.
1.1.1.3. Tính chất hóa học của lignin
Lignin là hợp chất raxemic với khối lượng phân tử
lớn, có đặc tính
thơm và kỵ nước. Cấu tạo phân tử lignin rất phức tạp với nhiều kiểu liên kết
polyme. Hơn nữa, các đơn vị mắt xích phenylpropan có nhiều loại nhóm chức
cũng như nhiều đặc trưng về cấu tạo. Do đó, lignin có thể tham gia hàng loạt
phản ứng hóa học như phản ứng thế, phản ứng cộng, phản ứng oxi hóa, phản
ứng ng
ưng tụ, trùng hợp…
Lignin không bị phân hủy bởi axit nhưng lại bị oxi hóa nhanh chóng.
Lignin không tan trong nước, các dung môi hữu cơ thông thường và cả trong
axit H
2
SO
4
đặc nhưng lại tan tốt trong kiềm nóng hoặc bisulfit. Lignin bị
phân hủy dưới tác dụng của các tác nhân hóa học và sinh học. Lignin còn có
thể bị chuyển hóa dưới tác dụng của nấm, vi khuẩn và các enzym. [17]
1.1.2. Các quá trình sản xuất bột giấy [10]
Trong công nghiệp sản xuất bột giấy hiện nay, người ta sử dụng 3
phương pháp chính là phương pháp xút, phương pháp sulfat và phương pháp
khối lượng phân tử nhỏ hơn so với lignin thu được khi nấu xút.
Trong phương pháp nấu bột giấy bằng sulfit, trong môi trường axit và
nhiệt độ cao, lignin tạo thành các ion cacboni dễ dàng tham gia phản ứng
sulfo hóa tạo ra sản phẩm lignosulfonat tan vào dung d
ịch. Nhờ vậy, có thể
tách trực tiếp lignosulfonat từ dịch thải của phương pháp này mà không phải
sulfo hóa lignin.
1.1.3. Ứng dụng của lignin [10]
Hiện nay, hầu hết lignin thu hồi từ dịch đen của các nhà máy sản xuất
bột giấy được sử dụng như một nguồn sinh khối phục vụ cho quá trình sản
xuất nhiên liệu sinh học. Tuy nhiên, nó ngày càng có ứng dụng rộng rãi trong
các lĩnh vực khác. Nhờ
vai trò là chất kết dính tự nhiên giữa các sợi xenlulô
trong thành tế bào thực vật, lignin có rất nhiều ứng dụng có giá trị thương
mại, như là chất ngăn bụi trên đường giao thông, chất kết dính trong sản xuất
thức ăn gia súc hay các ngành công nghiệp khác, chất phân tán và ổn định
trong công nghiệp sản xuất cao su, bê tông, phụ gia đồ gốm, tuyển
quặng…Lignin cũng có nhiều ứng dụng trong sản xuất polyme như là nguyên
11
liệu sản xuất sợi cacbon, sợi polyeste, urethan, nhựa phenolformaldehyt và
ureformaldehyt.
Lignin còn có thể được sử dụng trong công nghệ tổng hợp hữu cơ như:
tổng hợp dimetyl sulfua, axit humic, vanilin
1.2. LIGNOSULFONAT VÀ CÁC MUỐI TỪ NÓ
1.2.1. Giới thiệu chung
Lignosulfonat hay còn gọi là lignin sulfo hóa là một anion mạch dài tan
được trong nước. Chúng có thể thu được như là sản phẩm phụ của quá trình
sản xuất bột giấy theo phương pháp sulfit.
kết trực tiếp với nhân thơm) của gốc propyl. Quá trình sulfo hóa thường diễn
ra ở phần mạch hở chứ không diễn ra trong nhân thơm. Tuy nhiên, cơ chế
trên không phải là đặc trưng mà mục đích là đưa ra những khái niệm chung
nhất cho cấu trúc của lignosulfonat vì lignin và các dẫn xuất của nó là một
hỗn hợp vô cùng phức tạp.
Lignin Cacbocation Lignosulfonat
12
1.2.2. Cấu trúc phân tử của lignosulfonat [10]
Cũng như phân tử lignin, cấu trúc phân tử của lignosulfonat cũng rất
phức tạp, thậm chí cả dạng chưa bị biến đổi. Mặc dù chưa thể xác định được
công thức chính xác của lignosulfonat nhưng các nhà khoa học vẫn chứng
minh được rằng nó được tạo nên bởi các đơn phân phenylpropan, tương tự
như cấu trúc phân tử lignin.
Với SO
3
M là nhóm sulfonat.
Hình 3. Cấu trúc phân tử lignosulfonat
Khối lượng phân tử của lignosulfonat dao động trong khoảng lớn, từ
1000 đến 140000 đơn vị cacbon, tùy thuộc vào lignin của loại gỗ cứng hay gỗ
mềm và tùy thuộc vào phương pháp phân lập lignin. Chính nhờ khả năng
phân loại độ dài mạch phân tử mà tính tan và tính chất hoạt động bề mặt của
lignosulfonat có thể thay đổi vô cùng đa dạng tùy theo mục đích sử dụng.
1.2.3. Các tính chất của lignosulfonat
Lignosulfonat t
ồn tại phổ biến dưới dạng muối amoni hoặc muối của
các kim loại như natri, kali, canxi…Lignosulfonat dạng bột và dạng lỏng đều
5200-6400 ppm, và LD
50
> 40 g/kg chuột thí nghiệm, nên được xếp vào loại
chất không độc với động vật máu nóng. Ngoài ra, do có nguồn gốc tự nhiên,
các hợp chất lignosulfonat rất dễ phân hủy sinh học và không để lại dư lượng
trong nông sản, thực phẩm và môi trường. Chính vì vậy, các hợp chất
lignosulfonat được coi là các chất thân thiện với môi trường. [15]
1.2.4. Ứng dụng của lignosulfonat và các muối kim loại vi lượng của
lignosulfonat
Lignosulfonat được biết đến là một chấ
t đa tác dụng với khả năng ứng
dụng rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực như làm phụ gia trong bê tông, thuốc
14
nhuộm, dung dịch khoan đến sản xuất muội than hay xử lý nước thải hay
trong gia công thuốc bảo vệ thực vật, cũng như làm phân bón cho cây trồng.
Theo một số nghiên cứu, lignosulfonat có khả năng làm tăng hiệu lực
phòng trừ sâu bệnh của các thuốc BVTV khi hỗn hợp với chúng (hoạt tính
synergist), đồng thời giảm sự ngộ độc của cây (phytotoxicity). Ngoài ra, bản
thân các lignosulfonat còn có tính chất hoạt động bề mặt nên sẽ cả
i thiện tính
bám dính của sản phẩm.
Một số nhà khoa học trên thế giới đã nhận ra tác dụng của
lignosulfonat trong kiểm soát cỏ dại bằng cách xử lý lớp trên cùng của đất
trồng với lignosulfonat trước khi gieo hạt hoặc sau khi mầm phát triển, nhằm
tăng sức chống chịu cơ học của đất,nhờ đó ức chế được sự phát triển của
mầm cỏ d
ại. Ngoài ra, việc xử lý đất với lignosulfonat cũng làm giảm sự bốc
hơi của nước trong đất, điều này có ý nghĩa rất lớn đối với đất cát là loại đất ít
C
6 Khả năng hòa tan trong nước: Tan hoàn toàn
7 Khối lượng riêng: 1221.96 g/l
- Một số sản phẩm khác:
Bảng 1. Một số sản phẩm phân vi lượng trên thị trường thế giới và Việt
Nam
Thành phần
TT
Tên sản
phẩm
Đa lượng Vi lượng
Đối tượng
sử dụng
Đơn vị
sản xuất
1
Libspray
211
N: 12%;
P
2
O
5
tan:
5,5%; K
2
O
tan: 4,8%
Ca: 0.4%
Fe: 322 mg/kg;
3 Brotomax
TM
N: 8.00%
Cu (CuLS):
1.75%;
Mn (MnLS):
0.75%;
Zn (ZnLS):
0.5%;
Cl: ≤ 0.1%
Cây ăn
quả, lúa,
rau, hoa
màu…
Hãng
Agrometo
dos SA,
Tây Ban
Nha
16
4 Bortrac N: 6,5% w/v
B: 15% w/v
(65 g/l)
Cây ăn
quả (vải):
Chống
rụng hoa,
quả non
: 31,7%;
K
2
O: 16,8%
Mn: 1000 ppm;
Mg,B: 500ppm;
Fe: 100 ppm;
Cu,Zn: 50 ppm;
Mo: 10 ppm
Xoài
Công ty
Phân bón
Miền Nam
Trong khuôn khổ quan tâm của đề tài, chúng tôi chủ yếu giới thiệu các
ứng dụng khoa học và thực tiễn của các muối vi lượng lignosulfonat trong sản
xuất phân bón qua lá.
1.2.4.1. Vai trò của các nguyên tố vi lượng đối với cây trồng
Các chất vi dinh dưỡng rất cần thiết để cây phát triển. Chúng là tác
nhân hoạt hoá trong các hệ thống enzym. Tuy nhiên ranh giới giữa sự thiếu
hụt phân vi lượng và mức gây độc của nó rất xít xao. Những rủi ro từ việc sử
dụng phân vi lượng đang trở thành một vấn đề cần được quan tâm. Vì vậy sự
hiểu biết về các loại phân vi lượng là rất cần thiết.
Bên cạnh các loại phân bón đa lượng như N, P, K, các nguyên tố vi
lượng như: đồng (Cu), kẽm (Zn), Bo (B), mangan (Mn), molipden (Mo), sắt
(Fe)… tuy được dùng với khối lượng rất nhỏ nhưng lại rất cần thiết để cho
cây tồn tại và phát triển.
• Vai trò củ
a kẽm (Zn): Kẽm được coi như là một trong các nguyên
tố vi lượng đầu tiên cần thiết cho cây trồng được cây hấp thụ ở dạng ion Zn
đồng với lá thiếu sức trương, rủ xuống và có màu xanh, chuyển sang quầng
màu da trời tối trước khi trở nên bạc lá, biến cong và cây không ra hoa được.
• Vai trò của sắt (Fe): Sắt là thành phần cấu tạo nên nhiều men xúc
tác cho quá trình tổng hợp di
ệp lục như men Katalase, Peroxidase, Cytochrom
B, C và Cytochromoxidase (men cần cho quá trình trao đổi chất và hô hấp).
Thiếu sắt gây ra hiện tượng màu xanh lá cây nhợt nhạt (bạc lá). Vì sắt không
được vận chuyển giữa các bộ phận trong cây nên biểu hiện thiếu trước tiên
xuất hiện ở các lá non gần đỉnh sinh trưởng của cây. Thiếu sắt nặng có thể
18
chuyển toàn bộ cây thành màu vàng tới trắng lợt. Sự thiếu sắt có thể xảy ra do
sự thiếu cân bằng với các kim loại khác như molipden, đồng hay mangan.
Một số yếu tố khác cũng có thể gây thiếu sắt như quá thừa lân trong đất; do
pH cao kết hợp với giàu canxi, đất lạnh và hàm lượng cacbonat cao; thiếu sắt
do di truyền của cây; thiếu do hàm lượng chất hữu cơ trong đất thấp.
Phần lớn các loạ
i đất đủ sắt, nhưng ở những vùng đất có pH cao, thiếu
sắt di động cây kém phát triển.
• Vai trò của Bo (B): Hiện tượng thiếu Bo là rất phổ biến trên thế
giới. Rất nhiều loại cây ăn quả, cây rau, và các hoa màu khác có biểu hiện
thiếu Bo. Các loại đậu lấy hạt có yêu cầu cao về Bo. Bo cần thiết cho sự nẩy
mầm của hạt phấn, sự tăng trưởng của
ống phấn, cần thiết cho sự hình thành
của thành tế bào và hạt giống. Bo cũng hình thành nên các phức chất
đường/borat có liên quan tới sự vận chuyển đường và đóng vai trò quan trọng
trong việc hình thành protein. Thiếu Bo, việc phân chia tế bào của cây bị kìm
hãm dẫn đến việc phá hỏng và làm tế bào chết, do đó làm cây sinh trưởng còi
cọc, và trước hết làm đình trệ đỉnh sinh trưởng và các lá non (ngọn cây chết
quan trọng đối với cây trồng, đặc biệt trên các loại đất nghèo và có độ rửa trôi
mạnh. Khi n
ăng suất cây trồng càng cao thì vai trò của phân bón vi lượng
càng trở nên quan trọng bởi vì để đạt năng suất cao, khả năng cung cấp của
đất không đáp ứng được nhu cầu của cây trồng.
Ở nước ta hầu hết các loại đất đều thiếu các nguyên tố vi lượng, vì vậy,
việc bổ sung các nguyên tố này sẽ tạo cho cây sinh trưởng và phát triển tốt
hơn, từ đó năng suất, chất lượng nông ph
ẩm sẽ được cải thiện.
Thí nghiệm sử dụng phân bón hỗn hợp giữa các nguyên tố đa lượng (N,
P, K) và vi lượng trên đất phù sa cổ và đất bạc màu cho thấy tác dụng tích cực
của thành phần các nguyên tố vi lượng đến năng suất cây lạc, đậu tương xuân
hè. Cụ thể, năng suất và sản lượng đều tăng hơn so với đối chứng khi sử dụng
phân bón chỉ có N, P, K theo bảng 1.1 d
ưới đây:
Bảng 2. Kết quả khảo nghiệm hiệu quả của phân vi lượng trên đất phù sa
cổ và bạc màu
Loại đất khảo nghiệm
Loại cây
Đất phù sa cổ Đất bạc màu
Lạc - Năng suất tăng 14.4% - Năng suất tăng 6.8%
20
- Lượng dầu tăng 4.3% - Lượng dầu tăng 3.2%
Đậu tương xuân Năng suất tăng 5.8% Năng suất tăng 5.5%
Đậu tương hè Năng suất tăng 8.0% Năng suất tăng 7.8%
Ngoài ra, khi dùng phân NPK chứa vi lượng, hàm lượng protein trong
đậu tương xuân tăng 4.9% so với đối chứng trên đất phù sa cổ và 4.8% trên
đất bạc màu.
hợp auxin NAA (naphthalene acetic acid) thì cũng đồng thời gia tăng tạm thời
sự xuất hiện của auxin nội sinh IAA (indole acetic acid) trong mầm cây. [7]
Các muối vi lượng lignosulfonat có độ bền khá cao trong dung dịch
kiềm, ví dụ như FeLS ổn định ngay cả khi thêm NaOH đến pH=12 hay hơn
nữa mà không tạo hydroxyt kết tủa. Tuy nhiên, quá trình tạo chelat của
lignosulfonat không thuận nghịch, trừ khi một tác nhân tạo chelat khác như
EDTA tấn công thì sẽ đẩy Fe, Zn, Cu, Mn ra khỏi muối lignosulfonat, ảnh
hưởng này có thể chứng minh bằng phương pháp so màu. Lựa chọn tỷ lệ giữa
các nguyên tố vi lượng cần tùy thuộc từng loại đất và cây trồng. [4]
Việc sử dụng các chelat là dẫn xuất polyamin-cacboxylic, ví dụ EDTA,
để làm phân vi lượng rất phổ biến và mang lại hiệu quả cao, nhưng giá thành
lại rất cao. Trong khi đ
ó, phức của lignosulfonat và kim loại lại rẻ hơn rất
nhiều (2-4 euro/1kg) so với chelat EDTA (6-12 euro/1kg), nên nó được sử
dụng rộng rãi mặc dù hiệu quả có thể thấp hơn. Năm 2007, trên thị trường
phân bón của Tây Ban Nha, số lượng sản phẩm phân bón chứa chelat là 553,
trong đó sản phẩm chứa lignosulfonat và gluconat là 299 (tăng 150% so với
năm 1990). Lignosulfonat là tác nhân ngày càng được ưa chuộng trong sản
xuất phân vi lượng. [12]
Hiện nay, phân vi lượng chứa kẽm lignosulfonat là loạ
i được sử dụng
nhiều nhất trên thị trường Tây Ban Nha. [9]
Nghiên cứu tác dụng của sắt dưới dạng phân bón qua đất và qua lá,
người ta nhận thấy, với cây được bổ sung sắt qua đất thì sau 4 tuần lá cây vẫn
vàng, sau 12 tuần toàn bộ lá cây đã chuyển sang màu xanh. Còn khi phun sắt
lignosulfonat qua lá với nồng độ 1lit/400lit/ha thì lá có dấu hiệu hồi xanh
nhanh hơn.
Như đã biết, đồng là một chất có hoạt tính trừ nấm, tuy nhiên, nếu sử
dụng các muối đồng vô cơ như đồng sulfat hay đồng oxyt, để đạt được hiệu