Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng NAA đến khả năng ra rễ của cây tràm bông đỏ (callistemon citrinus) tại vườn ươm trường đại học nông lâm thái nguyên - Pdf 13

1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cây xanh không thể tách rời trong hoạt động sống của con người ở bất
kì đâu dù nông thôn hay thành thị. Cây xanh gắn liền với sự tồn tại phát triển
của của bất kì một quốc gia, dân tộc nào. Nó cung cấp cho con người những
nhu cầu thiết yếu như lương thực, thực phẩm, nguyên liệu xây dựng, tạo ra tất
cả những tiện nghi phục vụ cuộc sống… Nó còn là nguồn dược liệu tạo ra
nhiều loại thuốc phòng và chữa bệnh… Về phương diện nào đó nó có ý nghĩa
rất lớn, chi phối các yếu tố khí hậu, giảm nhẹ thiên tai, ngăn bụi làm sạch
không khí, tạo nên cảnh quan sinh động, cung cấp dưỡng khí, tạo được môi
trường trong lành, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Để phục vụ cho việc tạo rừng, tạo cảnh quan môi trường thì công tác
tạo ra giống là việc hết sức quan trọng. Trong những năm gần đây, các
trung tâm nghiên cứu giống cây trong cả nước đã tiến hành nghiên cứu về
chọn giống, khảo nghiệm và nhân giống cho nhiều loài cây. Đã đạt được
một số kết quả bước đầu nhất định. Một trong những phương pháp nhân
giống duy trì được nguyên vẹn những tính trạng tốt từ đời trước cho đời
sau là phương pháp nhân giống bằng hom. Nhân giống bằng hom là
phương thức nhân giống được dùng rộng rãi cho một số loài cây như cây
rừng, cây cảnh và cây ăn quả. Là phương pháp có hệ số nhân giống cao,
phù hợp với quy mô lớn và sản phẩm cuối cùng cho một số lượng cây
giống đồng đều về mặt chất lượng di truyền.
Cây Tràm bông đỏ được trồng nhiều ở các tỉnh phía Nam do khí hậu ở
phía Nam không thích hợp với cây liễu, Tràm bông đỏ là một sự thay thế
hoàn hảo cho liễu khi trồng ở các bờ hồ. Hiện tại thì loài cây này cũng đã
được trồng rộng rãi ở các tỉnh phía Bắc để làm cảnh vì cho hoa đẹp. Tràm
bông đỏ là cây gỗ nhỡ cao từ 2 - 4m, đường kính tán từ 2 - 2,5m. Là loài cây
sinh trưởng tốt, có khả năng chống chịu với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt.
Cây được trồng nhiều ở bờ hồ và có ý nghĩa rất lớn về mặt môi trường sinh

những kiến thức thực tiễn nâng cao kiến thức và kỹ năng cho bản thân để thực
hiện tốt công tác sau này.
- Trong thực tế:
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở thực tiễn cho công tác nhân
giống loài cây Tràm bông đỏ bằng hom trên địa bàn Thái nguyên và một số
nơi có điều kiện tương tự.
2
2
3
PHẦN II
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học
Như chúng ta đã biết thì phần lớn các loài thực vật đều sinh sản bằng
con đường sinh sản hữu tính, tuy nhiên chúng ta vẫn bắt gặp các hình thức
sinh sản vô tính: Chiết, ghép, nuôi cấy mô tế bào, giâm hom. Nhờ có phương
thức sinh sản vô tính mà thực vật có thể tái tạo lại mình từ các phần của cơ
thể: Bằng thân như dây Khoai lang, bằng rễ như cây Hồng,…
Trong các biện pháp sinh sản vô tính, giâm hom là hình thức phổ biến
nhất và là một trong những công cụ có hiệu quả cho việc lưu giữ, bảo vệ và
duy trì giống cây rừng. Bởi chúng có các đặc điểm sau:
- Giâm hom có thể dùng hom thân, hom cành, hom rễ toàn những
nguyên liệu sẵn có, dễ làm, dễ thao tác.
- Nhân giống bằng hom cho hệ số nhân giống lớn, tương đối rẻ tiền,
nên được dùng phổ biến cho trong nhân giống cây rừng, cây cảnh và cây ăn
quả [4].
- Cây hom mặc dù không giữ được các đặc trưng hình thái giải phẫu
nhưng lại giữ được các đặc điểm di truyền mong muốn của cây mẹ.
Đặc biệt đối với một số cây lâm nghiệp có hình thức lai xa thì nó còn
giúp giữ các tính trạng tốt ở đời F
1

Giá trị sử dụng:
Là loài cây có vẻ đẹp bề ngoài với màu sắc trang nhã, hoa đẹp và có
mùi hương đặc trưng, lại thích nghi với nơi có cường độ ánh sáng lớn nên
thường được trồng làm cảnh nơi công sở hay được trồng trên phố, quanh bờ
hồ,… để che bóng mát [14].
Trong dân gian con người thường sử dụng lá làm thuốc chữa cảm, sốt,
ho. Vì trong lá có chứa chất có tác dụng tiêu viêm, khử đờm.
2.1.1. Cơ sở tế bào của sự hình thành rễ bất định
* Rễ bất định là rễ sinh ra ở bất kỳ bộ phận nào của cây ngoài hệ rễ của
nó. Có 2 loại rễ bất định là rễ tiềm ẩn và rễ mới sinh.
+ Rễ tiềm ẩn là rễ có nguồn gốc tự nhiên trong thân, cành cây nhưng
chỉ phát triển khi đoạn thân, đoạn cành tách khỏi thân cây.
+ Rễ mới sinh là loại rễ chỉ hình thành khi được cắt hom, nó là hậu quả
của phản ứng với vết cắt. Nghĩa là khi cắt hom thì các tế bào sống tại vết cắt
bị tổn thương và các tế bào dẫn truyền đã chết của mô gỗ được hở ra và gián
đoạn các chất dinh dưỡng được tổng hợp từ ngọn lá đi xuống tới chỗ vết cắt.
Quá trình nguyên phân xẩy ra theo 3 bước tạo thành các mô sẹo, là cơ sở của
sự hình thành 1 lớp tế bào bị thối trên bề mặt, vết thương được đậy lại bằng
lớp keo bảo vệ, lớp keo bảo vệ này giúp mặt cắt khỏi bị thoát hơi nước.
4
4
5
Các tế bào sống ở ngay dưới lớp tế bào bảo vệ, lớp tế bào bảo vệ đó bắt
đầu phân chia sau khi vết cắt được vài ngày và có thể hình thành một lớp mô
mềm (Callus).
Các tế bào lân cận của vùng tượng tầng mạch và libe gỗ bắt đầu hình
thành rễ bất định. Chính vì vậy việc giâm hom cành để hình thành bộ rễ mới
là quan trọng nhất, sau đó là số lượng rễ/hom và chiều dài rễ.
2.1.2. Cơ sở sinh lý của sự hình thành chồi và rễ bất định
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới tỷ lệ ra rễ trong quá trình giâm hom,

Trong 1 loài, các xuất xứ khác nhau có tỉ lệ ra rễ khác nhau.
E.Camaldulensis có xuất xứ Victroria River là 60%, còn E.Camaldulensis
xuất xứ Gibb River là 85%, còn xuất xứ Nghĩa Bình là 35% (Lê Đình Khả,
Đoàn Thị Bích, 1997).
+ Đặc điểm cá thể: Trong một xuất xứ các cá thể khác nhau cũng có tỷ
lệ ra rễ khác nhau.
Trong số 15 cây Phi lao (Casuarina equisetifolia) 1 tuổi có 9 cây ra rễ
100%, 5 cây ra rễ từ 53-87%.
Thí nghiệm với keo lai lá tràm (Acacia auriculiformis) cho 5 cây mẹ
khác nhau có tỷ lệ ra rễ như sau:
Cây mẹ
Tỷ lệ ra rễ
Hom chồi bất định Hom cành
1 100 80
2 90 60
3 70 60
4 100 70
5 100 80
Từ số liệu trên cho thấy: Không những loài cây khác nhau mà trong
cùng một loài các xuất xứ, dòng và các cá thể khác nhau cũng có tỷ lệ ra rễ
khác nhau.
+Tuổi cây mẹ và tuổi cành lấy hom:
Tuổi cây mẹ có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ ra rễ của hom, nhất là đối
với các loài khó ra rễ. Nhìn chung, tuổi cây mẹ càng già thì tỷ lệ ra rễ của
hom càng giảm.
Cây Mỡ (Manglietia conifera) 1 tuổi có tỷ lệ ra rễ 98%, Mỡ 3 tuổi
47%, Mỡ 20 tuổi không ra rễ.
Cây Sao đen (Hopea odorata) 1 tuổi 70% ra rễ, 2 tuổi 50% ra rễ.
Hom từ cây già không những có tỷ lệ ra rễ thấp có thời gian ra rễ dài
hơn. Ví dụ hom Mỡ 1 tuổi thời gian ra rễ là 80 ngày, trong lúc đó hom chồi

- Gốc của cây con là nơi tích tụ các chất cần cho ra rễ.
- Tồn tại 1 sự chênh lệch về các chất kích thích và ức chế sự ra rễ ở các
phần khác nhau của cây.
- Theo thuyết phát triển giai đoạn thì gốc là phần non nhất của một cây
vì vậy lấy hom ở phần này cho tỷ lệ ra rễ cao nhất.
7
7
8
+ Sự tồn tại của lá trên hom:
Ánh sáng là nhân tố không thể thiếu được trong quá trình ra rễ của
hom. Lá là cơ quan hấp thu ánh sáng trong quang hợp để tạo ra chất hữu cơ
cần thiết cho cây dữ trữ chất dinh dưỡng, đồng thời là cơ quan thoát hơi nước
và hút nước để khuếch tán tác dụng chất kích thích ra rễ đến các bộ phận của
hom. Vì vậy, nhất thiết giâm hom phải để lại một số lá, nhưng nếu để lại diện
tích lá quá lớn sẽ hạn chế số lượng hom trên 1 đơn vị diện tích mà quan trọng
là làm cho quá trình thoát hơn nước diễn ra mạnh làm cho hom bị héo và chết
trước khi ra rễ hoặc diện tích quá nhỏ làm cho hom không ra rễ. Do vậy việc
tìm ra diện tích lá vừa đủ là việc làm cần thiết.
+ Ảnh hưởng của kích thước hom:
Tuổi chồi gốc và tuổi láy chồi cũng ảnh hưởng đén tỷ lệ ra rễ của hom
giâm B.Martin lấy hom chồi gốc Bạch đàn có tuổi khác nhau và đã đi đến kết
luận: Hom chồi gốc có tuổi từ 1,5 - 2 tháng tuổi có tỷ lệ ra rễ cao nhất.
Các thực nghiệm với Bạch đàn, các loài Keo tai tượng và Keo lá tràm
của Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng cũng cho thấy: sau khi chặt gốc 2
tháng rồi lấy hom đem giâm cho tỷ lệ cao nhất.
B.Martin (1974) lấy hom chồi gốc ở các gốc Bạch đàn (E.platyphylla
F1) ở 6 cấp tuổi: 6 tháng tuổi; 1,5 năm; 3,5 năm; 4,5 năm; 6,5 năm thì thấy
rằng hom lấy gốc có tuổi từ 2,5 năm; 3,5 năm cho tỷ lệ ra rễ cao nhất (71,8-
90,6%). Với loài Keo lai ở 1 số nước Đông Nam Châu á thường chặt cây dưới
5 tuổi để thu chồi gốc lấy hom.

thích được xuất hiện và sử dụng.
*Nhóm nhân tố môi trường:.
Nhóm nhân tố môi trường có tác dụng tổng hợp ảnh hưởng tới quá trình
giâm hom là: Thời vụ, mùa giâm cành, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, giá thể và
môi trường ra rễ.
+ Thời vụ giâm hom: Tỷ lệ ra rễ của hom phụ thuộc vào trạng thái sinh
lý trong thời kỳ lấy hom, vì vậy việc xác định thời kỳ lấy hom rất có ý nghĩa
đối với việc giâm hom. Tỷ lệ ra rễ của hom rất có ý nghĩa đối với việc giâm
hom. Tỷ lệ ra rễ của hom phụ thuộc vào thời kỳ lấy hom và thời vụ giâm
hom, một số loài cây có thể giâm hom quanh năm, song ở nhiều loài cây có
tính thời vụ rõ rệt. Theo Frism và Nesterowuo (1967) thì mùa mưa là mùa
giâm hom cho tỷ lệ ra rễ cao nhất ở nhiều loài cây, trong khi đó một số loài
cây có tỷ lệ ra rễ cao nhất vào mùa xuân.
Thời vụ giâm hom đạt kết quả tốt hay xấu thường gắn liền với thời tiết,
khí hậu, mùa sinh trưởng của cây, trạng thái sinh lý của cành. Thời vụ giâm
9
9
10
hom có ý nghĩa quan trọng quyết định đến sự thành bại của nhân giống bằng
hom. Theo Ghansen (1958), Hartmonn, WHgriss (1963) cho rằng mùa giâm
hom cành trong năm như một yếu tố chìa khóa và đưa ra kết quả sau:
Đối với loài cây rụng lá, gỗ cứng thường lấy cành giâm lúc cây bắt đầu
bước vào thời kỳ ngủ nghỉ, còn với loài cây gỗ mềm nửa cứng không rụng lá
thì thời kỳ lấy hom là mùa sinh trưởng.
- Những thí nghiệm của Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng thấy
rằng: Keo lá tràm và Keo tai tượng 1 năm tuổi giâm trong tháng 7có tỷ lệ ra rễ
cao > 90%.
Với Phi lao (C.equi seaifolia) tỷ lệ ra rễ ở các tháng như sau [1].
Bảng 2.1: Thời gian và tỷ lệ ra rễ của hom Phi lao
Thời gian Thời gian ra rễ (ngày) Tỷ lệ ra rễ

o
C là thích hợp.
Theo Đ.A.Komixarop thì nhu cầu về nhiệt độ cho ra rễ của hom ở các
loài thực vật biến động trong 1 phạm vi rộng và phụ thuộc vào đặc điểm sinh
thái của chúng. Hom ra rễ tốt khi duy trì nhiệt độ môi trường (giá thể ra rễ)
cao hơn từ 3-5
o
C so với nhiệt độ không khí.
Song nhiệt độ thích hợp cho ra rễ còn phụ thuộc vào mức độ hóa gỗ của
hom, mức độ hóa gỗ của hom yếu ra rễ tốt hơn trong điều kiện nhiệt độ giảm
thấp (20-22
o
C) so với nhiệt độ (27-30
o
C).
Độ ẩm không khí và giá thể:
- Độ ẩm không khí và giá thể là 1 yếu tố không thể thiếu được cho hom
ra rễ. Trong quá trình giâm hom, độ ẩm giữ cho hom không bị khô héo và
cung cấp nước cho hom quang hợp. Duy trì độ ẩm giá thể là việc làm cần thiết
đảm bảo cho hom ra rễ. Tuy nhiên yêu cầu về độ ẩm không khí và giá thể
từng loài cây và từng giai đoạn là không giống nhau. Khi nhiệt độ không khí
cao và cường độ ánh sáng lớn thì hom yêu cầu độ ẩm cao hơn. Lúc hom
chuẩn bị ra rễ yêu cầu độ ẩm cao hơn sau khi đã ra rễ. Vì vậy khi gặp thời
nắng nóng cần phải tăng cường cung cấp nước cho cây nhiều hơn, hom chưa
ra rễ cần cung cấp ẩm nhiều nhiều hơn lúc hom đã ra rễ. Cây lá rộng yêu cầu
độ ẩm lớn hơn cây lá kim, hom có diện tích lá lớn yêu cầu độ ẩm cao hơn
hom có diện tích lá nhỏ. Tốt nhất duy trì độ ẩm không khí bằng cách tạo 1 lớp
sương mù trong nhà kính hoặc nhà giâm hom, phun mù vừa làm tăng độ ẩm
vừa làm giảm nhiệt độ không khí, giảm tốc độ thoát hơi nước của lá. Trong
mùa lạnh thời gian phun và thời gian ngắt quảng cũng ngắn. Nếu độ ẩm giá

giâm hom khác nhau tùy thuộc vào điều kiện giâm, điều kiện khí hậu từng
nước, thời vụ giâm và giống đem giâm, loại cành.
Những nền giâm (giá thể) hiện nay là sử dụng cát thô, than bùn, sơ dừa,
đất, các chất vô cơ như Vani calete (hợp chất chứa Mica) peclite (đá chân
trâu) dung nhan phun thạch núi lửa … Nếu chỉ giâm để cây hom ra rễ mới
giâm vào bầu thì giá thể thường là cát thô, còn khi giâm hom trực tiếp vào
bầu thì giá thể thường là mùn cưa để mục, sơ dừa băm nhỏ đặt ở vườn ươm.
Những nghiên cứu về ảnh hưởng của giá thể giâm hom Bạch đàn trắng
trong các ruột bầu khác nhau, tại Đông Nam bộ của Lê Đình Khả, Trần Cự,
Đoàn Thị Bích cho thấy:
12
12
13
- Nếu ruột bầu là 50% cát vàng + 50% sơ dừa thì tỷ lệ ra rễ của hom là
74,1%
- Nếu ruột bầu là 50% cát vàng + 50% than trấu thì tỷ lệ ra rễ của hom
là 72,1%.
- Nếu ruột bầu là 50% sơ dừa + 50% than trấu thì tỷ lệ ra rễ của hom là
69,3%.
- Nếu ruột bầu là 100% cát vàng thì tỷ lệ ra rễ của hom là 67,3%.
- Nếu ruột bầu là 100% sơ dừa thì tỷ lệ ra rễ của hom là 48,3%
- Nếu ruột bầu là than trấu thì tỷ lệ ra rễ của hom là 62,5%.[2].
Như vậy trong cùng 1 loài cây, các điều kiện như nhau nhưng giá thể
khác nhau cũng cho tỷ lệ ra rễ khác nhau.
* Ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ:
+ Các chất điều hòa sinh trưởng có vai trò quan trọng trong quá trình
hình thành rễ của hom giâm. Trong đó Auxin được sử dụng nhiều nhất, các
Auxin được chia làm 2 nhóm là Auxin tự nhiên và Auxin tổng hợp.
- Auxin tự nhiên được biết đến như: Axit Indol axete (IAA).
- Các Auxin tổng hợp như là: Axit indol butylic (IBA), Axit indol

hom giâm, chọn giá thể, thao tác kỹ thuật khi giâm hom, chăm sóc hom giâm
thích hợp cho mỗi vùng (điều kiện ngoại cảnh) thì mới đạt được tỷ lệ ra rễ
như mong muốn.
2.2. Những nghiên cứu trên thế giới
Trong Lâm nghiệp, nhân giống sinh dưỡng cho cây rừng đã được sử
dụng trên 100 năm nay. Ngay từ 1840, Marrier de Boisdyver (người Pháp) đã
ghép 10.000 cây Thông Đen. Năm 1883, Velinski A.H công bố công trình
nhân giống một số loài cây lá kim và cây lá rộng thường xanh bằng hom.Ở
Pháp năm 1969, Trung tâm Lâm nghiệp nhiệt đới bắt đầu chương trình nhân
giống cho Bạch đàn, năm 1973 mới có 1ha rừng trồng bằng cây hom, đến
1986 có khoảng 24.000ha rừng trồng bằng cây hom, các rừng này đạt tăng
trưởng bình quân 35m
3
/ha/năm [12]
Theo tài liệu của Trung tâm Giống cây rừng Asean - Canada (gọi tắt là
ACFTSC), những năm gần đây, nghiên cứu và sản xuất cây hom được tiến
hành ở các nước Đông Nam Á[13]
Ở Thái Lan, Trung tâm Giống cây rừng Asean - Canada đã có những
nghiên cứu nhân giống bằng hom từ năm 1988, nhân giống với các hệ thống
phun sương mù tự động không liên tục được xây dựng tại các chi nhánh vườn
ươm của Trung tâm, đã thu được nhiều kết quả đối với các loài cây họ Dầu,
với 1 ha vườn giống Sao đen 5 tuổi có thể sản xuất 200.000 cây hom, đủ trồng
455 đến 500 ha rừng.
14
14
15
Ở Malaysia, nhân giống sinh dưỡng các loại cây họ Sao dầu bắt đầu từ
những năm 1970, hầu hết các nghiên cứu được tiến hành ở Viện nghiên cứu
Lâm nghiệp Malaysia, ở trường Đại học Tổng hợp Pertanian, Trung tâm
nghiên cứu Lâm nghiệp ở Sepilok, cũng đã báo cáo các công trình có giá trị

16
Trung tâm nghiên cứu nhân giống cây rừng viện khoa học Lâm Nghiệp
Việt Nam sau một thời gian nghiên cứu đã thực hiện thành công việc sản xuất
cây hom Bạch Đàn Trắng và cây Keo Lai theo kế hoạch của Bộ Nông Nghiệp
và phát triển nông thôn phê duyệt trong 3 năm 1996- 1998. Tính đến năm
1997 trung tâm đã sản xuất được 120.000 cây hom và đã có 60 ha rừng trồng
từ cây giống bằng hom [8].
Cho đến nay thì phương pháp nhân giống bằng hom đã và đang được
sử dụng rộng rãi trong công tác chọn tạo giống cây rừng.
2.4. Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.4.1. Vị trí địa lý địa hình
Vườn ươm khoa Lâm Nghiệp thuộc địa phận của trường Đại Học Nông
Lâm Thái Nguyên thuộc khu vực xã Quyết Thắng và nằm về phía Tây so với
trung tâm thành phố. Vị trí của trường ĐHLNTN như sau:
• Phía Bắc giáp với phường Quán Triều
• Phía Nam giáp với xã Quyết Thắng
• Phía Tây giáp xã Phúc Hà
• Phía Đông giáp khu dân cư trường ĐHNL
Nhìn chung thì địa hình trường Đại Học Nông Lâm tương đối bằng
phẳng chỉ trừ khu vực vườn thực vật của trường.
2.4.2. Đặc điểm về đất đai
Vườn ươm khoa Lâm nghiệp thuộc khu vực trại thực tập thí nghiệm
của trường ĐHNLTN, nằm ở chân đồi, hầu hết đất ở đây là đất feralit phát
triển trên đá Sa Thạch. Do vậy đất ở đây ít mầu mỡ, ít dinh dưỡng, đất dùng
cho các hoạt động gieo ươm đều được lấy từ đây. Hàm lượng các yếu tố dinh
dưỡng trong đất được thể hiện ở biểu sau:
Bảng 2.1: Kết quả phân tích mẫu đất
Độ sâu tầng
đất (cm)
Chỉ tiêu Chỉ tiêu dễ tiêu/ 100g đất

vậy cân bổ sung thêm dinh dưỡng cho cây thong qua bón phân.
17
17
18
PHẦN III
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu là:
Hom cây Tràm bông đỏ.
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài dùng hom ngọn ở trạng thái bánh tẻ, thử nghiệm cho loại thuốc
NAA, ở một số nồng độ: 300ppm; 450ppm; 600ppm; 750ppm.
3.2. Địa điểm, thời gian thực hiện đề tài
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại vườn ươm khoa lâm nghiệp trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên.
3.3.2. Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2012.
3.3. Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài cần giải quyết các nội dung sau:
- Theo dõi tỉ lệ hom sống theo định kì 30, 50, 70 ngày (cuối đợt thí
nghiệm) ở các công thức thí nghiệm.
- Nghiên cứu khả năng ra rễ của hom cây Tràm bông đỏ ở các công
thức thí nghiệm:
+ Tỉ lệ ra rễ
+ Số rễ trung bình/hom
+ Chiều dài rễ
+ Chỉ số ra rễ
- Xác định nồng độ thuốc có ảnh hưởng tốt nhất đến sự hình thành rễ
của hom cây Tràm bông đỏ.

- Thuốc tím (KMnO
4
) dùng để xử lí giá thể với nồng độ 0.3%, phun
trực tiếp vào bầu cấy cây hom.
- Viben C50 nồng độ 0.3% (3g/1 lít nước) để xử lí hom giâm ngay khi
cắt hom xong và chống thoát hơi nước bằng cách ngâm vào chậu dung dịch.
- Giá thể là đất tầng B (vàng, tơi, xốp) được đóng vào bầu Polyetylen
và được bố trí theo từng công thức thí nghiệm.
3.4.1.2. Các bước tiến hành
- Chuẩn bị giá thể:
Đất tầng B được sàng nhỏ và đóng vào bầu có kích thước 8x12cm.
Được xếp vào lều giâm có đổ một lớp đất dày 5cm, xung quanh thoát nước.
19
19
20
Được che đậy kín bằng nilon, khung che được làm bằng tre khô hình
vòm. Trên có mái che bằng lưới màu đen nhằm giảm bức xạ của mặt trời.
Xung quanh được phát dọn sạch cỏ dại nhằm hạn chế sâu bệnh hại.
Xử lí giá thể bằng cách dùng thuốc tím nồng độ 0.3% (3g/lít nước) tưới
cho các túi bầu đóng sẵn trước khi cắm hom 12h. Sau đó tưới bằng nước sạch
rồi mới tiến hành cắm hom.
- Chuẩn bị thuốc kích thích ra rễ
Chất kích thích ra rễ NAA ở các nồng độ: 300ppm, 450ppm, 600ppm,
750ppm.
Pha theo nguyên tắc loãng dần bằng cách pha dung dịch mẹ trước rồi từ
dung dịch mẹ lấy ra một lượng cần thiết cho mỗi nồng độ khác nhau và lên
thể tích cho đủ.
- Chuẩn bị hom giâm:
Cành hom được cắt vào buổi sáng sớm và được ngâm ngay vào nước
sạch đề bảo quản tránh mất nước. Cành hom cắt về không để quá một ngày

như thế nào đến tỉ lệ sống của hom giâm, tiền hành lấy số liệu khí hậu tại trạm
khí tượng thuỷ văn thành phố Thái Nguyên:
Bảng 3.2: Các chỉ tiêu khí hậu trong thời gian nghiên cứu
(tháng 1-4/2012)
(Số liệu trạm khí tượng thuỷ văn Thái Nguyên)
Tháng
Tổng lượng
mưa (mm)
Độ ẩm trung
bình (%)
Nhiệt độ
(°C)
1 4.4 73 11.9
2 10.8 82 17.3
3 9.3 80 16.7
4 30.1 83 23.4
3.4.2. Phương pháp nội nghiệp
• Với phương pháp tính toán thông thường:
Từ các số liệu ngoại nghiệp tiến hành tính toán các chỉ tiêu theo các
công thức sau:
∑ Số hom sống
Tỉ lệ hom sống = ──────────── x 100(%) (3.1)
∑ Số hom thí nghiệm

21
21
22
∑ Số hom ra rễ
Tỉ lệ hom ra rễ = ──────────── x 100(%) (3.2)
∑ Số hom thí nghiệm

A
Các trị số quan sát
Kết quả trung bình của các lần nhắc lại
S
i
A
Xi
A
1
2
3

I

a
X
11
X
12
…………………………X
1
b
1
X
21
X
22

.
X

S
1
A
S
2
A
S
3
A
….
S
i
A
….
….
1X
2X
3X
….
Xi
A
….
Xa
A
S
X
- Cột 1: Các cấp của nhân tố A
- Cột 2: Các trị số quan sát (số lần nhắc lại cho mỗi công thức của nhân tố A)
- Cột 3: Tổng giá trị quan sát trong mỗi cấp
- Cột 4: Số trung bình chung của n trị số quan sát


CxV
a
i
b
j
ijT
−=
∑∑
= =1 1
2

n
S
ba
x
C
a
i
b
j
ij
2
2
1 1
=
×




1
=

b
2
……. =

b
i
= b
( )
ba
S
ASi
b
V
a
i
A
×
−=

=
2
1
2
1
(3.7)
Biến động ngẫu nhiên: V
N

2
…….= b
i
= b:
( )
1
2

=
ba
V
S
N
N
(3.9)
1
2

=
a
V
S
A
A
(3.10)
2
2
N
A
A

bị bác bỏ, nghĩa là nhân tố A tác động
không đồng dều tới kết quả thí nghiệm, có ít nhất một công thức khác các
công thức còn lại.
• So sánh và tìm ra công thức trội nhất
Số lần lặp lại ở các công thức là bằng nhau b
1
= b
2
…….= b
i
= b
Ta sử dụng chỉ tiêu sai dị bảo đảm nhỏ nhất LSD (Least significant
diference), được tính theo công thức sau:

b
SLSD
t
2
**
2
α
=
(3.12)
 Tìm công thức trội nhất
Ta lập bảng hiệu sai các số trung bình
xjxi −
và so sánh với LSD:
- Nếu
LSDxjxi
≤−

MS
(Phương
sai)
F
(F thực
nghiệm)
P-value
(Sự hoán
đổi từ giá
trị t tính)
F crit
(Giá trị
F lý
luận)
Between Groups
(Do nhân tố A)
V
A
a-1
2
A
S
2
A
S
/
2
N
S
Within Groups V


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status