BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN TIẾN TOÀN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LYSINE VÀ
PROBIOTICS TRONG THỨC ĂN HỖN HỢP
ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ CHẤT
LƯỢNG THỊT GÀ TA NUÔI THƯƠNG PHẨM LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT Chuyên ngành : Công nghệ sau thu hoạch
Mã số : 60.54.10
Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐỖ VĂN NINH Nha Trang - 2012
i
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được Luận văn này trước hết tôi xin gửi tới Ban Giám hiệu, Ban
Chủ nhiệm Khoa Thực phẩm sự kính trọng, niềm tự hào được học tập và nghiên cứu
tại Trường Đại học Nha Trang trong những năm qua
Sự biết ơn sâu sắc nhất tôi xin được giành cho thầy: TS. Đỗ Văn Ninh –Phó Hiệu
Trường Đại học Nha Trang đã tận tình hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình
thực hiện luận văn.
Xin cám ơn: PGS. TS. Trang Sĩ Trung Phó Hiệu Trường Đại học Nha Trang,
PGS.TS. Ngô Đăng Nghĩa – Viện trưởng Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường,
TS. Vũ Ngọc Bội – Trưởng khoa Thực phẩm, GS.TS. Trần Thị Luyến, TS. Nguyễn
Anh Tuấn và các thầy cô phản biện đã cho tôi những lời khuyên quí báu để công
trình nghiên cứu được hoàn thành có chất lượng, cùng gia đình và bạn bè luôn luôn
chia sẻ, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu.
1.3 Nghiên cứu và ứng dụng probiotics trong thức ăn gia cầm 16
1.3.1 Lịch sử probiotic 16
1.3.2 Định nghĩa probiotics 17
iv
1.3.3 Hệ vi sinh vật đường ruột và tác động của hệ vi sinh vật đến sức khỏe
của vật nuôi 17
1.3.4 Cơ chế tác dụng của probiotics 19
1.3.5 Tiêu chuẩn lựa chọn chủng vi sinh vật probiotic 20
1.3.5.1. Lựa chọn các chủng probiotic 20
1.3.5.2 Những vi sinh vật thường được sử dụng cho ăn trực tiếp 21
1.3.5.3. Yêu cầu an toàn đối với các chủng vi sinh vật probiotic 23
1.3.5.4 Đặc tính của chế phẩm probiotics sử dụng trong thí nghiệm 23
1.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về ảnh hưởng của lysine,
probiotics trên gà 24
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 24
1.4.1.1 Nghiên cứu trong nước về ảnh hưởng của lysine 24
1.4.1.2 Nghiên cứu trong nước về ảnh hưởng của probiotics 25
1.4.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 26
1.4.2.1 Nghiên cứu ngoài nước về ảnh hưởng của lysine 26
1.4.2.2 Nghiên cứu ngoài nước về ảnh hưởng của probiotics 27
1.4.3 Nhận xét 27
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.2 Nội dung nghiên cứu 28
2.3 Phương pháp nghiên cứu 29
2.3.1 Bố trí thí nghiệm 29
2.3.2. Xây dựng khẩu phần thức ăn 30
2.3.3. Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 32
2.4. Phương pháp xử lý số liệu 35
vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Từ đầy đủ
CS Cộng sự
ĐVT Đơn vị tính
ME Năng lượng trao đổi
P Khối lượng
TĂ Thức ăn
VSV Vi sinh vật
ĐC Đối chứng
TT Tăng trọng
TN Thí nghệm
VCK Vật chất khô vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
Hình 2.1: Gà Ta 4 tuần tuổi 28
Hình 3.1: Khối lượng cơ thể gà qua các tuần tuổi ở TN I 37
Hình 3.2: Tốc độ sinh trưởng của gà ta qua các giai đoạn TNI 38
Hình 3.3a : Thức ăn gà thu nhận trong các giai đoạn nuôi TNI 41
Hinh 3.3b : Hiệu quả chuyển hóa thức ăn của gà qua các giai đoạn TNI. 42
Hình 3.4: Tỉ lệ thịt xẻ của gà giữa các lô thí nghiệm 45
Hình 3.5: Khối lượng gà qua các tuần tuổi TNII. 47
Hình 3.6: Tốc độ sinh trưởng của gà ta TNII 48
Hinh 3.7a: Thức ăn thu nhận của gà ở TNII 49
Hình 3.7b: Hiệu quả chuyển hóa thức ăn của gà qua các giai đoạn nuôi TNII (kg
TĂ/ kg TT) 50
1
MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây vấn đề vệ sinh và an toàn thực phẩm của các sản
phẩm thực phẩm cho con người ngày càng được quan tâm do việc lạm dụng các loại
hóa chất, phụ gia độc hại trong bảo quản thực phẩm hay do việc lạm dụng chất kích
thích tăng trưởng, chất kháng sinh trong chăn nuôi Chúng ta đã chứng kiến rất nhiều
"vấn nạn" trong lĩnh vực thực phẩm, trong đó có việc sử dụng thuốc kích thích sinh
trưởng trong thức ăn cho gà, lợn. Hiện chúng ta đã nhập nhiều giống gà có năng suất
cao và tỷ lệ nạc cao, tuy thế người chăn nuôi và các công ty chế biến thức ăn bao giờ
cũng muốn vật nuôi ngày càng có năng suất cao. Dẫn đến tình trạng lạm dụng các chất
kích thích tăng trưởng gây mất an toàn thực phẩm. Chúng ta biết rằng thức ăn là một
trong những yếu tố chính tác động đến năng suất, phẩm chất của thịt động vật. Trong
đó tác động có tính chất quyết định của thức ăn tới tốc độ tăng trọng và tỷ lệ thịt là do
protein, nhất là thành phần và các tỷ lệ axit amin có trong khẩu phần quyết định. Bên
- Ảnh hưởng của việc bổ sung probiotics đến khả năng sinh trưởng và hiệu quả
sử dụng thức ăn của gà Ta nuôi thương phẩm.
Ý nghĩa khoa học của đề tài
Các số liệu nghiên cứu của đề tài là số liệu thực tế bổ sung cho sự hiểu biết về
nhu cầu của lysine trong khẩu phần thức ăn của gà Ta. Xác định mật độ vi sinh vật có lợi
trong khẩu phần thức ăn để hiệu quả sử dụng thức ăn của gà Ta nuôi thương phẩm cao
nhất đồng thời chống chịu bệnh tật.
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Thành công của đề tài là bước đầu nghiên cứu về ảnh hưởng của lysine trong
thức ăn đến tốc độ sinh trưởng, chất lượng của thịt gà ta, ảnh hưởng của probiotics trong
thức ăn đến tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của gà ta nuôi thương phẩm
trong giai đoạn sinh trưởng (4 tuần tuổi đến 16 tuần tuổi).
Thành công của đề tài sẽ là cơ sở dữ liệu cho nghiên cứu sản xuất thức ăn riêng
cho gà Ta nhằm hướng tới một nền chăn nuôi sạch và bền vững.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 GIỚI THIỆU VỀ GÀ TA
1.1.1 Nguồn gốc và đặc điểm ngoại hình của gà ta
Gà ta (danh pháp khoa học: Gallus gallus domesticus) là một loài chim đã được
con người thuần hoá cách đây hàng ngàn năm. Có ý kiến cho rằng loài này có thủy tổ
từ loài gà rừng lông đỏ nhiệt đới ở vùng Đông Nam Á.
Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Aves
Bộ (ordo): Galliformes
ý khi nuôi gà ta để tránh stress có thể xảy ra. Gà ta thuộc loài ưa hoạt động, ban ngày
thường chúng không ngủ, trừ giai đoạn gà con. Ban đêm chúng ngủ thành từng bầy.
Gà ta rất thích mổ những vật lạ, những sọi dây tải, hay những chiếc que nhỏ
trong chuồng, thậm chí cả nền chuồng, tường chuồng. Do vậy thường làm tổn thương
đến niêm mạc miệng của chúng, vì vậy trong chuồng ta không nên để bất cứ vật gì
ngoài máng ăn, máng uống, nền, tường chuồng phải làm chắc chắn.
Gà ta cũng có nhu cầu tắm nắng thường tập trung tắm nắng từ 9h-11h sáng và
3h- 4h chiều. Khi tắm nắng gà thường bới một hồ cát thật sâu rồi rúc mình xuồng hố,
cọ lông vào cát và nằm phơi dưới nắng.
Gà ta thành thục sinh dục khi được 6÷ 7 tháng tuổi, khi giao phối thường bắt
đầu hành vi ghẹ gà mái của con trống đó chính là sự khoe mẽ. Ngoài ra, chúng còn thể
hiện thông qua tiếng gáy dài. Gà mái thì đẻ trứng tập trung một chỗ. Mỗi chu kỳ sinh
sản đẻ được 13 ÷ 15 quả trứng, sản lượng trứng hàng năm từ 50 ÷ 60 quả.
Thịt gà Ta rất ngon nhưng gà Ta hiện được nuôi không tập trung nên sản lượng
thịt không đáp ứng đủ nhu cầu của người tiêu dùng, mặc khác thức ăn chủ yếu của gà
5
Ta chủ yếu là lúa và ngô không cung cấp đủ dinh dưỡng cho sự phát triển bình thường
của gà dẫn đến bệnh tật, thời gian nuôi dài nên hiệu quả kinh tế không cao, những
nghiên cứu khoa học về giống gà Ta chưa được quan tâm nhiều. Do việc nghiên cứu
tạo ra một khẩu phần thức ăn phù hợp cho gà Ta để khai thác tối đa tiềm năng di
truyền của chúng là rất cần thiết.
1.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ AXIT AMIN VÀ PROTEIN TRONG THỨC
ĂN GIA CẦM
1.2.1. Giá trị dinh dưỡng protein.
Protein cần thiết cho động vật như là nguồn dinh dưỡng không thể thay thế và
đứng hàng đầu trong đời sống của động vật. Nhờ protein có sẵn trong nguyên liệu thức
ăn gia cầm mới có thể tổng hợp được protein của cơ thể và các sản phẩm, ngoài ra còn
tổng hợp ra các chất xúc tác sinh học như hormone và enzyme, cùng với các hợp chất
khác đóng vai trò quan trọng trong các quá trình sinh lý. Nói đến protein trong quá
Cần bảo quản tốt bột cá để giữ chất lượng protein tốt, nếu bảo quản không tốt
mỡ trong bột cá sẽ bị ôi làm giảm chất lượng dinh dưỡng và gây độc cho vật nuôi.
Trong chăn nuôi gia cầm người ta xác định nhu cầu protein của vật nuôi theo
protein thô và protein tiêu hoá.
* Protein thô
Protein thô của thức ăn được xác định bằng cách đo hàm lượng nitơ (N) trong
thức ăn nhân với hệ số 6,25.
Protein thô = N x 6,25.
Hàm lượng nitơ của protein bình quân là 16%. Vì vậy, một chất hữu cơ nào đó
chứa x gam nitơ thì lượng protein thô của chất hữu cơ đó là x.N.(100/16) = x.N.6,25.
Thực chất protein của các loại thức ăn khác nhau chứa một hàm lượng nitơ
khác nhau và thường biến động từ 15 đến 17,6% so với lượng protein. Vì thế, để xác
định protein thô của các loại thức ăn khác nhau phải dùng các hệ số khác nhau. Ví dụ:
6,38 đối với sữa; 5,8 đối với ngũ cốc và khô dầu; 5,5 đối với các loại protein có chất
lượng kém hơn [ 5].
Protein thô chứa protein thuần và hợp chất nitơ phi protein. Nitơ phi protein
thường chiếm 20 - 25% lượng nitơ tổng số ở thức ăn xanh, 70 - 80% ở củ cải và 10% ở
thức ăn hạt.
Đối với gia cầm, người ta thường xác định nhu cầu protein hàng ngày cho
chúng theo khối lượng mỗi ngày hoặc theo nồng độ phần trăm trong thức ăn hỗn hợp.
7
* Protein tiêu hóa
Protein tiêu hóa là phần protein hấp thu được so với phần ăn vào.
Protein tiêu hóa = Protein thô x Tỷ lệ tiêu hóa
Protein thu nhận (g) - Protein ở phân (g)
Tỷ lệ protein tiêu hóa (%) =
1.2.3 Dinh dưỡng axit amin của gia cầm
1.2.3.1 Nhu cầu axit amin
Trong dinh dưỡng vật nuôi, nhu cầu về axit amin chủ yếu là nhu cầu về các
axit amin không thay thế. Khi thiếu bất kỳ một axit amin không thay thế nào trong
khẩu phần thì quá trình tổng hợp protein bị rối loạn, thậm chí còn phá hủy trao đổi
chất của cơ thể. Điều đó làm giảm khả năng sinh trưởng cũng như sức sản xuất của
gia cầm. Vì vậy, cần cung cấp đầy đủ các axit amin không thay thế theo đúng nhu
cầu của mỗi loại vật nuôi. Có 4 cách thông thường biểu thị nhu cầu axit amin [ 19]:
- Số gam axit amin cho vật nuôi một ngày
- Số gam axit amin cho 1000 kcal năng lượng trao đổi (ME) của khẩu phần
- Tỷ lệ phần trăm axit amin tính theo khẩu phần
- Tỷ lệ phần trăm axit amin tính theo protein
Cách tính thứ nhất là cách chính xác nhất để thể hiện nhu cầu về axit amin
nhưng rất khó áp dụng trong sản xuất. Cách thứ ba và thứ tư tiện lợi trong thực tế lập
khẩu phần ăn cho gà nên hiện nay đang được sử dụng nhiều hơn.
* Xác định nhu cầu axit amin
Khi xác định nhu cầu axit amin cho gia cầm cần chú ý đến các nhu cầu sau [ 26]
- Nhu cầu cho tăng trọng tối đa
- Nhu cầu cho hiệu quả chuyển hóa thức ăn tối ưu
- Nhu cầu cho tỷ lệ thịt xẻ tối đa
- Nhu cầu cho thành phần hóa học thân thịt tối ưu
- Nhu cầu cho tỷ lệ thịt lườn (cơ ngực) cao nhất
Những kết quả đã nghiên cứu cho biết hàm lượng axit amin cần cung cấp cho
mỗi nhu cầu trên không hoàn toàn đồng nhất. Vì vậy, rất khó để đưa ra nhu cầu về các
axit amin đảm bảo tối ưu cho cả 5 nhu cầu trên. Chính vì vậy, tùy từng điều kiện cụ thể
về kinh tế và kỹ thuật mà nên ưu tiên cho nhu cầu nào được coi là quan trọng nhất.
Tỷ lệ các loại axit amin theo lysine trong khẩu phần cho gia cầm như sau [32]:
9
Bảng 1.2: Tỷ lệ axit amin lý tưởng theo lysine
Trong khẩu phần thức ăn của gia cầm có các axit amin mà hàm lượng của nó
thấp hơn so với nhu cầu của con vật từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng protein. Người
ta gọi các axit amin thiếu trong khẩu phần là axit amin giới hạn hay là yếu tố hạn chế.
Như vậy, axit amin giới hạn là axit amin mà số lượng của nó thường thiếu so với nhu
cầu, từ đó làm giảm giá trị sinh học của protein trong khẩu phần. Axit amin nào thiếu
nhất và làm giảm hiệu suất sử dụng protein lớn nhất thì gọi là axit amin hạn chế thứ
nhất (yếu tố số một) và theo cách lý giải như vậy, những axit amin tiếp theo đó ít thiếu
hơn so với nhu cầu và với mức axit amin khác được gọi là axit amin giới hạn thứ 2, rồi
đến thứ 3, thứ 4 Nguyên tắc cơ bản để bổ sung axit amin vào khẩu phần vật nuôi là
theo trình tự giới hạn. Axit amin giới hạn thứ nhất được bổ sung đầu tiên sau đó đến
axit amin giới hạn thứ 2, thứ 3 [1]
Nếu khẩu phần cho gia cầm chủ yếu sử dụng nguyên liệu ngô và đậu tương thì
axit amin giới hạn thứ nhất là methionine [10]
Vai trò của axit amin trong cơ thể rất đa dạng, là thành phần chủ yếu của
protein, axit amin giữ vai trò quan trọng trong nuôi dưỡng gia cầm. Để quá trình tạo và
đổi mới protit được tiến hành liên tục và cơ thể gia cầm phát triển một cách tối ưu, cần
phải cung cấp cho chúng một lượng axit amin cần thiết với tỷ lệ nhất định trong thức ăn.
1.2.3.4 Sự chuyển hóa giữa các axit amin
Giữa các axit amin có thể chuyển hóa lẫn nhau bằng phản ứng oxy hóa khử,
hoặc phản ứng chuyển amin. Vì vậy, khi thiếu loại này có thể đưa đến thiếu loại kia,
hoặc khi trong thức ăn có nhiều loại này có thể làm giảm nhu cầu loại kia. Ví dụ từ
phenylalanine bằng phản ứng oxy hóa khứ có thể chuyển thành tyrosine. Từ
methioninie có thể chuyển hóa thành tyrosine, cystine để thay thế phenylalanine,
methionine. Vì có sự chuyển hóa một chiều nên khi tính nhu cầu, người ta thường tính
đơn và đôi (methionine và methionine + cystine). Ngoài sự chuyển hóa một chiều, còn
có sự chuyển hóa hai chiều, ví dụ như giữa glycine và serine. Trường hợp này thường
tính gộp hai loại thành một.
11
1.2.3.5 Vấn đề cân bằng axit amin trong khẩu phần
1.2.3.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu axit amin của gia cầm
- Giống, giới tính, hướng sản xuất và lứa tuổi: Nhu cầu về axit amin giữa các
dòng, giống là khác nhau. Những giống có khối lượng lớn, có tốc độ sinh trưởng
nhanh, năng suất trứng cao thì nhu cầu về axit amin của chúng lớn hơn những giống
nhẹ cân, tốc độ sinh trưởng kém, khả năng sản xuất thấp. Gia cầm mái có nhu cầu axit
amin thấp hơn gia cầm trống vì cùng lứa tuổi nhưng có tốc độ sinh trưởng con trống
cao hơn con mái. Gia cầm con cần nhiều arginine và glycine hơn gia cầm trưởng
thành, gia cầm đẻ trứng cần nhiều glutamic.
- Mức năng lượng trong khẩu phần: Năng lượng trong khẩu phần cao thì nhu
cầu axit amin cũng cao. Khẩu phần có năng lượng thấp sẽ được động vật ăn nhiều hơn
so với khẩu phần có năng lượng cao. Nếu nồng độ các axit amin là không đổi thì ở
khẩu phần có năng lượng cao, lượng thức ăn thu nhận sẽ giảm vì thế mà nhu cầu về
axit amin có thể không được thoả mãn. Như vậy, khi khẩu phần có năng lượng tăng thì
cũng cần tăng nhu cầu về axit amin. Ví dụ như, nếu trong 1 kg thức ăn có năng lượng
1900 kcal ME, nhu cầu về lysine là 0,53% thì khi năng lượng đến 2300 kcal ME thì
nhu cầu về lysine phải là 0,71%.
- Mức protein thô trong khẩu phần: Mức protein trong khẩu phần cao sẽ gây ra
quá trình phân giải protein cho năng lượng đã sinh ra một lượng lớn các chất có hại
cho cơ thể. Nếu protein thừa, khi xuống manh tràng sẽ bị vi sinh vật lên men gây thối
làm viêm sưng ruột, tiêu chảy.
Nhu cầu amino acid tính theo tỷ lệ % protein thô trong khẩu phần tăng lên khi
protein thô của khẩu phần giảm đi. Mối tương quan giữa lysine và protein thô được
biểu diễn qua phương trình hồi quy.
Y = 7,23 – 0,131X
Y: % của Lysine
X: % protein thô của khẩu phần
Figueroa và Cs năm 2003 đã thí nghiệm bổ sung lysine, methionine, tryptophan
và threonine vào 2 khẩu phần chứa 12% và 11% protein thô để bù lại lượng protein có
trong khẩu phần chứa 16% protein thô. Việc giảm protein khẩu phần sẽ có ý nghĩa nếu
1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cho thịt
Giá trị dinh dưỡng của thịt chủ yếu do protein quyết định. Protein thịt là loại
protein hoàn thiện chứa tất cả các amino acid cần thiết cho cơ thể con người. Thịt theo
nghĩa rộng bao gồm các tổ chức cơ, mỡ, xương, da và các cơ quan bộ phận khác của
con vật. Theo nghĩa hẹp, thịt gồm các cơ và tổ chức, do đó đánh giá khả năng cho thịt
có liên quan đến khả năng sinh trưởng tích lũy của các bộ phận này.
Mô cơ là mô có giá trị thực phẩm cao nhất, nó chiếm 35 – 45% khối lượng cơ
thể con vật bao gồm 2 loại cơ vân và cơ trơn. Cơ cấu tạo từ các tế bào đa nhân, co giãn
theo chiều dài sợi cơ, sợi cơ có kích thước từ 10 – 100
m
, chiều dài 1 cm và được
chia thành 3 phần: màng cơ, cơ chất và nhân. Thành phần hóa học của mô cơ là:
Nước : 73 – 75%
Protein : 18 – 21%
Lipit : 1 – 3%
Khoáng : 1%
Trong chăn nuôi gà thịt để đánh giá khả năng cho thịt dựa vào các tiêu chí sau:
14
Tỷ lệ thịt móc hàm (%), tỷ lệ thịt xẻ (%), tỷ lệ thịt nạc (%), tỷ lệ mỡ bụng (%),
tỷ lệ xương, da (%)
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, khả năng cho thịt
- Yếu tố di truyền
Giống luôn là yếu tố hàng đầu ảnh hưởng đến năng suất chăn nuôi. Các giống
gia cầm khác nhau có khả năng tăng trọng, tiêu tốn thức ăn khác nhau, khả năng này
phụ thuộc vào quá trình sinh trưởng của con vật. Quá trình tích lũy các chất mà chủ
yếu là protein, tốc độ và phương thức sinh tổng hợp protein phụ thuộc vào hoạt động
của hệ thống gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể.
Theo nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy: mức độ tăng trọng hàng ngày của
Trong các thức ăn có nguồn gốc thực vật cho vật nuôi đặc biệt là ngũ cốc, rau xanh
thường chứa quá ít hoặc không đủ protein, đã vậy thành phần amino acid của những
nguồn protein này còn khác xa so với protein từ động vật. Do vậy việc nghiên cứu bổ
sung thêm các amino acid vào thức ăn chăn nuôi là cần thiết nhằm đảm bảo tính cân đối
của thức ăn và nâng cao tốc độ sinh trưởng.
1.2.7. Vai trò của lysine
Lysine là một axit amin không thay thế rất cần cho hoạt động sống của người và
động vật. Nghĩa là cơ thể không tự tổng hợp được nó, phải lấy từ nguồn cung cấp bên
ngoài, hay nói cách khác là lấy từ nguồn thức ăn.
Lysine giữ vai trò sống còn trong sự tổng hợp protein. Nó là chìa khoá trong
việc sản xuất các enzyme, hoocmon và các kháng thể giúp cơ thể tăng cường sức đề
kháng và chống trả với bệnh tật.
Lysine giúp kích thích ăn, gia tăng chuyển hoá hấp thu tối đa dinh dưỡng.
Nó cũng giúp tăng cường hấp thu calci, ngăn cản sự bài tiết khoáng chất này ra
ngoài cơ thể nên nó có tác dụng tăng trưởng chiều cao, ngăn ngừa bệnh còi xương,
loãng xương.
Lysine có nhiều trong trứng, thịt, sữa, cá, đậu nành… nhưng dễ bị phá huỷ
trong quá trình chế biến, nấu nướng thức ăn.
Cơ thể động vật thiếu lysine cơ thể sẽ khó hoạt động bình thường, đặc biệt ở
động vật còn non sẽ xảy ra hiện tượng chậm lớn, dễ thiếu men tiêu hoá và nội tiết tố.
16
Chính vì thế lysine là một loại axít amin cần được thêm vào khẩu phần ăn của gia cầm,
gia súc.
1.3 NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG PROBIOTICS TRONG THỨC ĂN GIA
CẦM
1.3.1 Lịch sử probiotic
Những nghiên cứu về probiotic mới chỉ bắt đầu vào thế kỷ 20, Henry Tisser
(1900), một bác sỹ người Pháp đã quan sát và thấy rằng phân của những đứa trẻ mắc
bệnh tiêu chảy có ít vi khuẩn lạ hình trứng hoặc hình chữ Y hơn những đứa trẻ khỏe mạnh.