BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
@&?
HOÀNG NGHĨA MẠNH
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN, MẬT ĐỘ
VÀ ĐỘ MẶN LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG
CỦA CÁ NÂU (Scatophagus argus Linnaeus, 1766) NUÔI
TẠI THỪA THIÊN HUẾ Mã số: 60.62.70 LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Nuôi trồng Thủy sản
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS.TS. NGUYỄN ĐÌNH MÃO
Cuối cùng, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới quý thầy cô giáo Trường Đại học
Nông Lâm Huế đã có những chỉ dạy, hướng dẫn tôi trong thời gian thực hiện đề tài.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các em sinh viên và gia đình đã luôn hỗ trợ tôi
trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu.
III
MỤC LỤC
Nội dung Trang
Lời cam đoan I
Lời cảm ơn II
Mục lục III
Danh mục các chữ viết tắt VI
Danh mục các bảng VII
Danh mục các hình VIII
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Đặc điểm sinh học của cá nâu (Scatophagus argus Linnaeus, 1766) 4
2.1.1. Đặc điểm phân loại và phân bố 4
2.1.2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo 5
2.1.3. Đặc điểm sinh trưởng 6
2.1.4. Đặc điểm dinh dưỡng 7
2.1.5. Đặc điểm sinh sản 7
2.2. Tình hình nghiên cứu cá nâu- Scatophagus argus 8
2.2.1. Nghiên cứu về phân loại, thành phần loài của cá nâu 8
2.2.2. Nghiên cứu đặc điểm sinh học dinh dưỡng của cá nâu 9
2.2.3. Nghiên cứu đặc điểm sinh sản và kỹ thuật sản xuất giống cá nâu 11
2.2.4. Nghiên cứu nuôi thương phẩm cá nâu 13
2.3. Tình hình khai thác và nuôi cá nâu ở Thừa Thiên Huế 15
2.3.1. Tình hình khai thác cá nâu ở Thừa Thiên Huế 15
2.3.2. Nuôi cá nâu ở Thừa Thiên Huế 15
2.4. Tình hình nghiên cứu và sử dụng thức ăn trong nuôi thủy sản 16
3.1.5. Khí NH
3
33
3.2. Ảnh hưởng của các loại thức ăn có tỷ lệ protein khác nhau trong thành phần 34
lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá nâu
3.2.1. Ảnh hưởng của các loại thức ăn có tỷ lệ protein khác nhau trong thành phần 34
lên sinh trưởng của cá nâu
3.2.2. Ảnh hưởng của các loại thức ăn có tỷ lệ protein khác nhau trong thành phần 40
lên tỷ lệ sống và hệ số chuyển hóa thức ăn của cá nâu
V
3.3. Ảnh hưởng của mật độ nuôi lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá nâu 42
3.3.1. Ảnh hưởng của các mức mật độ khác nhau lên sinh trưởng của cá nâu 42
3.3.2. Ảnh hưởng của các mức mật độ khác nhau lên tỷ lệ sống của cá nâu 46
3.3.3. Sự phân cỡ của cá nâu (Scatophagus argus) ở các mật độ khác nhau 47
3.4. Ảnh hưởng của các mức độ mặn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá nâu 50
3.4.1. Ảnh hưởng của các mức độ mặn khác nhau lên sinh trưởng của cá nâu 50
3.4.2. Ảnh hưởng của các mức độ mặn khác nhau lên tỷ lệ sống của cá nâu 54
3.4.3. Sự phân cỡ của cá nâu (Scatophagus argus) ở các độ mặn khác nhau 55
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ LỤC 67
VI
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KL : Khối lượng.
CD : Chiều dài.
W
S
: (Start Weight) khối lượng cá khi bắt đầu thí nghiệm.
L
RGL : (Raletive Gut Length) tương quan giữa chiều dài thân và chiều dài ruột.
VII
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng Trang
Bảng 1: Thành phần dinh dưỡng của nhóm thức ăn giàu protein nguồn gốc thực vật 17
Bảng 2: Thành phần dinh dưỡng của nhóm thức ăn giàu protein nguồn gốc động vật 17
Bảng 3: Các nhu cầu protein và năng lượng của một số loài cá biển 20
Bảng 4: Nhu cầu acid amin không thể thay thế của một số loài cá biển (%Protein) 21
Bảng
5: Nhu cầu lipid, acid béo, carbohydrate, vitamin và khoáng của cá biển 22
Bảng 6: Thành phần dinh dưỡng của các nguyên liệu dùng phối trộn thức ăn 25
Bảng 7: Thành phần nguyên liệu của các công thức thức ăn trong thí nghiệm 26
Bảng 8: Biến động của một số yếu tố môi trường trong thí nghiệm 31
Bảng 9: Thành phần dinh dưỡng cơ bản của các loại thức ăn thí nghiệm 34
Bảng 10: Một số chỉ tiêu sinh trưởng của cá nâu trong thí nghiệm I 35
Bảng 11: Tỷ lệ sống và hệ số chuyển hóa thức ăn của cá ở các nghiệm thức thức ăn 40
Bảng 12: Một số chỉ tiêu sinh trưởng của cá nâu trong thí nghiệm II 42
Bảng 13: Tỷ lệ sống của cá nâu ở các mật độ nuôi khác nhau 46
Bảng 14: Sự phân cỡ của cá nâu ở các mật độ nuôi khác nhau 47
Bảng 15: Một số chỉ tiêu sinh trưởng của cá nâu trong thí nghiệm III 50
Bảng 16: Tỷ lệ sống của cá nâu ở các mức độ mặn khác nhau 54
Bảng 17: Sự phân cỡ của cá nâu ở các nghiệm thức độ mặn khác nhau 55
VIII
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình Trang
Hình 1: Bản đồ phân bố của cá nâu (Scatophagus argus) trên thế giới 5
Hình 2: Cá nâu (Scatophagus argus) 5
Hình 3: Một số loài thuộc họ cá Nâu – Scatopagiidae 9
Hình 4: Bể thí nghiệm 23
Hình 5: Giai nuôi thí nghiệm 24
Hình 26: Tốc độ tăng chiều dài hàng ngày DGR
L
(cm/ngày) ở thí nghiệm II 45
Hình 27: Tỷ lệ sống của cá nâu ở thí nghiệm II 45
Hình 28: Sự phân cỡ về chiều dài của cá nâu ở các mật độ nuôi 48
Hình 29: Sự phân cỡ về khối lượng của cá nâu ở các mật độ nuôi 49
Hình 30: Sự tăng trưởng khối lượng của cá nâu các đợt kiểm tra thí nghiệm III 52
Hình 31: Mức tăng khối lượng tương đối WG (%) ở thí nghiệm III 52
Hình 32: Tốc độ tăng khối lượng hàng ngày DGR
w
(g/ngày) ở thí nghiệm III 52
Hình 33: Chỉ số sinh trưởng hàng ngày DGI (%/ngày) ở thí nghiệm III 52
Hình 34: Sự tăng trưởng chiều dài của cá nâu các đợt kiểm tra ở thí nghiệm III 53
Hình 35: Mức tăng chiều dài tương đối LG (%) ở thí nghiệm III 53
Hình 36: Tốc độ tăng chiều dài hàng ngày DGR
L
(cm/ngày) ở thí nghiệm III 53
Hình 37: Tỷ lệ sống (%) của cá nâu ở thí nghiệm III 53
Hình 38: Sự phân cỡ chiều dài của cá nâu ở các mức độ mặn 57
Hình 39: Sự phân cỡ khối lượng của cá nâu ở các mức độ mặn 58
1
MỞ ĐẦU
Cá nâu (Scatophagus argus) là một đối tượng có giá trị kinh tế. Cá có nhiều ưu
điểm như giá trị thương phẩm cao, rộng muối, sức sống cao, thức ăn chủ yếu thực vật
thủy sinh, mùn bã hữu cơ và là đối tượng mang những nét đặc trưng riêng ở vùng đầm
phá Tam Giang - Cầu Hai [10]. Do tập tính ăn tạp của cá, nên loài cá nâu rất có
triển vọng trong nuôi kết hợp với các loài cá khác, nhất là trong mô hình tôm - rừng.
Cá nâu còn được nuôi làm cá cảnh [4]. Hiện nay, nguồn lợi cá nâu tự nhiên ở khu vực
đầm phá Tam Giang - Cầu Hai giảm sút nghiệm trọng cần có những nghiên cứu để
nghiên cứu về cá nâu còn rất hạn chế, chủ yếu tập trung vào phân loại, mô tả và một số
dẫn liệu chung về sinh học, còn nghiên cứu chuyên sâu về dinh dưỡng và nuôi thịt cá
nâu hầu như còn rất ít.
Như vậy, để nuôi cá nâu đạt hiệu quả cao không chỉ cần con giống tốt mà thức
ăn, mật độ nuôi và yếu tố sinh thái môi trường đóng vai trò vô cùng quan trọng, đề tài
“Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, mật độ và độ mặn lên sinh trưởng và tỷ lệ
sống của cá nâu (Scatophagus argus Linnaeus, 1766) nuôi tại Thừa Thiên Huế” sẽ
góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho nuôi thương phẩm cá nâu ở Thừa Thiên Huế.
Mục tiêu của đề tài:
Tìm hiểu được mức protein có trong khẩu phần ăn, mật độ nuôi và độ mặn thích
hợp cho sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá nâu trong nuôi thương phẩm. Kết quả nghiên
cứu của đề tài góp phần làm giảm chi phí thức ăn bằng cách nâng cao hiệu quả sử
dụng thức ăn và nâng cao tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá nâu bằng việc xác định
nuôi với mật độ và độ mặn phù hợp nhằm tăng lợi nhuận cho người nuôi. Đồng thời,
xây dựng nên các chỉ tiêu kỹ thuật trong nuôi thương phẩm cá nâu phù hợp với điều
kiện sinh thái vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai.
Để đạt các mục tiêu trên đề tài đã thực hiện những nội dung nghiên cứu sau:
1- Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn có tỷ lệ protein khác nhau trong
khẩu phần lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá nâu.
2- Nghiên cứu ảnh hưởng của các mật độ nuôi khác nhau lên sinh trưởng và tỷ lệ
sống của cá nâu.
3- Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức độ mặn khác nhau lên sinh trưởng và tỷ lệ
sống của cá nâu.
3
Trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của giáo
viên hướng dẫn, các thầy cô giáo và các em sinh viên, cùng với sự nỗ lực của bản thân
nhưng luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả kính mong nhận được sự đóng góp
ý kiến của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn.
Nha Trang, tháng 12 năm 2010.
sông thông ra biển như: Vinh Hiền (cửa Tư Hiền); Thuận An. Chúng có đặc tính phân
bố theo bầy đàn, sống nơi có giá thể như các hốc, rễ cây trong các ao, đầm, sông, bãi
triều và những vùng nước lợ, mặn [19].
5
Hình 1: Bản đồ phân bố của cá nâu (Scatophagus argus) trên thế giới [55].
2.1.2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo
Cá Nâu- Scatophagus argus có thân ngắn, cao và rất dẹp bên, nhìn ngang gần
như tròn. Viền trước vây lưng dốc đứng xuống và có vết lõm sau mắt. Đầu nhỏ và
ngắn. Miệng trước nhỏ, rạch nằm ngang, ngắn, không kéo dài tới viền trước mắt. Trên
hàm có răng nhỏ, mịn. Rãnh sau môi trên gián đoạn ở giữa. Mắt lớn vừa nằm trên
đường ngang kẻ từ góc miệng và gần như cách đều giữa mõm và điểm cuối nắp mang.
Khoảng cách 2 mắt cong lồi và tương đương 1,5 lần đường hình mắt [19].
Hình 2: Cá nâu (Scatophagus argus)
Lỗ mũi trước tròn, dẹt. Cạnh trước xương lệ có răng cưa, xương nắp mang có một
gai. Màng mang hẹp và liền với eo. Rìa tia vây lưng và vây hậu môn gần như thẳng
đứng. Viền đuôi thẳng đứng hoặc hơi lồi. Khởi điểm vây lưng nằm ngang phần cuối
nắp mang, gai cứng nhọn, gai thứ IV, V và VI dài hơn các gai khác. Trước gốc vây
6
lưng có một gai không cử động được, có hướng về phía đầu. Khởi điểm của vây hậu
môn dưới phần gai cứng sau của tia vây lưng [19].
Vẩy lược nhỏ, phủ khắp thân, đầu, gốc vây hậu môn, vây lưng và vây đuôi.
Đường bên hoàn toàn, từ lỗ mang cong lên phía lưng sau đó chạy vào giữa cán đuôi.
Lưng có màu xanh nhạt, bụng trắng. Thân có các đốm tròn màu nâu lớn nhỏ, kích
thước không giống nhau, sắp xếp xen kẽ trên cơ thể. Các đốm này nhạt dần về phía
bụng. Rìa vây lưng đen thẫm, màng vây nhạt. Tia phân nhánh vây lưng, vây hậu môn
và vây đuôi có vân đen nhạt [5].
Phương trình sinh trưởng Von Bertalanffy (1954) về chiều dài và khối lượng của
cá nâu [19]:
Về chiều dài: L
t
= 328,9 [1 – e
-0,25(t+0,88)
]
Về khối lượng: W
t
= 2641,1 [1 – e
-0,038(t+0,017)
]
3,1453
.
7
2.1.4. Đặc điểm dinh dưỡng
Thành phần thức ăn của cá Nâu rất đa dạng, gồm 28 loại đại diện cho 6 nhóm
khác nhau (3 ngành Tảo và 2 ngành động vật không xương sống và mùn bã hữu cơ).
Trong đó, ngành Tảo Silic - Bacillariophycophyta chiếm ưu thế về thành phần giống
(15 giống), ngành Tảo Lam - Cyanophyta có 3 đại diện và ngành Tảo Đỏ -
Rhodophycophyta có 1 đại diện. Trong thành phần thức ăn của cá Nâu còn gặp các đại
diện của 2 ngành động vật không xương sống là ngành Giun đốt - Annelida và ngành
Chân khớp - Arthropoda với mỗi ngành 4 đại diện [19; 34].
Cá Nâu ít chọn lọc thức ăn mà sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhau có trong
thuỷ vực. Thành phần thức ăn gồm cả thực vật lẫn động vật. Trong số những loài thức
ăn phân tích được trong ống tiêu hóa, các ngành tảo chiếm ưu thế hơn về số lượng với
61,54 %, còn động vật chỉ chiếm 38,46 %. Điều đó cho thấy, cá Nâu thích ăn thực vật
hơn động vật [19].
Các loại thức ăn như: Oscillatoria, Achnanthes, Polysiphonia, Amphora, Codonelliae,
(P.Kungvankij và ctv., 1986) [28].
• Mùa vụ sinh sản
Mùa vù sinh sản của cá tự nhiên vào tháng 4- 5 và tháng 7- 8 hàng năm. Hệ số thành
thục trung bình quần thể theo tháng cao nhất đạt 16,4% và hệ số thành thục cá thể lớn nhất
đạt 27,2% [28]. Theo kết quả điều tra phỏng vấn người dân ven biển Thừa Thiên Huế thì
cá Nâu giống thường xuất hiện vào khoảng tháng 5- 7 và 9-12 âm lịch hàng năm [19; 34].
2.2. Tình hình nghiên cứu cá nâu- Scatophagus argus
2.2.1. Nghiên cứu về phân loại, thành phần loài của cá nâu
Cá Nâu đã được mô tả bởi các tác giả như: Mai Đình Yên (1992); Khóa định loại
của FAO; Nguyễn Văn Hảo, Ngô Sỹ Vân (2005) trong "Cá nước ngọt Việt Nam", tập
3; sách đỏ Việt Nam (1992), phần động vật. Về phân loại, Cá Nâu Scatophagus argus
(Linnaeus, 1766) là loài duy nhất trong bốn loài thuộc họ Scatophagidae, bộ cá Vược
Perciformes phân bố ở ven biển Việt Nam [5; 38; 55].
Họ cá Nâu - Scatophagiidae là một họ cá nhỏ thuộc bộ cá Vược Perciformes.
Phân bố trên các vùng biển từ Ấn Độ đến Tây Thái Bình Dương. Họ cá Nâu có bốn
loài (Hình 3). Ở một số địa phương cá Nâu còn có tên gọi khác như: Cá Nầu, cá nú, cá
hói. Chúng thường phân bố ở vùng nước lợ và vùng cửa sông, là loài ăn thực vật
(rong, tảo) phân hữu cơ và xác thối.
9
Scatophagus argus Linnaeus, 1766 Selenotoca papuensis Fraser Brunner, 1938
Scatophagus tetracanthus Lacepede, 1802 Selenotoca multifasciata Richardson, 1846
Hình 3: Một số loài thuộc họ cá Nâu – Scatopagiidae [55].
2.2.2. Nghiên cứu đặc điểm sinh học dinh dưỡng của cá nâu
Nguyễn Thanh Phương và ctv (2004) nghiên cứu đặc điểm sinh học dinh dưỡng
cá nâu phân bố tại huyện Ngọc Hiển, Tỉnh Cà Mau. Kết quả khảo sát về đặc điểm hình
thái cơ quan dinh dưỡng của cá nâu cho thấy cá có miệng nhỏ; rạch miệng nằm ngang
và ngắn; môi co duỗi được; răng nhỏ và mịn; cá có bốn đôi cung mang và mỗi cung
từ 1 đến 3 cho tính ăn tạp chiếm 43,33%, tần số xuất hiện RGL >3 thể hiện tính ăn tạp
thiên về thực vật chiếm 56,67%. Nhóm có kích thước lớn hơn 10 cm, sự thay đổi tỷ lệ
RGL càng thể hiện rõ nét hơn. Tần số xuất hiện RGL > 3 thể hiện tính ăn tạp thiên về
thực vật chiếm 64%, tần số xuất hiện tỷ lệ RGL nằm trong khoảng từ 1 đến 3 cho tính
ăn tạp chiếm chiếm 36%. Qua kết nghiên cứu, có thể kết luận rằng, khi kích thước tăng
dần, cá Nâu chuyển dần từ tập tính ăn tạp sang ăn tạp thiên về thực vật [34]. Cá Nâu ít
chọn lọc thức ăn mà sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhau có trong thuỷ vực. Thành
phần thức ăn gồm cả thực vật lẫn động vật. Trong số những loại thức ăn phân tích
được, các ngành tảo chiếm ưu thế hơn về số lượng, còn động vật và mùn bã hữu cơ chỉ
chiếm một phần nhỏ. Điều đó cho thấy, cá Nâu thích ăn thực vật hơn động vật. Thành
phần thức ăn của cá Nâu rất đa dạng, gồm 19 loại đại diện cho 6 nhóm khác nhau (4
ngành Tảo và 2 ngành động vật không xương sống và mùn bã hữu cơ). Trong đó,
ngành Tảo Silic - Bacillariophycophyta chiếm ưu thế về thành phần (11 chi), ngành
Tảo Lam - Cyanophyta có 1 chi, Ngành Tảo Lục - Chlorophyta có 2 chi và ngành Tảo
11
Đỏ - Rhodophycophyta có 2 chi. Trong thành phần thức ăn của cá Nâu còn gặp các đại
diện của 2 ngành động vật không xương sống là ngành Giun đốt - Annelida với đại
diện là lớp giun nhiều tơ và và ngành Chân khớp - Arthropoda đại diện là nhóm giáp
xác chân chèo Copepoda [19; 34].
2.2.3. Nghiên cứu đặc điểm sinh sản và kỹ thuật sản xuất giống cá nâu
Barry T.P. (1991) nghiên cứu tạo tinh cho cá nâu bằng 17ά- Methytestosterone
trước khi sử dụng LHRHa. Cá đực trưởng thành có chiều dài 12 cm, khối lượng 100-
450 g; cá được đánh bắt ở vùng biển phía nam đảo Panay của Philipines. Tiến hành
thực hiện các thí nghiệm. Thí nghiệm 1: Mẫu cá dùng để sản xuất tinh chia làm 4
nhóm (i) đối chứng (không sử dụng hormone); (ii) sử dụng LHRHa với lượng 10µg;
(iii) sử dụng 17ά- Methytestosterone với lượng 1mg và (iv) 1 mg 17ά- Methytestosterone
+ 10µg LHRHa; mỗi nhóm thí nghiệm có 4 cá thể. Thí nghiệm 2: Đánh giá ảnh hưởng
của hormone HCG lên sự tạo tinh của cá với liều lượng 5 và 10 IU/g; mẫu cá được
chia làm 3 nhóm (i) tiêm HCG với lượng 5 IU/g, (ii) tiêm HCG với lượng 10 IU/g và
vụ sinh sản có thể phân biệt được đực cái bằng các đặc điểm như (i) cá cái có tuyến
sinh dục phát triển, thường có bụng to hơn cá đực; (ii) nhìn ngang thân cá đực thường
ốm và thon dài hơn cá cái; (iii) xương trán cá đực phát triển và nhô cao hơn con cái và
đặc điểm này phù hợp với nghiên cứu của Barry và Fast (1992) [28; 41].
Cá có hai thời điểm mà hệ số thành thục cao là các tháng 4, 5 và 7, 8. Hệ số thành
thục trung bình của quần thể cao nhất đạt 16,4% và hệ số thành thục cá thể lớn nhất
đạt 27,2%. Như vậy, có thể xác định mùa vụ sinh sản chính của cá nâu vào khoảng
tháng 4, 5 và 7, 8 hàng năm. Sức sinh sản tương đối và tuyệt đối của cá phụ thuộc vào
hệ số thành thục và kích cỡ cá, trong quần đoàn cá nâu thành thục thì cỡ cá cái thường
lớn hơn cá đực. Cá có hệ số thành thục càng cao thì sức sinh sản tuyệt đối càng lớn,
đồng thời ở những cá thể càng lớn thì sức sinh sản càng cao. Sức sinh sản tuyệt đối của
cá nâu rất cao, trung bình 519.547 ± 237.766 trứng/cá cái (dao động từ 215.000-
1.073.733 trứng/cá cái) và sức sinh sản tuyệt đối của cá từ 1.915.579 ± 880.509
trứng/cá cái (dao động từ 891.505 - 3.365.934 trứng/cá cái) [28].
Lý văn Khánh và ctv (2010) nghiên cứu kích thích sinh sản cá nâu (Scatophagus
argus) bằng hormone Ovaprim; LHRH-a và HCG với các liều lượng khác nhau. Cá bố
mẹ thành thục có khối lượng 80-400 g/con đánh bắt từ nguồn tự nhiên. Cá được tiêm
ovaprim với các liều 0,5; 1,0 và 1,5 mL/kg; LHRH-a với các liều 50; 100 và 150 µg/kg
kết hợp với domperidon 5 mg/kg và HCG với các liều 1.000; 1.500 và 2.000 UI/kg.
Mỗi liều của từng loại kích dục tố được tiêm cho 15 cặp cá. Cá được tiêm 2 lần, liều sơ
13
bộ bằng 1/3 tổng liều và sau 24 giờ tiêm liều quyết định bằng 2/3 còn lại. Kết quả cho
thấy tỷ lệ rụng trứng của cá dao động từ 33,3-93,3%, với hormone ovaprim 1,0 mL/kg
cho tỷ lệ cá rụng trứng cao nhất (93,3%). Sức sinh sản tương đối của cá dao động từ
1.150.345-3.115.541 trứng/kg. Thời gian hiệu ứng dao động từ 12,0 – 32,0 giờ. Tỷ lệ
thụ tinh của cá ở liều tiêm 1 mL/kg ovaprim đạt 76,5% khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p<0,05) so với các liều còn lại. Tỷ lệ nở của cá ở các nghiệm thức dao động 30,9-
69,5%, cao nhất ở nghiệm thức 1 mL/kg ovaprim. Tóm lại, có thể sử dụng ovaprim với
liều 0,5-1,5 mL/kg hay LHRH-a với liều 50-100 µg/kg để kích thích sinh sản cá
cá đạt 49,6-60,7%. Sự thay đổi mật độ nuôi của cá dìa trong các thí nghiệm không làm
ảnh hưởng đến tăng trưởng của cá nâu và cá đối. Năng suất của mô hình đạt được từ
1.051 – 2.036 kg/ha, doanh thu trung bình đạt 19,2-33,25 triệu đồng/ao (2000 m
2
) và
lợi nhuận của mô hình đạt 5,88 – 6,78 triệu đồng [12].
Mô hình 2 “Nuôi cá kình kết hợp với cá nâu và cá đối” được tiến hành với 2 thí
nghiệm ở các mật độ thả cá dìa khác nhau; thí nghiệm 1: cá kình 5 con/m
2
+ cá nâu 0,2
con/m
2
+ cá đối 0,2 con/m
2
; thí nghiệm 2: cá kình 10 con/m
2
+ cá nâu 0,2 con/m
2
+ cá
đối 0,2 con/m
2
. Kích cỡ cá thả: cá kình 6,73g/con, cá nâu 40g/con và cá đối 10g/con.
Kết quả của mô hình cho thấy, cá có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, sau thời gian
4 tháng nuôi cỡ cá nâu thu hoạch dao động từ 136,67-143,33g/con, tỷ lệ sống của cá
đạt 42,3-52,0%. Sự thay đổi mật độ nuôi của cá kình trong các thí nghiệm không làm
14
ảnh hưởng đến tăng trưởng của cá nâu và cá đối, điều này có thể kết luận cá nâu sinh
trưởng tốt trong ao nuôi cá kình. Năng suất của mô hình đạt được từ 1.265 – 1.830
kg/ha, doanh thu trung bình đạt 16,5-21,63 triệu đồng/ao (2000 m
Thấp nhất ở nghiệm thức mật độ 15 con/m
2
(90,1%). Thời gian đầu của thí nghiệm
hiện tượng cá chết xảy ra ở cả ba mức mật độ, nguyên nhân chết ở thời kỳ này là do
xuất hiện các đợt không khí lạnh, tỷ lệ chết đồng đều ở cả ba mức mật độ, nhưng càng
về sau tỷ lệ chết có xu hướng tăng ở nghiệm thức mật độ 15 con/m
2
. Tuy nhiên, tỷ lệ
sống ở các mức mật độ sai khác có ý nghĩa thống kê (p <0.05). Như vậy, các mức mật
độ nuôi không ảnh hưởng tới tỷ lệ sống của cá [10].
Cá đạt chiều dài trung bình 5,53 cm; khối lượng trung bình 11,17g. Tốc độ tăng
trưởng khối lượng đạt 0,116 g/ngày đối ở mật độ 5 con/m
2
; ở mật độ 10 con/m
2
đạt
15
0,118 g/ngày và mật độ 15 con/m
2
có tốc độ tăng trưởng thấp nhất chỉ đạt 0,071 g/con.
Qua phân tích phương sai (ANOVA) cho kết quả tăng trưởng giữa các nghiệm thức
mật độ sai khác có ý nghĩa (p<0,05). Như vậy, các mức mật độ có ảnh hưởng tới tăng
trưởng của cá Nâu [10].
2.3. Tình hình khai thác và nuôi cá nâu ở Thừa Thiên Huế
2.3.1. Tình hình khai thác cá nâu ở Thừa Thiên Huế
Hiện nay, sản phẩm cá nâu trên thị trường Thừa Thiên Huế chủ yếu là từ khai
thác tự nhiên. Phương tiện khai thác cá nâu chủ yếu là nghề đáy. Ngoài ra, còn có các
phương tiện khai thác khác như giã cào, rê trôi, lừ Tuy nhiên, qua điều tra ngư dân
những năm gần đây sản lượng cá nâu khai thác được rất ít [19]. Kích thước và sản
trong ao nuôi tôm như những đối tượng nuôi phụ nhằm cải tạo môi trường ao nuôi,
hiện nay đã có một số ngư dân nuôi đơn cá nâu trong lồng nhưng kỹ thuật nuôi còn
đơn giản, thức ăn chủ yếu dựa vào nguồn rong (Gracilaria sp, Enteromophar sp) tự