Luận án " Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm sản xuất giống cá nâu (scatophagus argus linnaeus, 1766) - Pdf 12

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
LÝ VĂN KHÁNH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH SẢN VÀ
THỬ NGHIỆM SẢN XUẤT GIỐNG CÁ NÂU
(Scatophagus argus Linnaeus, 1766)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ THỦY SẢN

Cần Thơ, 2012


Cần Thơ, 2012

i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam kết luận án này được hoàn thành dựa trên các kết quả
nghiên cứu do tôi thực hiện. Tất cả các số liệu và kết quả được trình bày trong
luận án hoàn toàn trung thực và chưa được dùng cho bất cứ luận án cùng cấp
nào khác.

Cần Thơ, ngày …… tháng …… năm 2012
Tác giả
LÝ VĂN KHÁNH

ii
LỜI CẢM TẠ

Trước hết Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm Khoa Thủy
sản, Bộ môn Kỹ thuật nuôi Hải sản và Bộ môn Dinh dưỡng và Chế biến thủy
sản, Trường Đại học Cần Thơ đã tạo điều kiện để tôi được học tập, nghiên cứu
nâng cao trình độ trong những năm qua.
Tôi xin cảm ơn Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường Đại học Cần Thơ,
Khoa Thủy sản, Bộ môn Kỹ thuật nuôi Hải sản, Bộ môn Dinh dưỡng và Chế
biến Thủy sản và Dự án ươm tạo công nghệ đã hỗ trợ kinh phí thực hiện các
nghiên cứu.
Đặc biệt tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGs.Ts.

MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 6
1.1. Sơ lược đặc điểm sinh học cá nâu 6
1.1.1. Hình thái phân loại 6
1.1.2. Phân bố 7
1.1.3. Tập tính dinh dưỡng 8
1.1.4. Đặc điểm sinh trưởng 9
1.1.5. Đặc điểm sinh sản 9
1.1.6. Hệ số thành thục 9
1.2. Sơ lược đặc điểm sinh lý 10
1.2.1. Huyết học 10
1.2.2. Vitellogenin (protein tạo noãn hoàng) 12
1.3. Các loại kích dục tố và chất kích thích ở cá 14
1.3.1. Não thùy thể (Hypophysis - tuyến yên) 14
1.3.2. HCG (Human Chorionictropin Hormone) 14
1.3.3. GnRH (Gonadotropine Releasing Hormone) 15
1.4. Một số nghiên cứu về sản xuất giống và ương nuôi cá nước lợ mặn 17
1.4.1. Cá mú (Epinephelus spp) 17
1.4.2. Cá chẽm (Lates calcarifer) 18
1.4.3. Cá giò (Rachycentron canadum) 18
1.4.4. Cá măng (Chanos chanos) 19

iv
1.4.5. Cá đối 20
1.5. Sự phát triển ống tiêu hóa và lựa chọn thức ăn của cá 21
1.5.1. Sự phát triển ống tiêu hóa của cá 21
1.5.2. Sự lựa chọn thức ăn của cá 25
1.6. Một số loại thức ăn tự nhiên sử dụng trong ương cá 27
1.6.1. Tảo 28
1.6.2. Rotifer 29

3.2.1. Đặc điểm sinh lý sinh sản của cá nâu cái 68
3.2.2. Đặc điểm sinh lý sinh sản của cá nâu đực 75
3.3. Kích thích sinh sản và ấp trứng cá nâu 78
3.3.1. Nuôi vỗ thành thục cá nâu trong bể 78
3.3.2. Ảnh hưởng của loại và liều kích dục tố, chất kích thích sinh sản
lên sinh sản nhân tạo của cá nâu 79
3.3.3. Ảnh hưởng của độ mặn lên tỉ lệ nở của trứng cá nâu 83
3.4. Sự phát triển ống tiêu hóa và lựa chọn thức ăn của cá nâu bột 85
3.4.1. Sự phát triển ống tiêu hoá của cá nâu bột 85
3.4.2. Sự lựa chọn thức ăn của cá bột 90
3.5. Ương cá bột lên cá hương bằng các loại thức ăn khác nhau 98
3.5.1. Ương cá nâu bột đến 15 ngày tuổi bằng các loại thức ăn 98
3.5.2. Ương cá bột 15 ngày tuổi lên 30 ngày tuổi bằng thức 104
3.6. Ương cá từ 30 ngày tuổi lên 60 ngày tuổi ở các độ mặn khác nhau 107
3.6.1. Yếu tố môi trường bể ương 107
3.6.2. Tăng trưởng của cá ương ở các độ mặn khác nhau 108
3.6.3. Tăng trưởng tương đối và tuyệt đối của cá ương ở các độ mặn 109
3.6.4. Sự phân cỡ của cá hương ương ở các độ mặn khác nhau 109
3.6.5. Tỷ lệ sống của cá hương ương ở các độ mặn khác nhau 112
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 113
4.1. Kết luận 113
4.1.1. Đặc điểm sinh học và sinh lý sinh sản 113
4.1.2. Kích thích sinh sản và ấp trứng 114
4.1.3. Sự phát triển ống tiêu hoá và lựa chọn thức ăn 114
4.1.4. Ương cá bột lên cá hương và cá giống 114

vi
4.2. Đề xuất 115
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118

Bảng 3.12: Số lượng huyết sắc tố, tỷ lệ huyết sắc tố, khối lượng trung
bình của huyết cầu trong hồng cầu và nồng độ huyết sắc tố
trong hồng cầu ở các giai đoạn tuyến sinh dục cá nâu đực 77

viii
Bảng 3.13: Số lượng hồng cầu, thể tích hồng cầu, số lượng bạch cầu
và tỷ lệ bạch cầu với hồng cầu ở các giai đoạn tuyến sinh
dục cá nâu đực 77
Bảng 3.14: Thời gian hiệu ứng, thời gian phát triển phôi và tỷ lệ cá
rụng trứng 80
Bảng 3.15: Tỷ lệ trứng thụ tinh, tỷ lệ trứng nở và tỷ lệ cá dị hình 82
Bảng 3.16: Biến động nhiệt độ bể ương trong thời gian ấp trứng cá ở
các độ mặn khác nhau 83
Bảng 3.17: Biến động pH trong thời gian ấp trứng ở các độ mặn khác
nhau 84
Bảng 3.18: Nhiệt độ và pH trung bình của các nghiệm thức 98
Bảng 3.19: Hàm lượng TAN và N-NO
2
-
trung bình của các nghiệm thức.99
Bảng 3.20: Tốc độ tăng trưởng của cá ở các nghiệm thức sau 15 ngày
ương 103
Bảng 3.21: Nhiệt độ và pH trung bình của các nghiệm thức 104
Bảng 3.22: Hàm lượng TAN và N-NO
2
-
trung bình của các nghiệm thức.105
Bảng 3.23: Tốc độ tăng trưởng của cá ở các nghiệm thức sau 15 ngày
ương 107
Bảng 3.24: Biến động các yếu tố môi trường nước ở các nghiệm thứ c 108

Hình 3.6: Hệ số thành thục trung bình của cá nâu đực qua các tháng 60
Hình 3.7: Tỷ lệ cá nâu đực và cá nâu cái qua các tháng 60
Hình 3.8: Các giai đoạn phát triển phôi cá nâu (10X) 65
Hình 3.9: Cá nâu bột từ 1 ngày tuổi đến 30 ngày tuổi (4x) 67

x
Hình 3.10: Tương quan khối lượng cá với chiều dài và chiều cao cá
nâu cái 68
Hình 3.11: Tương quan giữa khối lượng tuyến sinh dục và khối lượng
gan cá 71
Hình 3.12: Tương quan giữa khối lượng với chiều dài và chiều cao cá 75
Hình 3.13: Tỷ lệ thành thục của cá nâu sau 4 tháng nuôi vỗ trong bể 79
Hình 3.14: Kết quả ấp trứng cá nâu ở các độ mặn khác nhau 84
Hình 3.15: Đặc điểm hình thái ống tiêu hóa của cá nâu trưởng thành 86
Hình 3.16: Ống tiêu hóa cá nâu bột 86
Hình 3.17: Thực quản, ruột, dạ dày cá nâu 86
Hình 3.18: Tuyến dạ dày cá nâu 87
Hình 3.19: Mặt cắt dọc của thực quản cá nâu 87
Hình 3.20: Ruột cá nâu 15 ngày tuổi (10x) 89
Hình 3.21: Manh tràng cá nâu (10x) 90
Hình 3.22: Tỷ lệ phần trăm phiêu sinh thực vật trong nước ương 91
Hình 3.23: Tỷ lệ phiêu sinh động vật trong nước bể ương cá nâu 92
Hình 3.24: Tỷ lệ phiêu sinh động vật trong ruột cá 93
Hình 3.25: Tỷ lệ phần trăm phiêu sinh thực vật trong ruột cá 94
Hình 3.26: Tỷ lệ sống cá ở các nghiệm thức sau 15 ngày ương 100
Hình 3.27: Chiều dài cá ở các nghiệm thức sau 15 ngày ương 102
Hình 3.28: Tỷ lệ sống cá ở các nghiệm thức sau 15 ngày ương 105
Hình 3.29: Chiều dài cá ở các nghiệm thức sau 15 ngày ương 106
Hình 3.30: Khối lượng cá nâu sau 30 ngày ương ở các độ mặn khác nhau 108
Hình 3.31: Sự phân cỡ của cá sau 30 ngày ương 111

kiến thức cơ bản về đặc điểm sinh học sinh sản và xác định được loại và liều
kích dục tố, chất kích thích sinh sản trong sinh sản nhân tạo và ương cá nâu
bột lên giống để từng bước tiến tới phát triển nghề sản xuất giống và nuôi
thương phẩm cá nâu.
Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản được thực hiện ở huyện Ngọc
Hiển, tỉnh Cà Mau. Cá nâu được thu ngẫu nhiên từ các đầm nước lợ 30
con/tháng và thu liên tục 12 tháng. Kết quả cho thấy hệ số thành thục của cá
lớn nhất vào tháng 8 là 27,2%, sức sinh sản thực tế 2.469.209 trứng/kg. Độ
béo Fulton của cá nâu cái có tuyến sinh dục giai đoạn 4 cao nhất (9,87 %).
Nghiên cứu các chỉ tiêu sinh lý sinh sản của cá nâu qua 6 giai đoạn phát triển
của tuyến sinh dục, kết quả cho thấy khối lượng gan của cá nâu cái có tuyến
sinh dục giai đoạn 3 là lớn nhất (4,59 g/con); hàm lượng phosphat protein
huyết tương của cá nâu cái tăng theo sự phát triển của tuyến sinh dục và đạt
cao nhất ở cá có tuyến sinh dục giai đoạn 4 (3,12 µg ALP/mL protein).
Nghiên cứu kích thích sinh sản cá nâu được tiến hành trên cá đã thành
thục ngoài tự nhiên có kích cỡ 80-300 g/con. Cá cái được tiêm Ovaprim với
liều 0,5; 1,0 và 1,5 mL/kg; LHRH-a với liều 50; 100 và 150 µg/kg kết hợp với
domperidon 5 mg/kg; và HCG với liều 1.000; 1.500 và 2.000 UI/kg. Trứng cá
nâu thụ tinh được ấp ở các độ mặn 0, 5, 10, 15, 20, 25 và 30‰. Kết quả cho
thấy, thời gian hiệu ứng dao động từ 12-32 giờ; ở liều ovaprim 1 mL/kg cho tỷ
lệ cá rụng trứng (93,3%), tỷ lệ trứng thụ tinh (76,5%), tỷ trứng lệ nở (69,5%)
cao nhất và tỷ lệ cá dị hình thấp nhất (2,16%). Trứng cá nâu ấp ở độ mặn 30‰
cho tỉ lệ nở đạt cao nhất 43,3%.
Thời gian phát triển phôi của cá nâu trong khoảng 18-22 giờ; cá nâu
mới nở có chiều dài trung bình 1,88 mm; kích cỡ noãn hoàng 0,76 mm (dài),

xiii
0,29 mm (rộng) và kích cỡ miệng 0,07 mm; và cá hết noãn hoàng sau 3-4 ngày
tuổi.
Nghiên cứu sự phát triển ống tiêu hóa và lựa chọn thức ăn của cá nâu

The study on the biological characteristics and induced spawning of
spotted scat fish (Scatophagus argus Linnaeus, 1766) was carried out at
College of Aquaculture and Fisheries, Can Tho University, and in Nam Can
and Ngoc Hien district, Ca Mau province from 2006 to 2010. The objectives
of the study are to provide basic information on reproductive biology of the
sportted scat fish; to determine appropriate types and doses of hormone and
stimulating agents for induced spawning of the fish and to develop methods
for larval rearing in order to contribute to development of seed propagation
technology and grow-out of this species.
Studying on reproductive biology of spotted scat fish were carried out
in Ngoc Hien District, Ca Mau province. Fish were randomly collected from
extensive shrimp farms with 30 fish/months for a year round. Results showed
that GSI of female fish were highest (27.2%) during August, and average
fecundity was 2,469,209 eggs/kg. Fulton index of female fish were highest
(9.87 %) at ovarian stage IV. Meanwhile, male fish has the highest Fulton and
Clark indices at testis stage II. Through six stages of ovarian development of
female fish, liver has highest weight (4.59 g/ind.) at stage III; plasma protein
phosphate content increased with development stages of the ovary and
achieved the highest level of 3.12 µg ALP/mL protein at ovarian stage IV.
Induced spawning and egg incubation of spotted scat fish were done
with matured fish of 80-300 g in body weight. The female fish were injected
with different doses of ovaprim (0.5; 1.0 and 1.5 mL/kg); LHRH-a (50; 100
and 150 µg/kg) combined with domperidon (5 mg/kg); and HCG (1,000; 1,500
and 2,000 UI/kg). Fertilized eggs were incubated at different salinities (0, 5,
10, 15, 20, 25, 30‰). Results showed that ovulating time after hormone
injection was 12-32 hours; ovaprim at 1 mL/kg gave the highest spawning
rates (93%), egg fertilizing rates (76.5%) and hatching rates (69.5%) and the
lowest deformed rates (2.16%). Salinity of 30‰ gave the highest egg hatching
rates (43.3%).


practices of seed production and culture of the spotted scat in the coming time.
1

MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu chung
Việt Nam có tổng chiều dài đường bờ biển là 3.260 km, diện tích ven
biển khoảng 1.000.000 km
2
, 12 đầm phá, eo biển, vịnh và hơn 4.000 hòn đảo
lớn nhỏ (Vũ Văn Phái, 2007). Việt Nam vì thế có tiềm năng rất lớn về phát
triển nuôi trồng thủy sản nước lợ, mặn (hay thủy sản ven biển) và lợi thế này
đã thể hiện trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, nghề nuôi thủy sản ven biển của
Việt Nam còn mang tính độc canh cao, hầu hết các địa phương ven biển tập
trung phát triển nuôi tôm sú (Penaeus monodon) trong nhiều năm qua; và hiện
đã phát sinh những tác động tiêu cực về môi trường, dịch bệnh,… làm giảm
tính bền vững của nghề nuôi tôm nói riêng và chậm khai thác thế mạnh của
vùng ven biển nói chung.
Nhiều nước trên thế giới có điều kiện tương tự Việt Nam đã có xu
hướng đa dạng hóa đối tượng nuôi ở vùng ven biển; nhiều đối tượng thủy sản
bản địa và di nhập như tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei), cua biển
(Scylla spp), cá mú (Epinephelu spp), cá bớp (Rachycentron canadum), cá
chẽm (Lates calcarifer), cá chình (Anguilla marmorata),… đã được đưa vào
nuôi. Tuy nhiên, phát triển nuôi các đối tượng cá biển hiện còn gặp rất nhiều
hạn chế về kỹ thuật nuôi, thức ăn, quản lý bệnh, đặc biệt là sản xuất con giống
nhân tạo một trong những cơ sở quan trọng cho sự phát triển loài nuôi. Hiện
nay, rất nhiều quốc gia đang chú trọng đến các loài cá bản địa do có nhiều ưu
thế riêng về sinh thái của loài nhưng kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo là yếu tố
giới hạn chính. Thực tế sản xuất ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) cho
thấy có nhiều đối tượng cá bản địa rất có tiềm năng để nuôi và có triển vọng
kinh tế cao đang được chọn lựa phát triển như cá nâu (Scatophagus argus), cá

- Mục tiêu tổng quát: bổ sung cơ sở dữ liệu khoa học về đặc điểm sinh
học sinh sản và sinh lý sinh sản cá nâu và qua đó phát triển qui trình sinh sản
nhân tạo cá nâu để từng bước tiến tới phát triển nghề sản xuất giống và nuôi
thương phẩm cá nâu; góp phần đa dạng hóa đối tượng và mô hình nuôi thủy
sản ven biển; thúc đẩy sự phát triển bền vững nghề nuôi thủy sản ở ĐBSCL
nói riêng và cả nước ta nói chung.
3

- Mục tiêu cụ thể: tìm ra một số đặc điểm sinh học và sinh lý sinh sản
quan trọng của cá nâu; loại kích dục tố và chất kích thích sinh sản thích hợp để
kích thích cá nâu sinh sản nhân tạo; sự phát triển của cá nâu mới nở và biện
pháp kỹ thuật ương nuôi cá nâu giai đoạn cá bột lên cá giống.
3. Nội dung nghiên cứu
a) Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản và sinh lý sinh sản
quan trọng của cá nâu.
b) Nghiên cứu sử dụng các loại kích dục tố và chất kích thích sinh sản
khác nhau để kích thích cá nâu sinh sản nhân tạo và kỹ thuật ấp
trứng cá nâu.
c) Nghiên cứu sự phát triển của ống tiêu hóa và sự lựa chọn thức ăn
của cá nâu bột.
d) Nghiên cứu ương cá nâu bột lên cá hương bằng các loại thức ăn và
cá hương lên cá giống ở các độ mặn khác nhau.
4. Ý nghĩa của luận án
Luận án góp phần bổ sung kiến thức cơ bản về đặc điểm sinh học sinh
sản và sinh lý sinh sản của cá nâu; nghiên cứu cũng đã xác định được loại và
liều kích dục tố, chất kích thích sinh sản để kích thích sinh sản nhân tạo cá
nâu; phương pháp ấp trứng; sự lựa chọn thức ăn và phát triển ống tiêu hóa cá
nâu bột và kỹ thuật ươ ng từ cá nâu bột lên cá hương và từ cá hương lên cá
giống. Những kết luận về sinh học và kỹ thuật sản xuất giống và ương cá nâu
sẽ là nguồn cơ sở dữ liệu khoa học quan trọng cho sự hoàn thiện và phát triển

được 20 ngày tuổi.
- Luận án đã xác định được chất kích thích sinh sản tốt nhất là ovaprim
với liều 1 mL/kg thì có tỷ lệ cá rụng trứng 93,3%, tỷ lệ trứng thụ tinh 76,5%
và tỷ lệ trứng nở 69,5%, tỷ lệ cá dị hình 2,16%. Thời gian hiệu ứng của kích
dục tố dao động 12-32 giờ và tỷ lệ trứng nở cao nhất là 43,3% ở độ mặn 30‰.
- Luận án cũng cho thấy rằng cá nâu từ ngày tuổi thứ 3 đến ngày tuổi
thứ 15 cho ăn Chlorella sp + Rotifer + TACB có tỷ lệ sống 15,7% và tăng
5

trưởng đạt 3,64 mm; từ ngày tuổi thứ 15 đến ngày tuổi thứ 30 cho cá ăn
Artemia thì cá đạt tỷ lệ sống cao 72% và đạt chiều dài là 9,14 mm.
Trên cơ sở những kết quả trên, luận án kết luận rằng bước đầu có thể
sản xuất giống và ương cá nâu để chủ động cung cấp con giống thúc đẩy nghề
nuôi cá nâu phát triển, đa dạng hóa đối tượng và mô hình nuôi thủy sản.

6

CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN
1.1 Sơ lược đặc điểm sinh học cá nâu
1.1.1 Hình thái phân loại
Cá nâu (Scatophagus argus) có tên tiếng Anh là spotted scat thuộc họ
Scatophagidae. Theo Mohsin et al., (1996) thì cá nâu phân bố nhiều nơi từ
Nhật Bản đến Ấn Độ – Thái Bình Dương bao gồm cả vùng biển phía Nam
Trung Quốc. Theo Barry et al., (1992) thì cá nâu có 2 giống là Scatophagus và
Selenotoca. Ở Việt Nam, các tác giả Mai Đình Yên (1992); Trương Thủ Khoa
và Trần Thị Thu Hương (1993) xác định cá nâu chỉ có một giống và một loài
cá nâu duy nhất là Scatophagus argus Linnaeus, 1766.
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) thì vị trí phân
loại của cá nâu như sau:

nâu đen lớn nhỏ xếp xen kẽ không đều nhau, các đốm này nhạt dần về phía
bụng. Theo Võ Thành Tiếm (2004), cá nâu có thể phân biệt được đực và cái
dựa vào hai đặc điểm là cá có đầu nhỏ, xương trán ở con đực phát triển và nhô
cao hơn xương trán con cái, con đực thường ốm hơn và thon dài hơn con cái.
1.1.2 Phân bố
Cá nâu là loài cá phân bố nhiều nơi từ Nhật Bản đến Ấn Độ - Thái Bình
Dương bao gồm cả vùng biển phía Nam Trung Quốc (Mohsin et al., 1996).
Vùng phân bố từ bờ biển Trung Quốc dọc đến Úc Châu (Trương Thủ Khoa và
Trần Thị Thu Hương, 1993). Theo Nguyễn Hữu Phụng (1995) thì cá nâu sống
8

ở biển, nước lợ và nước ngọt (sông và hồ), phân bố từ Ấn Độ, Úc, Srilanka,
Indonesia, Malaysia, New Caledonia, Philipphines, Thái Lan, Trung Quốc và
Việt Nam. Cá nâu được tìm thấy ở Rajpara (Ấn Độ) có chiều dài lớn nhất 334
mm và khối lượng 1,2 kg (Khan, 1984).
Ở Việt Nam cá nâu phân bố trong đầm phá, kênh rạch nước lợ và cửa
sông (Nguyễn Tấn Trịnh và ctv, 1996; Mai Đình Yên, 1992) và có ở cả ba
vùng gồm Vịnh Bắc Bộ, Miền Trung và Nam Bộ (Nguyễn Hữu Phụng, 1995).
Cá thường phân bố nhiều ở những nơi có chế độ triều dao động thường xuyên,
có giá thể và sống theo bầy đàn (Võ Thành Tiếm, 2004). Cá nâu cũng có thể
sống được những nơi có đá ngầm, sông, phá và các cửa sông.
1.1.3 Tập tính dinh dưỡng
Cá nâu ăn được nhiều loại thức ăn khác nhau như giun, giáp xác, côn
trùng, các vật chất có nguồn gốc thực vật, tảo, Theo Nguyễn Tấn Trịnh và
ctv (1996) thì cá nâu là loài cá ăn tạp, thức ăn của cá là tảo Enteromorpha, tảo
Chaetomorpha, tảo silic, tảo Euglenophyta,… trong đó tảo Enteromorpha và
tảo Chaetomorpha không chỉ có tần số xuất hiện cao mà còn chiếm số lượng
lớn trong ống tiêu hóa. Theo Chang (1997) thức ăn cho ấu trùng trong những
ngày đầu mới nở là rotifer Brachionus (rotifer); sau 9 ngày cá có thể ăn được
ấu trùng Artemia và sau 19 ngày cá có thể sử dụng giáp xác chân chèo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status