BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THÊM
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA TUỔI MẠ,
MẬT ðỘ CẤY ðẾN SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN
VÀ NĂNG SUẤT LÚA LAI HAI DÒNG TH 7-2
TẠI HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ : 60.62.01.10 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN VĂN QUANG HÀ NỘI - 2013
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
i
LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu do tôi trực tiếp thực hiện
trong năm 2012 tại Phù Ninh – Phú Thọ, dưới sự hướng dẫn của TS.Trần
Văn Quang. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa
từng ñược ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin cam ñoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñã ñược
chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, Ngày 14 tháng 9 năm 2013
Tác giả luận văn
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
iii
MỤC LỤC Lời cam ñoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
MỞ ðẦU 1
1 ðặt vấn ñề 1
2 Mục ñích và yêu cầu của ñề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ lúa gạo trên thế giới và Việt Nam 3
1.1.1 Tình hình hình sản xuất và tiêu thụ gạo trên thế giới 3
1.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo của Việt Nam 5
1.2 Giới thiệu về hệ thống thâm canh lúa cải tiến SRI 11
3.2.1 Nguồn gốc và sự phát triển của SRI 11
1.2.2 Cơ sở khoa học của kỹ thuật SRI 11
1.2.3 Các biện pháp kỹ thuật thực hiện 13
1.2.4 Những ưu ñiểm nổi bật của SRI so với kỹ thuật truyền thống 16
1.2.5 Một số mặt hạn chế của kỹ thuật SRI 17
1.3 Tình hình nghiên cứu SRI trên thế giới và ở Việt Nam 17
1.3.1 Tình hình nghiên cứu SRI trên thế giới 17
1.3.2 Tình hình nghiên cứu SRI ở Việt Nam 20
1.4 Những kết quả nghiên cứu về mật ñộ cấy trên thế giới và Việt Nam 22
cấu thành năng suất của giống lúa TH 7-2 tại huyện Phù Ninh – tỉnh
Phú Thọ 54
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
v
3.7.1 Ảnh hưởng của tuổi mạ và mật ñộ cấy ñến số bông/m
2
của giống
lúa TH7-2 54
3.7.2 Ảnh hưởng của tuổi mạ và mật ñộ cấy ñến số hạt/bông của giống
lúa TH7-2 57
3.7.3 Ảnh hưởng của tuổi mạ và mật ñộ cấy ñến tỉ lệ hạt chắc của
giống lúa TH7-2 58
3.7.4 Ảnh hưởng của tuổi mạ và mật ñộ cấy ñến khối lượng 1000 hạt
của giống lúa TH7-2 59
3.7.5 Ảnh hưởng của tuổi mạ và mật ñộ cấy ñến năng suất thực thu của
giống lúa TH7-2 60
3.8 ðánh giá hiệu quả kinh tế của giống lúa TH7-2 tại huyện Phù
Ninh - tỉnh Phú Thọ 62
KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 65
1 Kêt luận 65
2 ðề nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC 70 Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1.2 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa gạo của Việt Nam trong giai
ñoạn từ 2000 - 2011 7
1.3 Sản lượng lúa tại 7 vùng của Việt Nam 8
1.4 Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam giai ñoạn từ năm 2008 -
2012 10
3.1 Một số ñặc ñiểm nông sinh học ở giai ñoạn mạ của giống TH7-2
trong vụ Xuân và Mùa năm 2012 tại Phù Ninh- Phú Thọ 36
3.2 Ảnh hưởng của tuổi mạ và mật ñộ cấy ñến thời gian qua các giai
ñoạn sinh trưởng của giống lúa TH7-2 tại Phù Ninh - Phú Thọ 38
3.3 Ảnh hưởng của tuổi mạ và mật ñộ cấy ñến một số ñặc ñiểm nông
sinh học của giống lúa TH 7-2 tại Phù Ninh, Phú Thọ 41
3.4 Ảnh hưởng của tuổi mạ và mật ñộ cấy ñến chỉ số diện tích lá của
giống lúa TH 7-2 tại Phù Ninh, Phú Thọ 44
3.5 Ảnh hưởng của tuổi mạ cấy ñến chỉ số diện tích lá của giống lúa
TH7-2 tại Phù Ninh, Phú Thọ 46
3.6 Ảnh hưởng của mật ñộ cấy ñến chỉ số diện tích lá của giống lúa
TH7-2 tại Phù Ninh, Phú Thọ 47
3.7 Ảnh hưởng của tuổi mạ và mật ñộ cấy ñến khả năng tích lũy chất
khô của giống lúa TH7-2 tại Phù Ninh, Phú Thọ 48
3.8 Ảnh hưởng của tuổi mạ cấy ñến khả năng tích lũy chất khô của
giống lúa TH7-2 tại Phù Ninh, Phú Thọ 49
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
viii
3.9 Ảnh hưởng của mật ñộ cấy ñến khả năng tích lũy chất khô của
giống lúa TH7-2 tại Phù Ninh, Phú Thọ 50
3.10 Ảnh hưởng của tuổi mạ và mật ñộ cấy ñến mức ñộ nhiễm sâu
bệnh hại trên giống lúa TH7-2 tại Phù Ninh, Phú Thọ 52
3.11 Ảnh hưởng của tuổi mạ và mật ñộ cấy ñến số bông/m
2
thường xuyên ñến nay sản lượng lúa gạo của chúng ta không những ñáp ứng
ñủ nhu cầu lương thực trong nước mà còn dư ñể xuất khẩu qua nhiều nước
trên thế giới.
Tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ diện tích trồng lúa trong 5 năm gần
ñây có chiều hướng giảm rõ rệt từ khoảng 5000 ha năm 2008 xuống còn 4480
ha năm 2012, nguyên nhân do chuyển ñổi một số diện tích trồng lúa sang nuôi
trồng thủy sản, ñường giao thông, các cụm công nghiệp và ñất chuyên dùng.
Vì vậy một trong những giải pháp tăng sản lượng lương thực là mở rộng diện
tích giống lúa lai vì chúng có năng suất cao hơn lúa thuần. Tuy nhiên các
giống lúa lai trồng tại huyện Phù Ninh mặc dù có tiềm năng năng suất cao
nhưng do chưa áp dụng ñồng bộ các biện pháp kỹ thuật nên năng suất lúa của
huyện Phù Ninh trong năm năm gần ñây chỉ ñạt ở mức thấp, chưa ñạt ñược
mức bình quân chung trong toàn tỉnh.
Các nước trồng lúa trên thế giới ñã áp dụng hệ thống thâm canh lúa cải
tiến (System of Rice Intensification-SRI) vào việc thâm canh lúa. Nguyên tắc
của phương pháp SRI là: cấy mạ non, cấy thưa, ñiều tiết nước hợp lý, làm cỏ
sục bùn và bón phân hữu cơ. Từ sự thay ñổi một số hoạt ñộng canh tác chủ
yếu này tạo nên sự phát huy tiềm năng vốn có, thúc ñẩy quá trình sinh trưởng
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
2
phát triển của cây lúa tạo năng suất ñồng thời tăng hiệu quả sử dụng ñất,
nước, phân bón… Mặt khác năng suất của một quần thể ruộng lúa do số
bông/m
2
, số hạt/bông, tỷ lệ hạt chắc và khối lượng 1000 hạt quyết ñịnh. Trong
ñó số bông/m
2
ñược quyết ñịnh chủ yếu bởi mật ñộ và số nhánh hữu hiệu trên
khóm, các yếu tố còn lại phụ thuộc vào lượng dinh dưỡng mà cây hút ñược.
Cây lúa là một loại cây ngũ cốc có lịch sử lâu ñời, trải qua một quá
trình biến ñổi và chọn lọc từ cây lúa dại thành cây lúa ngày nay. Cây lúa có
nguồn gốc ở vùng nhiệt ñới, do khả năng thích nghi rộng nên cây lúa ñược
trồng ở nhiều vùng khí hậu khác nhau trên thế giới. Hiện nay có trên 100
nước trồng lúa ở hầu hết các châu lục, với tổng diện tích là 164,12 triệu ha.
Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo vẫn tập trung chủ yếu ở các nước Châu Á nơi
chiếm tới 90% diện tích gieo trồng và sản lượng (FAOSTAT, 2008). Trong
ñó Ấn ðộ là nước có diện tích thu hoạch lúa lớn nhất (khoảng 45 triệu ha),
tiếp ñến là Trung Quốc (khoảng 30 triệu ha) (Ghosh, R.L, 1998). Biến ñộng
về diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên toàn thế giới giai ñoạn từ năm
2005 ñến năm 2011 ñược thể hiện qua bảng bảng 1.1
Bảng 1.1.Diện tích, năng suất, sản lượng lúa gạo trên toàn thế giới
giai ñoạn từ năm 2005 - 2011
Diện tích Năng suất Sản lượng
Năm
(Triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn)
2005 154,99 40,93 634,44
2006 155,61 41,21 641,21
2007 155,14 42,35 656,97
2008 160,21 42,98 688,53
2009 158,58 43,20 685,09
2010 161,76 43,34 701,13
2011 164,12 44,04 722,76
(Nguồn: FAOSAT, 2011 )
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
4
Qua bảng cho thấy khoảng những năm ñầu của thế kỷ XXI, diện tích
canh tác lúa vẫn có xu hướng tăng nhưng tăng chậm, từ 2008 ñến năm 2009
diện tích lại có giảm ñôi chút nhưng lại tăng khi sang năm 2010. ðiều này cho
khẩu khá lớn. Trung Quốc là 1 thị trường rất lớn nhưng nhu cầu nhập khẩu
gạo còn hạn chế. Hiện nay lượng gạo trao ñổi trên thị trường thế giới chiếm
tỉ trọng thấp trong tổng cung (dưới 5%) và giá gạo chịu ảnh hưởng rất lớn
lượng mua vào của một số nước nhập khẩu chính như Inñônêxia, Philippin,
Trung Quốc,… Thời gian vừa qua Trung Quốc ñã ñẩy mạnh nhập gạo từ
các nước khác nhất là các nước ðông Nam Á.
Gần ñây nhất ñầu năm 2008, thế giới ñối ñầu với cuộc khủng hoảng
lương thực, giá gạo xuất khẩu ñạt mức kỷ lục 10601100 USD/tấn. Giá lương
thực, thực phẩm tăng ñe dọa hơn 100 triệu người trên thế giới.Vì vậy vấn ñề
an ninh lương thực luôn là mối quan tâm hàng ñầu của mọi quốc gia.
1.1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo của Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước trồng lúa trọng ñiểm trên thế giới,
người Việt Nam vẫn thường tự hào về nền văn minh lúa nước của ñất nước
mình. Từ xa xưa cây lúa ñã trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý nghĩa quan
trọng trong ñời sống của người dân Việt Nam (Bùi Huy ðáp, 1999). Xét về vị
trí ñịa lý, nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt ñới nóng ẩm, lượng bức xạ
mặt trời cao và ñất ñai phù hợp nên có thể trồng nhiều vụ lúa trong năm và
với nhiều giống lúa khác nhau. Sản xuất lúa gắn liền với sự phát triển của
nông nghiệp, theo tài liệu khảo cổ học ñáng tin cậy ñã công bố thì cây lúa
ñược trồng phổ biến và nghề trồng lúa ñã là nghề khá phồn thịnh ở nước ta ở
thời kỳ ñồ ñồng khoảng từ 4000-3000 năm trước Công nguyên (ðinh Thế
Lộc, 2006).
Gần nửa thế kỷ qua, nước ta phấn ñấu ñi lên giải quyết vấn ñề lương
thực theo hướng sản xuất ña dạng các loại ngũ cốc và cây ăn củ. Những loại
ñất thích hợp cho trồng lúa như ñất phù sa, ñất glây, ñất phèn, ñất mặn thì
dành cho trồng lúa. Ngoài ra trong quá trình hình thành và phát triển nghề
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
6
trồng lúa, nông dân Việt Nam ñã có nhiều thành tựu trong việc xây dựng hệ
(Triệu ha) (Tạ/ha) (triệu tấn)
2000 7,67 42,4 32,5
2001 7,49 42,9 32,1
2002 7,52 45,9 34,6
2003 7,45 46,4 34,6
2004 7,45 48,6 36,1
2005 7,30 48,9 35,8
2006 7,33 48,9 35,8
2007 7,21 49,9 36,0
2008 7,44 52,3 38,7
2009 7,40 52,3 38,9
2010 7,49 53,4 40,0
2011 7,67 55,3 42,3
Nguồn: FAOSTAT, 2011
Việc chuyển ñổi mục ñích sử dụng trong những năm gần ñây ñã và
ñang làm giảm ñáng kể diện tích ñất nông nghiệp nói chung và ñất trồng lúa nói
riêng. Vì thế mặc dù việc thâm canh tăng vụ rất ñược chú trọng, song tổng diện
tích lúa thu hoạch hàng năm từ năm 2001-2007 ñang giảm dần. Năm 2007 diện
tích lúa của nước ta ñã giảm tới 465-300 ha so với năm 2000 (FAO, 2013), từ năm
2008 ñến nay diện tích có tăng trở lại.
Việc sản xuất nông nghiệp nước ta trải dài trên bảy vùng sinh thái từ
Nam vào Bắc. Vùng ñồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất của cả
nước, diện tích và sản lượng lớn gấp gần 3 lần diện tích và sản lượng lúa
ñồng bằng sông Hồng. Lượng gạo nước ta xuất khẩu chủ yếu ñược tập
trung sản xuất ở vùng này. Vùng ñồng bằng sông Hồng là vựa lúa lớn thứ 2
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
8
của cả nước. Hàng năm hai vựa lúa ñồng bằng sông Hồng và ñồng bằng
sông Cửu Long chiếm gần 70% tổng sản lượng lúa toàn quốc. Nhìn chung
Nam
Trung
Bộ
Tây
Nguyên
ðông
Nam
Bộ
ðồng
bằng
sông Cửu
Long
2000 32,53 2,29 6,76 2,82 2,15 0,59 1,21 16,72
2001 32,11 2,50 6,61 2,97 2,18 0,65 1,21 16,00
2002 34,45 2,63 6,95 3,16 2,18 0,61 1,21 17,20
2003 34,57 2,75 6,70 3,22 2,35 0,75 1,27 17,53
2004 36,15 2,82 6,93 3,38 2,39 0,78 1,28 18,57
2005 35,83 2,86 6,40 3,17 2,17 0,72 1,21 19,30
2006 35,84 2,90 6,73 3,48 2,47 0,88 1,16 18,23
2007 35,94 2,89 6,50 2,98 2,78 0,87 1,24 18,68
2008 38,73 2,90 6,79 3,26 2,85 0,94 1,32 20,67
2009 38,95 3,05 6,80 3,28 2,97 1,00 1,33 20,52
2010 39,99 3,08 6,80 3,11 3,05 1,04 1,33 21,57
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam năm 2013
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
9
Như vậy vấn ñề ñặt ra ñối với ngành sản xuất nông nghiệp nước ta hiện
nay là cần phải khắc phục những hạn chế của các vùng sinh thái ñể từ ñó thu
bình quân là 550 USD/tấn, gần gấp ñôi so với năm 2007 (Webside:
Năm 2011 nước ta xuất khẩu ñược 7,1 triệu tấn,
năm 2012 ñạt 7,7 triệu tấn gạo, vượt qua Thái Lan trở thành nước xuất khẩu
gạo lớn nhất thế giới (Bảng 1.3), ước tính năm 2013 xuất khẩu gạo của nước
ta ñạt khoảng trên 7 triệu tấn
Theo phân tích mới ñây của FAO, khủng hoảng tài chính toàn cầu ñã
buộc các nước phải tăng cường dự trữ lương thực ñể phòng tránh rủi ro và ñiều
ñó ñã ảnh hưởng tích cực ñến thị trường xuất khẩu gạo trong ñó có Việt Nam.
Bảng 1.4: Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam
giai ñoạn từ năm 2008 -2012
Năm
2008 2009 2010 2011 2012
Sản lượng (triệu tấn) 4,68 6,05 6,75 7,10 7,70
Nguồn: Hiệp hội lương thực Việt Nam
Những năm gần ñây, ngoài việc phối hợp với Indonesia, Philippin,
Nhật Bản trong các hoạt ñộng xuất khẩu gạo, thì sự phối hợp trong các hoạt
ñộng xuất khẩu gạo của Hiệp hội xuất khẩu gạo Thái Lan và Việt Nam cũng
tạo ñiều kiện thuận lợi cho mỗi nước trong việc ñiều tiết thị trường và không
bị ép giá.
Bên cạnh những thuận lợi thì xuất khẩu gạo Việt Nam cũng gặp những
thách thức không nhỏ vì Việt Nam là thành viên của WTO nên thị trường
nông sản nói chung, thị trường lúa gạo nói riêng sẽ mở rộng cửa cho hàng
nhập khẩu từ các nước. Hàng rào thuế quan và sự bảo hộ của Nhà nước ñối với
sản xuất và xuất khẩu gạo sẽ dần hạn chế và tiến tới bãi bỏ. Gạo Thái Lan, Mỹ,
Trung Quốc, Pakistan… và các nước khác có chất lượng cao, giá rẻ hơn sẽ tràn
vào thị trường Việt Nam với thuế nhập khẩu không ñáng kể. Do ñó lúa gạo
Việt Nam phải chịu sức ép cạnh tranh gay gắt ngay trên sân nhà, trong khi ñó
cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, chế biến gạo của ta còn lạc hậu.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
12
sinh học của nó mà không ñòi hỏi sử dụng giống mới hay ñầu tư về phân bón
và thuốc bảo vệ thực vật (Hoàng Văn Phụ, 2005).
SRI là sự tác ñộng tổng hợp các biện pháp kỹ thuật như cấy mạ non, cấy
một dảnh, khoảng cách cấy rộng, tưới ñủ ẩm nhờ ñó cây lúa phát huy ñược tối
ña tiềm năng sinh trưởng và phát triển ñể cho năng suất cao
Cấy mạ non (tuổi mạ từ 8-12 ngày, khoảng 2-2,5 lá) mục ñích ñể cây lúa
có bộ rễ sinh trưởng tốt, ñẻ nhánh khỏe và ñẻ nhánh nhiều, tăng số nhánh hữu
hiệu. Có ñược các kết quả trên là do cấy mạ non thì sau khi chuyển từ ruộng
mạ sang ruộng cấy thì cây mất ít thời gian bén rễ hồi xanh hơn so với cấy mạ
già. Sau khi cấy cây non vẫn tiếp tục sử dụng dinh dưỡng trong nội nhũ và
hút một phần dinh dưỡng từ ñất. Do ñó tạo nên sự sinh trưởng liên tục của
cây. Vì vậy khi cây có thể ñẻ nhánh ngay từ lá thật thứ tư làm tăng số nhánh
ñẻ và khả năng hình thành bông.
Chúng ta biết rằng:
Phạm vi mắt ñẻ = tổng lá – (tuổi mạ + số lóng) + 1
Vậy tuổi mạ càng giảm thì phạm vi mắt ñẻ càng tăng nên số bông hữu
hiệu cũng tăng theo (Nguyễn Văn Hoan, 2006) [4].
Khoảng cách cấy rộng (30x30 cm, 25x25 cm…) ñể kích thích cây lúa ñẻ
nhánh, bông to, số hạt trên bông nhiều, tỷ lệ hạt chắc cao. Khoảng cách giữa
các cây rộng nên ánh sáng có thể chiếu vào mắt ñốt của cây nên làm tăng khả
năng ñẻ nhánh của cây, bông to và nhiều hạt hơn (Hoàng Văn Phụ, 2005).
Trong một ñơn vị diện tích, số lượng cây ít làm giảm canh tranh dinh dưỡng
giữa các cây, cây sẽ ñược cung cấp ñầy ñủ dinh dưỡng trong thời kỳ ñẻ nhánh
tạo tiềm năng nhánh hữu hiệu cao. Bộ rễ cây lúa chủ yếu tập trung ở 10 cm bề
mặt nên khoảng cách rộng sẽ tạo ñiều kiện ñể rễ phân bố nhiều trên bề mặt có
nhiều oxy và dinh dưỡng giúp cây sinh trưởng tốt, ñẻ nhánh khoẻ. ðiều này
dẫn ñến diện tích lá lớn do có nhiều nhánh và lá to giúp cho cây tăng khả
làm mất phần nội nhũ còn lại trên cây mạ. Tốt nhất nên dùng hỗn hợp 1/3 ñất
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
14
+ 1/3 phân ủ + 1/3 phân gia cầm ñã ủ hoai (hoặc có thể một loại phân khác
thay thế). Nếu ñất có thành phần cơ giới nặng thì nên trộn thêm cát.
Mạ nên ñược cấy khi còn rất non khoảng 8-12 ngày tuổi (khoảng 2-2,5
lá). Thông thường mạ phải ñược cấy trước 15 ngày tuổi kể từ khi nảy mầm.
Sau khi nhổ, mạ phải ñược cấy cẩn thận, cấy ngay không ñể lâu quá 30 phút
với mục ñích không ñể rễ mạ bị khô. Vận chuyển mạ cẩn thận từ ruộng mạ ra
ruộng cấy, giữ cho hạt thóc còn dính vào mạ và ñất không bị rời ra khỏi rễ.
Cây mạ ñược cấy cẩn thận trên ñồng ruộng, sâu trong bùn 1-2 cm.
- ðầu rễ nên cấy theo chiều ngang, không ñược nhấn sâu vào ñất. Nếu
ñầu rễ hướng lên phía trên sẽ làm chậm sự sinh trưởng của cây mạ khi ñưa ra
môi trường mới.
- Cấy một dảnh/khóm thay vì cấy 3-4 dảnh/khóm. Cấy một dảnh có
nhiều khoảng trống hơn cho bộ rễ sinh trưởng.
- Cấy ñúng khoảng cách ñã ñịnh trước (cấy vuông mắt sàng 25x25 cm,
30x30 cm…). ðể xác ñịnh ñúng khoảng cách có rất nhiều cách do khả năng
sáng tạo của người nông dân từng ñịa phương. Những người nông dân ở
Tripura-Ấn ðộ ñã căng sợi dây ngang qua ruộng cấy, ñánh dấu hoặc buộc các
nốt ở từng khoảng cách xác ñịnh (25 cm hoặc hơn). Nếu ruộng ñược bừa kĩ,
mềm nhuyễn, các ñường dây ñược giữ ñúng ở vị trí so với mặt ruộng tạo ñiều
kiện cho người cấy dễ dàng xác ñịnh khoảng cách và cấy nhanh. Nông dân ở
Lakshmana Reddy- Ấn ðộ nhận thấy rằng họ có thể cấy nhanh và dễ dàng
hơn nếu dùng khung cấy. Hai khung cấy ñược cắm ở hai ñầu ruộng cấy và di
chuyển theo chiều ngang của ruộng trong lúc cấy. Những người thực hiện SRI
ở Nepal lại dùng cào rạch ñường ñánh dấu vị trí cấy trên ruộng, khi cấy thì ñặt
cây mạ vào những ñiểm ñã ñánh dấu trước. Ngoài ra còn có thể áp dụng
phương pháp gieo thẳng trong canh tác SRI (Uphoff, 2000).
Lần làm cỏ thứ nhất ñược tiến hành 10-12 ngày sau khi cấy, trước khi cỏ sinh
trưởng mạnh và sau ñó cứ 10-12 ngày làm cỏ một lần cho ñến khi lúa kín
hàng, cỏ dại không có khả năng sinh trưởng nữa. Số lần làm cỏ tối thiểu là 2