Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng và chất hữu cơ tự nhiên đến khả năng nhân nhanh chồi lan kim tuyến (anoectochilus roxburghii) bằng kỹ thuật in vitro - Pdf 22


B3 : Nicotinic acid
B5 : Gamborg
B6 : Pyridoxine
BA : 6-Benzylaminopurine
CV : Coefficient of Variation
Đ/C : Đối chứng
IAA : Indol axetic acid
Kinetin : 6-Furfurylaminopurine
LSD : Least Significant Difference
MS : Murashige and Skoog
NAA : Napthalene axetic Acid
TN : Thí nghiệm
TDZ
: 1,2,3-Thiadiazol-5-yl
WPM : Woody Plant Medium


Hình 2.1. Sơ đồ phân hóa tế bào 7
Hình 2.2. Sơ đồ phản phân hóa tế bào 7
4


 !"
Lan Kim Tuyến - Anoectochilus roxburghii (Wall.) thuộc họ Lan -
Orchidaceae, được phân bố rộng ở hầu hết các tỉnh của Việt Nam [4].Chi Lan
Kim Tuyến Anoectochilus ở Việt Nam hiện thống kê được 12 loài, trong đó có
loài Lan Kim Tuyến Anoectochilus roxburghii (Wall). Là một loại thảo dược
có giá trị dược liệu, Lan Kim Tuyến có khả năng chữa trị các bệnh ung thư,
chống tăng huyết áp, lưu thông khí huyết, kháng khuẩn, làm thuốc trị lao phổi,
ho do phế nhiệt, phong thấp, đau nhức xương khớp, viêm dạ dày mãn tính, viêm

nghiêm túc, sáng tạo.
- Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài góp phần bổ sung quy trình kỹ thuật nhân giống lan
Kim Tuyến nhằm cung cấp cây giống với số lượng lớn, có chất lượng đồng đều
đồng thời giữ được đặc tính di truyền của cây chọn lọc.
Bảo tồn được loại dược liệu quý đang có nguy cơ tuyệt chủng.
6
#
56789
#+:+'+;/%'/ 3"%<=>) ?+@/=A
3242425*(60
Lan Kim Tuyến có tên khoa học là Anoectochilus roxburghii (Wall.) [4].
Giới (regnum) : Plantae
Ngành (Phylum) : Magnoliophyta
Lớp (Class) : Liliospida
Bộ (ordo) : Asparagales
Họ (Family) : Orchidaceae
Chi (genus) : Anoectochilus
Loài (species) : roxburghii [7].
324232789#0:%*"#$%
Lan Kim Tuyến là cây thảo, có thân rễ mọc dài, thân trên đất mọng nước
mang 2-6 lá mọc xoè sát đất. Lá hình trứng, gần tròn ở gốc, chóp hơi nhọn và có
mũi ngắn, cỡ 3,5-4,5 x 2,5-3,5 cm. Lá có màu nâu đỏ ở mặt trên. Hệ gân lá mạng
lưới lông chim, thường có 5 gân gốc. Các gân này thường có màu hồng ở mặt
trên và nổi rất rõ. Đôi khi gân ở giữa có màu vàng nhạt. Mặt dưới lá có màu nâu
đỏ nhạt, nhẵn với 5 gân gốc nổi rõ. Các gân bên ở phía rìa lá nổi rõ, gân ở giữa lá
ở mặt dưới không rõ. Cuống lá dài 0.6-1.2 cm, thường nhẵn và có màu trắng
xanh, đôi khi hơi đỏ tía ở bẹ lá. Bẹ lá nổi rõ và nhẵn. Hoa tự chùm mọc ở đầu
ngọn thân, trục hoa dài từ 5-20 cm, thường phủ lông màu nâu đỏ, mang từ 4-10
hoa. Mùa hoa nở tháng 9-12. Mùa quả chín tháng 12-3 năm sau. Hoa có cánh

và nhẵn. Số lá trên một cây thay đổi từ 2-6, thông thường có 4 lá. Kích thước
của lá cũng thay đổi, các lá trên một cây thường có kích thước khác nhau rõ rệt
[10].
+ Hoa: Cụm hoa dài 10-15cm, mang 4-10 hoa mọc thưa. Lá bắc hình
trứng, hoa thường màu trắng, dài 2,5-3cm, các mảnh bao hoa dài khoảng 6mm,
môi dài 1,5cm, ở mỗi bên gốc mang 6-8 dải hẹp, chóp phiến rộng, chẻ hai sâu,
hốc chứa mật dài 7mm, bầu dài 1,3cm màu lục có nhiều lông mềm [4], [10].
3242;2789#<,=!"#$%
- Phân bố theo kiểu rừng: Lan Kim Tuyến hầu hết phân bố ở rừng kín lá
rộng, rừng thường có cấu trúc 2 tầng cây gỗ [10].
- Phân bố theo trạng thái rừng: Đặc điểm của cây bụi và thảm tươi ở khu
vực Lan Kim Tuyến phân bố là thưa thớt, độ che phủ khoảng 15-30%, độ cao
của lớp cây bụi và thảm tươi khoảng từ 0,1-0,5m tuỳ từng khu vực. Lan Kim
Tuyến thường ít phân bố ở những nơi cây bụi, thảm tươi dày đặc. Chúng có thể
nằm ngay trên lớp thảm mục của rừng đang bị phân huỷ [10].
8
- Phân bố theo sinh cảnh: Lan Kim Tuyến chủ yếu phân bố trên đất,
chúng mọc sát ngay bề mặt đất, nơi đất giàu mùn, độ ẩm, độ xốp cao, thoáng
khí, thậm chí ngay trên lớp thảm mục của rừng đang phân huỷ. Đôi khi chúng
mọc trên các tảng đá ẩm, trên các đoạn thân cây gỗ mục, trong gốc cây trên các
đoạn thân cây gỗ mục, trong gốc cây. Có thể bắt gặp Lan Kim Tuyến ở trong
rừng nơi ẩm ướt, ven các khe suối, dưới tán rừng cây gỗ lớn, hoặc dưới rừng
trúc, rừng sặt, trên đường mòn đi lại trong rừng [10].
- Phân bố theo địa lý, địa hình:Phân bố ở hầu hết các dạng địa hình, như
chân núi, sườn núi, đỉnh núi [10].
- Phân bố theo đai cao: Lan Kim Tuyến thường phân bố ở đai cao trên
735m, tập trung chủ yếu ở độ cao trên 970m [10].
Ở Việt Nam, Lan Kim Tuyến có phổ phân bố khá rộng bao gồm các tỉnh:
Lào Cai (Sapa), Hà Giang (Quảng Bạ), Yên Bái, Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Hà Tây
(Mỹ Đức: Chùa Hương), Quảng Trị (Đồng Chè), Kom Tum (Đắc Tô: Đăc Uy),

tăng huyết áp hiệu quả và hợp chất chuyển hoá arachidonic acid liên quan đến
chức năng tim mạch [25]. Lan Kim Tuyến chứa các nguyên tố vi lượng (Fe, Co,
Cu, Mn, Zn, Cr) đóng vai trò quan trọng trong việc chống lão hóa, chuỗi
polysaccharide nâng cao hiệu lực của miễn dịch trong cơ thể con người [19].
Cây Lan Kim Tuyến sau khi thu hoạch có thể xuất khẩu ở dạng thô, sản
phẩm gồm thân, rễ và lá phơi khô để chế biến trà dược, thực phẩm chức năng,
thạch Lan và đặc biệt là chiết xuất chất 3(R)-3-β-D-glucopyranosyloxy butanolide
từ Lan Kim Tuyến để sản xuất biệt dược kinsenoside [29].
##?'B+C/B" /D+%=@DAE*F'G%H
323242"@B#C%#C,(0
Nuôi cấy mô tế bào thực vật là phạm trù khái niệm chung cho tất cả các
loại nuôi cấy nguyên liệu thực vật hoàn toàn sạch các vi sinh vật trên môi trường
dinh dưỡng nhân tạo, trong điều kiện vô trùng [6]. Nhân giống vô tính in vitro
được tiến hành trên nguyên tắc cắt nuôi đoạn thân có mang chồi ở nách lá, đoạn
rễ hay mảnh củ, cánh hoa, có kích thước nhỏ phù hợp với điều kiện vô trùng của
ống nghiệm [3].
Phương pháp nhân giống in vitro đã bổ sung cho các kỹ thuật nhân giống
vô tính cổ điển như giâm, chiết, ghép tách dòng một kỹ thuật tiến bộ với những
ưu điểm như tốc độ nhân giống cao từ 33 đến 1012 một năm; Chủ động sản
xuất, không phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, mùa vụ; Có khả năng công nghiệp
hóa cao do nuôi cấy trong điều kiện ổn định về môi trường dinh dưỡng, nhiệt độ,
ánh sáng, do đó có thể công nghiệp hóa hoàn toàn từ khâu nhân cây giống với số
lượng lớn đến khi ươm trồng trong nhà lưới [3].
323232D(:C%#C,(0
- Tính toàn năng của tế bào
10
Năm 1902, Nhà Sinh lý thực vật học người Đức Haberlandt, đã tiến hành
nuôi cấy các tế bào thực vật để chứng minh tế bào là toàn năng[13].
Haberlandt cho rằng mỗi tế bào của bất kỳ sinh vật nào cũng đều có khả
năng tiềm tàng để phát triển thành một cơ thể hoàn chỉnh. Ông nhận thấy, mỗi tế

Về bản chất thì sự phân hóa và phản phân hóa là một quá trình hoạt hóa,
ức chế các gen. Tại một thời điểm nào đó trong quá trình phát triển cá thể, có
một số gen được hoạt hóa (mà vốn trước nay bị ức chế) để cho ta tính trạng mới,
còn một số gen khác lại bị đình chỉ hoạt động. Điều này xảy ra theo một chương
trình đã được mã hóa trong cấu trúc của phân tử acid deoxyribonucleic của mỗi
tế bào khiến cho quá trình sinh trưởng phát triển của cơ thể thực vật luôn được
hài hòa. Mặt khác, khi tế bào nằm trong một khối mô của cơ thể thường bị ức
chế bởi các tế bào xung quanh. Khi tách riêng từng tế bào hoặc giảm kích thước
của khối mô sẽ tạo điều kiện cho sự hoạt hóa các gen của tế bào [6].
3232;27EB#CFC%#C,(0
2.2.3.1. Điều kiện nuôi cấy mô tế bào thực vật
- Điều kiện vô trùng
Nuôi cấy in vitro là nuôi cấy trong điều kiện vô trùng. Nếu không đảm
bảo tốt điều kiện vô trùng mẫu nuôi cấy hoặc môi trường sẽ bị nhiễm, mô nuôi
cấy sẽ bị chết. Điều kiện vô trùng có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của
nuôi cấy mô [12].
Phương pháp vô trùng vật liệu thông dụng nhất hiện nay là dùng các chất
hóa học, tia cực tím có khả năng diệt nấm và vi khuẩn [12].
Vô trùng ban đầu là một thao tác khó, có ý nghĩa quyết định đến thành
công trong nuôi cấy mô tế bào. Tuy nhiên, nếu tìm được nồng độ và thời gian xử
lý thích hợp sẽ cho tỷ lệ sống cao, thông thường hay sử dụng một số hóa chất
như: HgCl
2
0,1%, NaHCl 10%, cồn 76
0
…để khử trùng. Phương tiện khử trùng:
Nồi hấp vô trùng, tủ sấy, buồng cấy và tủ cấy vô trùng, phòng nuôi cây [12].
- Điều kiện ánh sáng và nhiệt độ
Ánh sáng và nhiệt độ là hai yếu tố chính có ảnh hưởng cơ bản đến quá
trình sinh trưởng của mô nuôi cấy.

cứu một số loài mới hoặc giống mới cần phải chọn lựa cho đối tượng nghiên cứu
một loại môi trường cơ bản phù hợp [12].
Từ những năm 1933, Tukey đã nghiên cứu tạo ra môi trường nuôi cấy
thực vật, cho đến nay đã có rất nhiều loại môi trường khác nhau được sử dụng
cho mục đích này, trong đó có một số môi trường cơ bản được sử dụng rất phổ
biến như MS, B
5
, WPM. Ví dụ, môi trường MS là môi trường được sử dụng
rộng rãi nhất trong nuôi cấy mô của tế bào thực vật, môi trường MS thích hợp
cho cả thực vật 1 lá mầm, 2 lá mầm. Hay môi trường B5 dùng thử nghiệm trên
đậu tương [12].
Tuy có rất nhiều loại môi trường nuôi cấy mô tế bào thực vật nhưng đều
gồm một số thành phần cơ bản sau [3] [13]:
13
Các muối khoáng đa lượng và vi lượng.
Nguồn cacbon.
Các vitamin và aminoacid.
Chất bổ sung, chất làm thay đổi trạng thái môi trường.
Các chất điều hòa sinh trưởng.
- Các muối khoáng đa lượng và vi lượng:
Đối với cây trồng, các chất khoáng đa và vi lượng đóng vai trò rất quan
trọng. Ví dụ, Mg là một phần của phân tử diệp lục, canxi cấu tạo màng tế bào,
nitơ là thành phần quan trọng của vitamin, amino axit và protein. Ngoài ra, các
nguyên tố vi lượng như Fe, Zn, Mo, Mn là thành phần của một số enzym cần
thiết cho hoạt động sống của tế bào [13].
Muối khoáng là thành phần không thể thiếu trong các môi trường nuôi
cấy tế bào thực vật, làm vật liệu cho sự tổng hợp các chất hữu cơ, enzyme [13].
Các ion của các muối hòa tan giúp ổn định áp suất thẩm thấu của môi
trường trong tế bào, duy trì điện thế hóa của thực vật. Ví dụ: K, Ca rất quan
trọng trong điều hòa tính thấm lọc của tế bào [13].

bảo quản. Thông thường nước dừa thường được xử lý để loại trừ các protein, sau
đó được lọc qua màng lọc để khử trùng trước khi bảo quản lạnh [18].
Tồn dư của protein trong nước dừa không gây ảnh hưởng đến sinh trưởng
của mô hoặc tế bào nuôi cấy, nhưng sẽ dẫn đến kết tủa dung dịch khi bảo quản
lạnh. Chất cặn có thể được lọc hoặc để lắng dưới bình rồi gạn bỏ phần cặn [18].
Nước dừa thường sử dụng với nồng độ 5 - 20% thể tích môi trường, kích
thích phân hóa và nhân nhanh chồi.
+ Khoai tây
Dịch chiết khoai tây có chứa cacbohydrat, acid amin, các vitamin như
vitamin C, B
1
, B
6
và các yếu tố khoáng như kali, sắt, magiê rất tốt cho sự sinh
trưởng và phát triển của mô, tế bào. Chiết xuất khoai tây được bổ sung vào môi
trường nuôi cấy lan, bao phấn lúa và một số cây ngũ cốc khác [30]. Nồng độ
khoai tây thường sử dụng là 20mg/l [25].
+ Dịch chiết nấm men
Có tác dụng kích thích sự sinh trưởng và phát triển của mô và tế bào.
Dịch chiết nấm men là chế phẩm thường dùng trong nuôi cấy vi sinh vật, mô tế
bào động vật với nồng độ thích hợp.
Ngoài ra, có thể sử dụng dịch thủy phân casein hydrolyase (0,1-1%) hoặc
bột chuối với hàm lượng 40g bột khô trong 100g/l (chuối xanh) nhằm tăng
cường sự phát triển của mô sẹo hay cơ quan nuôi cấy.
+ Agar
Trong môi trường nuôi cấy đặc, người ta thường sử dụng agar để làm rắn
hoá môi trường. Nồng độ agar sử dụng thường là 0,6-1%, đây là loại tinh bột đặc
15
chế từ rong biển để tránh hiện tượng mô chìm trong môi trường hoặc bị chết vì
thiếu O

làm màng tế bào mềm và kéo dài ra do đó tê bào lớn lên và sinh
trưởng. Trong tế bào, NAA có tác dụng lên sự tổng hợp acid nucleic [3].
16
Trong cây, auxin được tổng hợp ở các mô non đặc biệt là lá đang phát
triển và vùng đỉnh chồi. Từ những vùng này auxin được chuyển xuống các phần
phía dưới của cây.
+ Cytokinin
Cytokinin là chất điều hoà sinh trưởng có tác dụng làm tăng sự phân chia
tế bào. Các cytokinin thường gặp là Kinetin, BAP. Kinetin được Skoog phát
hiện ngẫu nhiên trong chiết xuất axit nucleic. Kinetin thực chất là một dẫn xuất
của bazơ nitơ adenine. BA là cytokinin tổng hợp nhân tạo nhưng có hoạt tính
mạnh hơn Kinetin. Kinetin và BA cùng có tác dụng kích thích phân chia tế bào
kéo dài thời gian động của tế bào phân sinh và làm hạt chế sự hoá già của tế bào.
Ngoài ra các chất này có tác dụng lên quá trình trao đổi chất, quá trình tổng hợp
ADN, tổng hợp protein và làm tăng cường hoạt tính của một số enzym. Cơ chế
tác dụng của auxin ở mức độ phân tử trong tế bào thể hiện bằng tác dụng tương
hỗ của cytokinin với các nucleoprotein làm yếu mối liên kết của histon với
ADN, tạo điều kiện cho sự tổng hợp ADN [3], [13], [14].
Những nghiên cứu của Miller và Skoog (1963) đã cho thấy không phải các
chất kích thích sinh trưởng ngoại sinh tác dụng độc lập với hoocmon sinh trưởng
nội sinh. Phân chia tế bào, phân hoá và biệt hoá được điều kiển bằng sự tác động
tương hỗ giữa các hoocmon ngoại sinh và nội sinh. Tác động phối hợp của
Aaxin và cytokinin có tác động quyết định đến sự phát triển và phát sinh hình
thái của tế bào và mô. Những nghiên cứu của tác giả Skoog cho thấy tỷ lệ
auxin/cytokinin cao thì thích hợp cho sự hình thành rễ và thấp thì thích hợp cho
quá trình phát sinh chồi. Nếu tỷ lệ này ở mức độ cân bằng thì thuận lợi cho phát
triển mô sẹo (callus). Das (1958) và Nitsch (1968) khẳng định rằng chỉ khi tác
dụng đồng thời của auxin và cytokinin thì mới kích thích mạnh mẽ sự tổng hợp
DNA, dẫn đến quá trình cảm ứng cho sự phân chia tế bào. Theo Dmitrieva
(1972) giai đoạn đầu của quá trình phân bào được cảm ứng bởi auxin còn giai

Năm 2004, Kiet Van Nguyen đã nghiên cứu thành công quy trình nhân
giống in vitro loài Lan Kim Tuyến - Anoectochilus formosanus. Môi trường tạo
vật liệu khởi đầu là H3 (Hyponex: 6,5N-4,5P-19K1g/l + 20N-20P-20K1g/l +
peptone 2g/l). Môi trường nhân nhanh là: H3 + BAP 1mg/l (hoặc 1-2mg/l TDZ)
+ than hoạt tính 1% [21].
Năm 2011, Lazarus Agus Sukamto và cs đã tìm ra môi trường nuôi cấy A.
setaceus tốt nhất với TDZ là 0,1 mg/l, A. formosanus với TDZ là 0,5 mg/l. Số lá
cao nhất của A.setaceus với TDZ 0,001 mg/l, còn A. formosanus với hàm lượng
TDZ là 0,005mg/l. Số chồi được tạo ra trên môi trường TDZ đối với loài A.
setaceus là 0,01mg/l còn với A. formosanus là 0,05mg/l. Số rễ cao nhất của A.
setaceus trên TDZ là 0,001 mg/l trong khi của A. formosanus là 0,005mg/l [22].
Năm 2012, N. Ahamed Sherif và cs đã nghiên cứu thành công quy trình
tái sinh tạo cây hoàn chỉnh loài Anoectochilus elatus Lindley từ nguyên liệu ban
đầu là mắt đốt thân và chồi đỉnh. Chồi phát triển tốt nhất ở nồng độ TDZ 3,0mg/l
18
và chiều dài chồi đạt cao nhất ở nồng độ KIN 3,5mg/l với mắt đốt thân, ở
0,01mg/l đối với chồi đỉnh. Anoectochilus elatus Lindley ra rễ 100% ở môi trường
có bổ sung than hoạt tính 0,3g/l [23].
Năm 2008, Yang Bai-yun đã nghiên cứu về loài Anoectochilus
roxburghii đã kết luận môi trường tốt nhất cho nhân nhanh protocom là MS +
BA 2,0mg/l + NAA 0,2 mg/l cho hệ số nhân của 9.4 lần. Môi trường ra rễ phù
hợp nhất là 1/2 MS + NAA 0,2 mg/l + than hoạt tính 0,05% + agar 0,7 số
rễ/cây đạt 4.4 rễ [28].
32;232$GG=!"#$%IB#
Năm 2009, Phùng Văn Phê và cs đã đưa ra kết quả nghiên cứu về đặc
điểm hình thái và phân bố của loài Lan Kim Tuyến Anoectochilus setaceus
Blume ở Vườn Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc [10].
Năm 2010, Phùng Văn Phê và cs tiến hành nghiên cứu kỹ thuật nhân
nhanh chồi in vitro loài Lan Kim Tuyến Anoectochilus roxburghii (Wall.) Lindl.
Kết quả cho thấy: Môi trường phù hợp nhất để nhân nhanh chồi Lan Kim Tuyến

;23232$F
Từ tháng 12/2013 đến tháng 5/2014
,,O)%'*'+AE\
;2;242JKK
- Micropipette 200µl
- Đầu côn vô trùng
- Pank, dao, kéo, đĩa cấy
;2;232LM
- Cồn 96
0
- Môi trường MS cơ bản
- Myo-Inositol
20
- Saccharose
- Agar
- Các chất kích thích sinh trưởng: BA, Kinetine, NAA
- Chất hữu cơ tự nhiên: Khoai tây, nước dừa, chuối xanh
;2;2;2$,A
- Máy đo pH
- Máy khuấy từ
- Cân phân tích, cân kỹ thuật
- Bếp gas
- Tủ sấy
- Nồi hấp vô trùng
- Box cấy vô trùng, đền cồn
- Tủ lạnh
,1_+`/ 3*N'TL 3N'BN 3'+. %Q/
;2>242NO
_+`/ 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất kích thích sinh
trưởng (BAP, Kinetin, NAA) đến khả năng nhân nhanh chồi Lan Kim Tuyến

các bình này
được đưa vào phòng nuôi. Sau đó tiến hành theo dõi số chồi và chất
lượng chồi (quan sát bằng mắt thường).
'& 3'+;@JNghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ BAP đến khả năng
nhân nhanh chồi Lan Kim Tuyến (sau 35 ngày nuôi cấy).
Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn. Với
6 công thức, mỗi công thức nhắc lại 3 lần, mỗi lần nhắc lại cấy trong 3 bình, mỗi
bình cấy 5 chồi. Thí nghiệm được bố trí như sau:
D 3'Q% M 3!_a@3b>c
CT1 (Đ/C) MT nền + 0,0
CT2 MT nền + 1,0
CT3 MT nền + 1,5
CT4 MT nền + 2,0
CT5 MT nền + 2,5
CT6 MT nền + 3,0
Chỉ tiêu theo dõi: Hệ số nhân chồi, chất lượng chồi.
Ghi chú:
Môi trường nền (MT nền) được sử dụng là MS bổ sung saccharose 20g/l +
6g agar/l + Inositol 0,1g /l, pH = 5,7.
22
Nồng độ BAP thích hợp cho nhân nhanh chồi Lan Kim Tuyến ở thí
nghiệm 1 (kí hiệu A) được sử dụng cho các thí nghiệm tiếp theo.
'& 3'+;@#: Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng BAP tốt nhất kết
hợp với Kinetin đến khả năng nhân nhanh chồi Lan Kim Tuyến (sau 35 ngày
nuôi cấy).
Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn. Với
6 công thức, mỗi công thức nhắc lại 3 lần, mỗi lần nhắc lại cấy trong 3 bình, mỗi
bình cấy 5 chồi. Kinetine và A (nồng độ BAP thích hợp cho nhân nhanh chồi
Lan Kim Tuyến xác định ở thí nghiệm 1) được bổ sung vào môi trường nền với
các nồng độ sau:

Ghi chú:
Môi trường nền (MT nền) được sử dụng là MS bổ sung saccharose 20g/l +
6g agar/l + Inositol 0,1g /l, pH = 5,7.
Nồng độ BAP, kinetine và NAA thích hợp cho nhân nhanh chồi Lan Kim
Tuyến ở thí nghiệm 3 (kí hiệu C) được sử dụng cho các thí nghiệm tiếp theo.
3.4.2.2. Phương pháp nghiên cứu nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số
chất hữu cơ tự nhiên (khoai tây, nước dừa, chuối xanh) đến khả năng nhân
nhanh chồi Lan Kim Tuyến (Anoectochilus roxburghii).
- Cách tiến hành: như nội dung 1
'& 3'+;@1: Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng BAP, Kinetine và
NAA tốt nhất kết hợp với khoai tây đến khả năng nhân nhanh chồi Lan Kim
Tuyến (sau 35 ngày nuôi cấy).
Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn. Với
6 công thức, mỗi công thức nhắc lại 3 lần, mỗi lần nhắc lại cấy trong 3 bình, mỗi
bình cấy 5 chồi. Khoai tây được bổ sung vào môi trường nền và C (nồng độ
BAP, Kinetine và NAA thích hợp cho nhân nhanh chồi Lan Kim Tuyến được
xác định ở thí nghiệm 3).
D 3'Q% M 3!_d'F)+<=a3b>c
CT1 (Đ/C) MT nền + C + 0,0
CT2 MT nền + C + 20
CT3 MT nền + C + 30
CT4 MT nền + C + 40
24
CT5 MT nền + C + 50
CT6 MT nền + C + 100
Chỉ tiêu theo dõi: Hệ số nhân chồi, chất lượng chồi.
Ghi chú:
Môi trường nền (MT nền) được sử dụng là MS bổ sung saccharose 20g/l +
6g agar/l + Inositol 0,1g /l, pH = 5,7.
'& 3'+;@fJNghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng BAP, Kinetine và

CT3 MT nền + 30
CT4 MT nền + 40
CT5 MT nền + 50
CT6 MT nền + 100
Chỉ tiêu theo dõi: Hệ số nhân chồi, chất lượng chồi.
Ghi chú:
Môi trường nền (MT nền) được sử dụng là MS bổ sung saccharose 20g/l +
6g agar/l + Inositol 0,1g /l, pH = 5,7.
3.4.2.3. Các chỉ tiêu theo dõi
- Thường xuyên theo dõi hàng ngày, đánh giá tỷ lệ nhiễm nấm, khuẩn…
- Sau 35 ngày theo dõi tiến hành xác định các chỉ tiêu:
Hệ số nhân chồi (lần)
- Chất lượng chồi đánh giá ở 3 mức:
+ Chồi tốt (+++): Chồi khỏe, mập, cao, hình thái bình thường (không di
dạng).
+ Chồi trung bình (++): Chồi gầy, sinh trưởng bình thường.
+ Chồi xấu (+): Chồi bị dị dạng.
;2>2;25<@<+P*Q=*B
- Các số liệu được tính toán bằng phần mềm Excell 2007
- Quá trình xử lý thực hiện trên máy tính theo chương trình IRRISTAT 5.0

Trích đoạn KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 5.1 Kết luận
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status