Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường, nồng độ chất kích thích sinh trưởng và chất hữu cơ tự nhiên đến khả năng nhân giống hoa lan hồ điệp phalaenopsis sp từ phát hoa bằng kỹ thuật in vitro - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN NGỌC DOAN

Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG, NỒNG ĐỘ CHẤT
KÍCH THÍCH SINH TRƯỞNG VÀ CHẤT HỮU CƠ TỰ NHIÊN ĐẾN
KHẢ NĂNG NHÂN GIỐNG HOA LAN HỒ ĐIỆP (Phalaenopsis sp.) TỪ
PHÁT HOA BẰNG KỸ THUẬT IN VITRO”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Công nghệ Sinh học

Khoa

: CNSH - CNTP

Khóa học

: 2010 - 2014


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

: ThS. Nguyễn Thị Tình
Khoa CNSH - CNTP , ĐH Nông Lâm Thái Nguyên

Thái Nguyên, 2014


LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa
Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm trong thời gian thực tập tốt
nghiệp em đã thực hiện đề tài : “Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường,
nồng độ chất kích thích sinh trưởng và chất hữu cơ tự nhiên đến khả
năng nhân giống hoa lan Hồ Điệp Phalaenopsis sp. từ phát hoa bằng kỹ
thuật in vitro”.
Qua 6 tháng thực tập tại phòng nuôi cấy mô Khoa Công nghệ Sinh học
và Công nghệ Thực phẩm đến nay em đã hoàn thành đề tài.
Để đạt được kết quả như ngày hôm nay em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc tới cô giáo ThS. Nguyễn Thị Tình đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em
trong thời gian thực hiện đề tài.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ks. Lã Văn Hiền đã chỉ bảo trong thời
gian en thực tập trên phòng nuôi cấy mô Khoa Công nghệ Sinh học và Công
nghệ Thực phẩm.
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã hết lòng động
viên, giúp đỡ tạo điều kiện về vật chất và tinh thần cho em trong quá trình học
tập, nghiên cứu.
Do trình độ và thời gian thực hiện đề tài có giới hạn nên đề tài không
thể tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của
thầy cô và các bạn để đề tài của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Hình 4.5. Biểu đồ ảnh hưởng của hàm lượng KT, CR đến khả năng tạo chồi từ phát
hoa lan Hồ Điệp (sau 60 ngày nuôi cấy) ...................................................................34
Hình 4.6. Biểu đồ ảnh hưởng của nồng độ IBA đến khả năng ra rễ của hoa lan Hồ
Điệp (sau 60 ngày nuôi cấy)......................................................................................36


DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

BAP

: 6-Benzylaminopurie

CR

: Cà rốt

CT

: Công thức

DNA

: Deoxyribonucleic acid

ĐC

: Đối chứng

IAA


VW

: Vacin & Went


MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU .....................................................................................................1
1.1. Đặt vấn đề ............................................................................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................2
1.3. Yêu cầu nghiên cứu ..............................................................................................2
1.4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài .............................................................2
1.4.1. Ý nghĩa khoa học ..............................................................................................2
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn ...............................................................................................2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...........................................................................3
2.1. Giới thiệu về lan Hồ Điệp Phalaenopsis sp. ........................................................3
2.1.1. Nguồn gốc và phân bố.......................................................................................3
2.1.2. Phân loại ............................................................................................................4
2.1.3. Đặc điểm thực vật học của lan Hồ Điệp Phalaenopsis sp. ...............................5
2.1.4. Điều kiện trồng lan Hồ Điệp Phalaenopsis sp. .................................................8
2.1.4.1. Giá thể ............................................................................................................8
2.1.4.2. Nhiệt độ ..........................................................................................................9
2.1.4.3. Ánh sáng.........................................................................................................9
2.1.4.4. Nước tưới .......................................................................................................9
2.1.4.5. Phân bón .......................................................................................................10
2.2. Nuôi cấy mô tế bào thực vật ..............................................................................10
2.2.1. Khái niệm .......................................................................................................10
2.2.2. Cơ sở khoa học của nuôi cấy mô tế bào thực vật ............................................11
2.2.2.1. Tính toàn năng của tế bào ............................................................................11
2.2.2.2. Sự phân hóa và phản phân hóa tế bào ..........................................................11

chồi từ phát hoa lan Hồ Điệp Phalaenopsis sp. (sau 60 ngày nuôi cấy)...................29
4.2.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ BA đến khả năng nhân nhanh
chồi từ phát hoa lan Hồ Điệp Phalaenopsis sp. (sau 60 ngày nuôi cấy)...................31
4.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ IBA đến khả năng ra rễ của hoa lan
Hồ Điệp Phalaenopsis sp. (sau 60 ngày nuôi cấy) ...................................................35
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .......................................................................38
5.1. Kết luận ..............................................................................................................38
5.2. Đề nghị ...............................................................................................................38
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................39


1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Lan Hồ Điệp Phalaenopsis sp. là một trong những giống lan rất được
yêu thích không chỉ về màu sắc, kiểu dáng mà còn mang một nét đẹp rất sang
trọng và trang nhã, không những thế hoa lan Hồ Điệp lại rất lâu tàn. Chính vì
vậy, nó đã nhanh chóng trở thành sản phẩm trồng trọt mang lại hiệu quả kinh
tế cao không chỉ ở Việt Nam mà còn nhiều nước trên thế giới như Đài Loan,
Nhật Bản, Hà Lan, Mỹ… [4],[7].
Hồ Điệp là một loài lan rất khó nhân giống, thường cho hệ số nhân thấp
trong điều kiện vườn ươm [10]. Để có được số lượng lớn cây giống, đồng đều
đáp ứng nhu cầu thị trường thật nan giải. Trong những năm gần đây, công
nghệ lai giống kết hợp gieo hạt trong ống nghiệm cho tỷ lệ nẩy mầm cao, tạo
nên sự đa dạng về màu sắc, cấu trúc, kích thước hoa sau mỗi thế hệ. Tuy
nhiên nhân giống bằng phương pháp gieo hạt mang tính ngẫu nhiên thu được
cây có tính trạng yêu thích hay không và gần như không thể có được cây con
cho hoa đẹp như cây mẹ. Vì vậy, hiện nay các nhà nuôi cấy mô trong nước

bằng phương pháp nuôi cấy in vitro, để đảm bảo cung cấp số lượng lớn cây
giống có chất lượng, đồng đều chi phí rẻ cho sản xuất.


3

PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Giới thiệu về lan Hồ Điệp Phalaenopsis sp.
2.1.1. Nguồn gốc và phân bố
Các họ lan được đánh giá là các loài hoa cao cấp trong vương quốc
thảo mộc, bao gồm hơn 25.000 loài khác nhau, cùng với những loài mới được
khám phá và mô tả theo từng năm. Do đó chúng được phân bố vùng rộng lớn,
trải từ xích đạo đến bắc cực, từ đồng bằng tới các vùng núi băng tuyết, các
loài lan rất khác nhau. Các loài lan chủ yếu sống trên cây cao sống biểu sinh
lâu năm chúng được gọi chung là phong lan. Các loài mọc trong đất gọi là địa
lan và một số loài mọc trên núi đá gọi là thạch lan [3].
Hồ Điệp Phalaenopsis sp. có tên từ chữ Hy Lạp Phalaim – bướm và
Opsis - giống, đa số loài của chi có hoa giống như con bướm.
Lan Hồ Điệp là những cây sống biểu sinh, trên những cây cao trong
rừng dày có ẩm độ cao hoặc rất gần đất, trên những cây nhỡ (arbuter), hay
sống bám trên những hốc đá, hay trên những đám rêu dày, một vài loài sống ở
vùng ven biển. Lan Hồ Điệp Phalaenopsis sp. ít thích hợp với nắng hơn so
với những loại phong lan có giả hành. Nhiệt độ thích hợp cho sự tăng trưởng
và phát triển là 15 – 38ºC và giống này thường sống ở cao độ 200 m – 400 m
[3].
Lan Hồ Điệp Phalaenopsis sp. là một trong những loại phong lan được
trồng phổ biến trên thế giới. Hồ Điệp, được mệnh danh là hoàng hậu của các
loài phong lan, được phát hiện đầu tiên năm 1750, đến năm 1852 dùng từ
Blume để định danh. Đến nay đã phát hiện được hơn 70 loài. Lan Hồ Điệp


Lớp (Class):

Liliopsida (Hành)

Bộ (Order):

Orchidales

Họ (Family):

Orchidaceae

Họ phụ (subfamily):

Epidendroideae

Tông (Tribe):

Vandae

Tông phụ (subtribe):

Aeriadae


5

Nhóm (Alliance):


Điệp thường mọc tràn ra ngoài chậu, buông lơ lửng ra không khí, có lợi cho
việc hút O2 và nước. Có những nghiên cứu cho thấy rễ cây thuộc nhóm phong
lan cũng có khả năng quang hợp [15].
Phần rễ trên thường sống cộng sinh với nấm, do hạt của hoa lan nói
chung đều không có nội nhũ, không được cung cấp đủ dinh dưỡng khi nảy
mầm, trong điều kiện nảy mầm tự nhiên, cần dựa vào các mầm sống cộng


6

sinh để hút chất dinh dưỡng. Trong quá trình sinh trưởng của cây, các loài
nấm này sống cộng sinh tại rễ lan để tương trợ cho nhau, vì thế rễ của hoa lan
còn gọi là rễ nấm. Việc tưới và bón phân cho hoa lan Hồ Điệp phải yêu cầu
bón phân thật loãng, chính là vì trên rễ cây có nấm cộng sinh [15].
Thân: Lan Hồ Điệp Phalaenopsis sp. thuộc loại lan đơn thân, tức là
thân của chúng rất ngắn không hề có giả hành, cũng không có thời kỳ ngủ
nghỉ rõ rệt. Lan đơn thân sinh trưởng rất chậm chạp, thân chính của nó trong
môi trường thuận lợi hàng năm lại mọc ra các lá mới, chúng mọc theo hướng
cao hơn theo phương thẳng đứng còn cành hoa thì mọc ở rìa thân hoặc nảy ra
từ nách lá, lá mọc xếp thành hai hàng, xen kẽ nhau. Theo sự sinh trưởng của
cây, các lá già ở dưới gốc dần dần già héo và rụng đi, đến khi có chồi nách
mọc ra nhưng thường không mọc dài ra được. Vì cây lan rất khó ra chồi
nhánh nên không dùng phương pháp tách cây để nhân giống. Thân của lan Hồ
Điệp, ngoài tác dụng giữ cho cây thẳng đứng, còn có chức năng tích trữ chất
dinh dưỡng và nước cho cây [15],[2].
Lá: Lá của lan Hồ Điệp to dầy, đầy đặn, lá mọc đối xứng, ôm lấy thân
cây. Số lá trên thân cây thường không nhiều, thông thường 1 cây lan trưởng
thành có từ 4 lá trở lên. Trong nách lá có 2 chồi phụ, chồi phụ trên to hơn là
chồi hoa sơ cấp, bên dưới là chồi dinh dưỡng sơ cấp. Các chồi sơ cấp này sinh
trưởng đến một mức độ nào đó thì bắt đầu đi vào giai đoạn ngủ nghỉ. Màu sắc

hoặc trong điều kiện tốt cho chồi hoa phân hoá có thể mọc ra 2 hoặc 3 cành
hoa. Nói chung, lan Hồ Điệp đơn cây nếu phân hoá số cành hoa cành nhiều
hoặc cành nhánh càng nhiều do bị hạn chế về dinh dưỡng nên hoa nở ra
thường nhỏ. Để trồng được lan có bông hoa to đẹp, cần phải khống chế số
bông trên một cành hoặc cắt bớt đi một số cành nhánh [15].


8

Để đánh giá và thưởng thức hoa, người ta thường dùng 2 khái niệm
"hoa đều đặn" hoặc "cực kỳ đều đặn" để hình dung. Hoa đều đặn là chỉ hoa có
cánh hoa đều to rộng, giữa các cánh hoa không có khe hở rất nhỏ, cánh môi
trải xuống tạo dáng hình elíp, tất cả bông hoa tạo nên dáng hình tròn, còn loại
"cực kỳ đều đặn" là chỉ hoa có dáng rất tròn, các bên và cánh hoa chồng khít
lên nhau, không có khe hở.Nếu giữa các cánh hoa có các khe hở hoặc khe hở
khá lớn thì là "hoa không đều đặn" [15].
Quả và hạt: Hoa lan Hồ Điệp chỉ tạo quả qua thụ phấn nhân tạo hoặc
thụ phấn nhờ côn trùng. Vỏ quả có hình que, phát triển chậm thường qua 4
tháng mới chín và tách vỏ. Số lượng hạt trong một quả khác nhau do sự khác
nhau về cây bố, mẹ đem thụ phấn. Những hạt của chúng thường rất nhỏ, có
dạng bột, không có phôi nhũ, trong điều kiện tự nhiên rất khó tự nảy mầm
thành cây con, thường phải gieo hạt trong môi trường vô trùng thích hợp mới
có thể thu được cây con với số lượng lớn. Khi gieo hạt trong điều kiện vô
trùng, thường để thể tiền chồi (protcorm) nảy mầm thành cây [15].
2.1.4. Điều kiện trồng lan Hồ Điệp Phalaenopsis sp.
2.1.4.1. Giá thể
Giá thể của lan Hồ Điệp phải khá tơi xốp và thoáng khí, đồng thời phải
có khả năng giữ nước như gỗ mùn, than bùn khô, hạt đá nhỏ, rêu... Dưới rễ
của cây non lót một lớp rêu hoặc trồng cây lan non trực tiếp vào rêu. Với
những giá thể trồng khác nhau cũng phải có cách trồng và chăm sóc khác

chồng lên nhau, mùa đông xuân thì ánh sáng yếu hơn, chỉ cần che 40-50%
ánh sáng là đủ [15].
2.1.4.4. Nước tưới
Các mùa khác nhau, lượng nước tưới cũng khác nhau. Các giá thể trồng
khác nhau thì lượng nước tưới cũng khác nhau. Do lá của lan Hồ Điệp khá
dày, lượng nước chứa trong lá khá nhiều nên lan Hồ Điệp chịu hạn tốt. Mùa
xuân độ ẩm không khí cao nên cách 3-7 ngày tưới nước một lần: mùa hè, thu,


10

nhiệt độ không khí cao, lượng nước bốc hơi mạnh, thông thường cách 1-2
ngày tưới đẫm nước một lần; còn mùa đông, nhiệt độ thấp, ẩm độ không khí
cũng thấp, để đảm bảo những điều kiện nhất định về ẩm độ đồng thời tránh
cho lá tích nước, nếu lá tích nước sẽ làm cho lá bị lạnh hại. Vì thế thông
thường vào lúc sau 10 giờ sáng và trước 15 giờ chiều thì tưới nước. Nếu điều
kiện cho phép sau khi tưới nước nên để cho cây được thoáng khí thông gió, để
cho nước đọng trên mặt lá bị bay hơi hết sẽ giảm sự phát sinh của bệnh hại[2].
2.1.4.5. Phân bón
Dinh dưỡng đối với lan hết sức quan trọng, tuy không đòi hỏi số lượng
lớn nhưng phải đầy đủ các thành phần dinh dưỡng và tùy thuộc vào từng thời
kỳ sinh trưởng của cây lan mà nhu cầu đối với thành phần dinh dưỡng có khác
nhau [10].
2.2. Nuôi cấy mô tế bào thực vật
2.2.1. Khái niệm
Nuôi cấy mô tế bào thực vật hay còn gọi là nuôi cấy in vitro là công cụ
cần thiết trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu cơ bản và ứng dụng của ngành công
nghệ sinh học. Nhờ áp dụng kĩ thuật nuôi cấy mô, con người đã thúc đẩy thực
vật sinh sản nhanh hơn gấp nhiều lần so với tự nhiên. Do đó tạo ra hàng loạt
cá thể mới giữ nguyên tính trạng di truyền của cơ thể mẹ, làm rút ngắn thời

Phân hóa tế bào là sự chuyển hóa các tế bào phôi sinh hình thành các tế
bào của mô chuyên hóa, đảm nhận các chức năng khác nhau trong cơ thể. Quá
trình phân hóa diễn ra như sau: Tế bào phôi sinh, tế bào dẫn, tế bào phân hóa
chức năng [16].
Khi tế bào phân hóa thành mô chức năng, chúng không hoàn toàn mất
khả năng phân chia của mình. Trong trường hợp cần thiết, ở điều kiện thích
hợp chúng lại có thể trở lại giống như tế bào phôi sinh và tiếp tục quá trinh
phân hóa, quá trình này gọi là sự phản phân hóa của tế bào [16].


12

Về bản chất thì sự phân hóa và phản phân hóa là một quá trình phân
hóa gen. Tại một thời điểm nào đó trong quá trình phát triển cá thể, có một số
gen được hoạt hóa để cho ra tính trạng mới, một số gen mới lại ước chế hoạt
động. Quá trình này xảy ra theo một chu trình đã được mã hóa trong cấu trúc
của phân tử ADN của mỗi tế bào. Khi tế bào nằm trong cơ thể thực vật, chúng
bị ức chế bởi các tế bào xung quanh. Khi tách tế bào riêng rẽ, gặp điều kiện
bất đợi thì các gen được hoạt hóa,quá trình phân chia sảy ra theo một chương
trình đã được định sẵn trong ADN của tế bào [16].
2.2.3. Sự phát triển của mẫu điều khiển bởi yếu tố môi trường
Trong nuôi cấy mô thực vật in vitro, môi trường nuôi cấy phải cung cấp
tất cả các ion khoáng cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển. Các yếu tố vật
lí như nhiệt độ, pH, môi trường khí, ánh sáng, áp suất thẩm thấu cũng phải
được giữ trong giới hạn cho phép [16].
- Trong nuôi cấy mô có rất nhiều môi trường nuôi cấy tuy nhiên chia
làm 3 loại:
Môi trường giàu dinh dưỡng.
Môi trường trung bình.
Môi trường nghèo dinh dưỡng.

thức dị dưỡng mặc dù chúng có thể sống bán dị dưỡng trong điều kiện ánh
sánh nhân tạo và lục lạp vẫn có khả năng quang hợp. Vì vậy, việc bổ sung vào
môi trường nuôi cấy nguồn cacbon hữu cơ là điều kiện bắt buộc. Nguồn
cacbon thông dụng nhất hiện nay là saccharose, ngoài ra có thể sử dụng
glucose, maltose [8].
Ngoài ra khi khử trùng môi trường, cần chú ý không nên kéo dài thời
gian để tránh xảy ra hiên tượng caramen hóa, làm cho môi trường chuyển
sang màu vàng dẫn đến ức chế sinh trưởng và phát triển của tế bào [1].


14

- Các hợp chất bổ sung
+ ND (CW-coconut water) thêm vào môi trường với lượng thích hợp sẽ
kích thích sự phát triển của chồi bên cũng như sự hình thành cây con. Từ việc
sử dụng ND, nhiều mô thực vật được nghiền tách dịch chiết và bổ sung vào
môi trường nuôi cấy có tác dụng kích thích sự phát triển phôi như nội nhũ
bắp, chà là, chuối, mầm đậu, mầm lúa mì, nước chiết cà chua … nhưng thông
thường các dịch chiết chỉ có tác dụng trên các loài cây trồng không cùng
nguồn gốc. Chứa nhiều chất dinh dưỡng như inositol, các amino acid, đường,
các chất thuộc nhóm cytokinin, các chất có hoạt tính auxin… Nước dừa đã
được xác định là rất giàu các hợp chất hữu cơ, chất khoáng và chất kích sinh
trưởng [17].
+ Than hoạt tính : Phải có những thực nghiệm xác định nồng độ than
hoạt tính thích hợp cho quá trình nuôi cấy. Than hoạt tính thêm vào môi
trường kích thích sự phát triển phôi của cây bắp và đu đủ.
+ Độ pH của môi trường nuôi cấy thường ở khoảng 6, thấp hơn 4,5
hoặc cao hơn 7 đều ức chế sự phát triển của mô [16].
+ Tác nhân tạo gel: Môi trường nuôi cấy thực vật có thể ở dạng đặc hay
lỏng. Trường hợp môi trường đặc cần sử dụng các chất tạo gel. Agar được sản

phân chia tế bào và hình thành callus [8].
+ Nhóm Cytokinin: Được phát hiện từ những năm 50 của thế kỷ XX,
chất đầu tiên là Kinetin bắt nguồn từ tinh dịch cá trích. Tiếp đó, đến zeatin
tách từ nội nhũ của hạt ngô non. Đã phát hiện cytokinin ở vi sinh vật, tảo, tảo
silic, rêu, dương xỉ, cây lá kim. Zeatin có nhiều trong thực vật bậc cao và
trong một số vi khuẩn. Trong thực vật, cytokinin có nhiều trong hạt, quả đang
lớn, mô phân sinh. Cytokinin kích thích hoặc ức chế nhiều quá trình sinh lý,
trao đổi chất. Cùng với auxin, cytokinin điều khiển sự phát sinh hình thái
trong nuôi cấy mô. Tỷ lệ auxin/cytokinin cao sẽ kích thích tạo rễ, ngược lại sẽ


16

hình thành chồi. Cytokinin cảm ứng sự hình thành chồi bên và ức chế ưu thế
đỉnh. Quá trình sinh trưởng dãn dài của tế bào cũng chịu ảnh hưởng của
cytokinin. Ngoài ra, cytokinin còn làm chậm sự già hóa [6].
Trong các chất thuộc nhóm cytokinin thì Kinetin và BAP được sử
dụng phổ biến vì hoạt tính mạnh: Kinetin (phối hợp cùng auxin với tỷ lệ thích
hợp có khả năng kích thích phân chia tế bào), BAP (hoạt tính mạnh, bền với
nhiệt), ngoài ra có thể sử dụng TDZ, Diphenylurea…[8].
+ Gibberellin được phát hiện đầu tiên bởi nhà nghiên cứu người Nhật
Kurosawa (1920) khi nghiên cứu bệnh ở mạ lúa do nấm Gibberella Fujikuroi
gây ra. Năm 1939 đã tách chiết được gibberellin từ nấm Gibberella Fujikuroi
và được gọi là Gibberellin A. Gibberellin có tác dụng kéo dài tế bào, nhất là
thân và lá vì vậy khi xử lý với các cây đột biến lùn và các cây này có thể khôi
phục lại bình thường. Về sau, các nghiên cứu khám phá ra là trong cơ thể thực
vật cũng có các chất giống như Gibberellin cả về cấu trúc và tác dụng. Những
chất này đặt đặt tên theo thứ tự là A1,A2,A3,A4... Do Gibberellin tồn tại
trong thực vật, nó tham gia vào các quá trình sinh trưởng và phát triển trong
sự tương tác với các chất điều hòa sinh trưởng khác [1].

Tuy vậy, lan Hồ Điệp cũng như các cây trong họ hoa lan thường khó
chuyển gen hơn các loại cây trồng khác do có đặc điểm: Phát triển rất chậm,
khó thao tác trong nuôi cấy mô, chưa có quy trình tái sinh từ các dòng tế bào
đã biệt hóa, ít nhạy cảm với các loại kháng sinh chọn lọc, tiết ra môi trường
một lượng lớn các hợp chất phenol gây độc cho tế bào, cấu trúc đa tế bào của
vùng mô phân sinh làm cây chuyển dễ bị khảm.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status