Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THANH DUY
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA MÔI TRƢỜNG NƢỚC,
PHÂN BÓN ĐẾN SỰ TÍCH LŨY Pb,As VÀ TỒN DƢ NO
3
–
TRONG
RAU CẢI XANH TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN Chuyên ngành: Khoa học môi trƣờng
Mã số: 60 44 03 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƢỜNG Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Thế Đặng
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự dạy
bảo tận tình của các thầy cô, sự giúp đỡ của các bạn đồng nghiệp, sự động viên to lớn
của gia đình và những người thân.
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Tài
nguyên và Môi trường, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nguyên cứu ảnh hưởng
của môi trường nước, phân bón đến sự tích lũy Pb, As và tồn dư NO
3
-
trong rau cải
xanh tại thành phố Thái Nguyên”.
Với lòng biết ơn vô hạn, tôi xin chân thành cảm ơn GS. TS. Nguyễn Thế Đặng
tận tình chỉ bảo, các thầy cô giáo khoa Tài nguyên và Môi trường đã truyền cho tôi
những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường, giúp tôi
hoàn thiện năng lực công tác, nhằm đáp ứng yêu cầu của người cán bộ khoa học sau khi
ra trường.
Do thời gian có hạn, năng lực còn hạn chế nên bản luận văn không thể
tránh khỏi những thiết sót, Tôi rất mong nhận được những kiến thức đóng
góp của các thầy, cô giáo cùng toàn thể các bạn để khóa luận này được hoàn
thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
1.5. Ảnh hưởng do sử dụng phân bón, chất kích thích sinh trưởng, và thuốc bảo vệ
thực vật đến chất lượng nông sản 17
1.6. Một số biện pháp xử lý ô nhiễm kim loại nặng trong môi trường 20
1.7. Dinh dưỡng đạm cho rau và vấn đề tồn dư nitrat 23
1.7.1. Vai trò của N đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây rau 23
1.7.2. Quá trình chuyển hoá đạm trong cây 24
1.7.3. Độc tính của Nitrat 24
1.7.4. Những yếu tố gây tồn dư NO
3
-
trong rau xanh 25
1.7.5. Biện pháp hạn chế tồn dư nitrat trong rau 33
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 35
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 35
iv
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 35
2.2. Nội dung nghiên cứu 35
2.3. Vật liệu nghiên cứu 35
2.4. Phương pháp nghiên cứu 36
2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 36
2.4.2. Phương pháp điều tra khảo, sát thực địa 36
2.4.3. Phương pháp lấy mẫu trong điều tra 36
2.4.4.Phương pháp bố trí thí nghiệm 37
2.4.5. Phương pháp theo dõi, và lấy mẫu phân tích 38
2.4.6. Phương pháp xử lý mẫu 38
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
3.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và tình hình sản xuất rau xanh của
thành phố Thái Nguyên 40
3
-
trong rau cải canh 66
v
3.6.3. Sự biến động NO
3
-
và đạm tổng số trong đất trồng cải canh 67
3.7. Đề xuất một số biện pháp hạn chế sự tồn dư NO
3
-
và tích lũy KLN (Pb, As)
trong rau tại thành phố Thái Nguyên 68
3.7.1. Biện pháp hạn chế tồn dư NO3- trong rau 69
3.7.2. Biện pháp hạn chế hàm lượng kim loại nặng trong rau 69
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
1. Kết luận 71
2. Kiến nghị 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
vi
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
BTNMT : Bộ tài nguyên môi trường
BVMT : Bảo vệ môi trường
BVTV : Bảo vệ thực vật
ĐHTN : Đại học Thái Nguyên
FAO : Tổ chức Nông lương
GDP : Tổng sản phẩm nội địa
Bảng 3.9: Hàm lượng kim loại nặng trong nước tưới tại Túc Duyên 58
Bảng 3.10: Hàm lượng kim loại nặng trong nước tưới tại Đồng Bẩm 59
Bảng 3.11. Hàm lượng NO
3
-
trong sản phẩm rau sản xuất tại thành phố Thái Nguyên 60
Bảng 3.12. Hàm lượng Pb trong sản phẩm rau sản xuất tại thành phố Thái
Nguyên 60
Bảng 3.13: Hàm lượng As trong sản phẩm rau sản xuất tại thành phố Thái
Nguyên 61
3.14: Bảng bố chí thí nghiệm 62
Bảng 3.15. Các mức đạm bón ảnh hưởng đến chiều cao cây cải canh
(cm/cây) 63
Bảng 3.16. Ảnh hưởng của các mức đạm bón đến động thái ra lá của cây
cải canh (lá/cây) 64
viii
Bảng 3.17. Ảnh hưởng của các mức bón đạm đến các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất cây cải canh 65
Bảng 3.18. Ảnh hưởng của các mức đạm bón đến sự tồn dư NO
3
-
qua các
thời kì sinh trưởng của cây cải canh 66
Bảng 3.19. Ảnh hưởng của các mức bón đạm biến động thái biến động NO
3
-
và đạm tổng số trong đất 67
an toàn của thực phẩm, và việc sử dụng các thuốc bảo vệ thực vật đã làm giảm chất
lượng các sản phẩm nông nghiệp, ngoài ra các sản phẩm nông nghiệp còn bị ảnh
hưởng bới các nguồn chất thái của các nhà máy xí nghiệp, khu công nghiệp và nước
thải đô thị, đặc biệt là ở các thành phố lớn.
Thái Nguyên là thành phố lớn thứ ba ở miền Bắc, sau Hà Nội và Hải Phòng,
thành phố có dân số đông thứ 10 cả nước, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa,
giáo dục, khoa học kỹ thuật, y tế, du lịch, dịch vụ, của tỉnh Thái Nguyên và vùng
trung du và miền núi phía Bắc. Mật độ dân số đông và đang tăng lên, kéo theo sự
tăng lên nhu cầu sử dụng các sản phẩm nông nghiệp nói chung rau xanh nói riêng.
Hiện nay, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu lớn
trên các lĩnh vực, trong đó sản xuất rau có bước tăng trưởng không ngừng cả về
diện tích, chủng loại và sản lượng cung cấp trên thị trường. Riêng năm 2010, toàn
tỉnh đã trồng được 8.925 ha rau các loại, tăng gần 1.900 ha so với năm 2005. Các
loại rau được đưa vào trồng chủ yếu là su hào, cải các loại, bí xanh, súp lơ, rau
thơm, rau muống, dưa chuột, cà chua…. Năng suất rau đạt 156,3 tạ/ha/năm, sản
lượng đạt gần 140 nghìn tấn, tăng hơn 50 nghìn tấn so với 5 năm trước. Với sản
lượng ngày càng tăng như hiện nay, thu nhập từ rau đã góp phần nâng cao đời sống
cho nhiều hộ nông dân. Sở Nông nghiệp và PTNT đã xây dựng Đề án Phát triển rau
an toàn (RAT) giai đoạn 2008 - 2015 và TP. Thái Nguyên, địa bàn tiêu thụ rau xanh
chủ yếu của tỉnh đã xây dựng đề án về phát triển sản xuất và tiêu thụ RAT. Theo đó,
2
thành phố hỗ trợ người trồng rau 40% chi phí ban đầu để trồng RAT. Bên cạnh đó,
khu vực vệ tinh thuộc các huyện: Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên cũng hình thành
những nơi trồng và cung cấp RAT cho TP. Thái Nguyên. Tuy nhiên để tăng năng
suất cây trồng, người dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hoá học, chất
kích thích sinh trưởng ngày càng nhiều, gây ô nhiễm vùng canh tác làm cho rau bị
nhiễm bẩn, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người dùng.
Thái Nguyên còn là nơi tập trung nhiều nhà máy xí nghiệp lớn, như Nhà máy
gang thép Thái Nguyên, Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, Nhà máy nhiệt điện Cao
trong phần thương phẩm của rau cải xanh ( Brassica juncea).
- Đề xuất một số biện pháp hạn chế tồn dư và sự tích lũy Pb, As và NO
3
-
trong
rau cải xanh ( Brassica juncea) ở thành phố Thái Nguyên.
3. Yêu cầu của đề tài
- Khái quát chung về điều kiện tự nhiên - xã hội của Thành phố Thái Nguyên.
- Hiện trạng sản xuất rau tại thành phố Thái Nguyên.
- Hiện trạng hàm lượng Pb và As trong đất trồng rau, nguồn nước tưới và phân
bón cho rau tại thành phố Thái Nguyên.
- Tình hình tồn dư NO
3
-
và tích lũy KLN (Pb, As) trong một số loại rau tại
thành phố Thái Nguyên.
- Ảnh hưởng của hàm lượng KLN (Pb, As) trong nước tưới đến năng suất rau
cải canh.
- Ảnh hưởng của các mức bón phân đạm đến năng suất và sự biến động NO
3
-
trong cây cải canh.
- Đề xuất một số biện pháp hạn chế sự tồn dư NO
3
-
và tích lũy KLN (Pb, As)
trong rau tại thành phố Thái Nguyên.
4. Những đóng góp mới của đề tài
4.1. Ý nghĩa khoa học
có nhiều dưỡng chất thiết yếu cho hoạt động bình thường của cơ thể. Ăn nhiều rau
quả sẽ giúp hạn chế tới mức thấp nhất nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Ngoài ra chúng
còn bảo vệ khỏi các căn bệnh ung thư, đường ruột, chống lại bệnh đục thuỷ tinh
thế, và suy giảm thị lực. Cây Rau là một trong những loại cây trồng mang lại giá trị
kinh tế cao cho người dân ở nhiều vùng trên cả nước, một số loại Rau có giá trị cao
như Dưa hấu, cà chua…là loại cây trồng làm giàu cho người dân ở nhiều nơi với
thời gian sinh trưởng ngắn, hiệu quả kinh tế cao. Vì vậy rau được coi là loại cây
trồng chủ lực trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở nhiều quốc gia
1.1.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới
Hiện này, cùng với sự gia tăng dân số, nhu câu cung cấp lương thực thực
phẩm cho loài người cũng ngày càng gia tăng mạnh mẽ. Tuy nhiên cùng với việc
phát triển kinh tế cũng đã kéo théo hàng loạt những vấn đề môi trường. Do sự phát
triển mạnh mẽ của đô thị và công nghiệp cũng như sự gia tăng lượng phân hóa học
và thuốc trừ sâu trong sản xuất nông nghiệp đã gây ô nhiễm môi trường và ảnh
hưởng đến sức khỏe con người. Trong những năm gần đây các tổ chức quốc tế như
tổ chức Nông lương (FAO [10]), tổ chức Y tế thế giới (WHO) và các tổ chức khác
về vấn đề môi trường đã đưa ra các khuyến cáo, hạn chế việc sử dụng hóa chất nhân
tạo vào nông nghiệp, xây dựng các quy trình sản xuất theo công nghệ sạch, công
nghệ sinh học, công nghệ sử dụng nguồn năng lượng tái tạo (Nguyễn Xuân Thành,
1997 [35]). Tổ chức Y tế thế giới đã ước tính rằng mỗi năm có 3% nhân lực lao
động nông nghiệp ở các nước đang phát triển bị nhiễm độc thuốc bảo vệ thực vật.
Trong thập kỷ 90 của thể kỷ XX ở Châu phi hàng năm có khoảng 11 triệu trường
hợp bị ngộ độc. Ở Malaixia 7% nông dân bị ngộ độc hàng năm, 15% người bị ngộ
độc thuốc bảo vệ thực vật ít nhất một lần trong đời. Chính vì vậy, từ quy trình công
6
nghệ sản xuất rau truyền thống, các nước này đã cải tiến ứng dụng công nghệ sản
xuất rau an toàn ngày càng phổ biến rộng rãi trên thế giới.
Ở các nước phát triển công nghệ sản xuất rau được hoàn thiện ở trình độ cao.
Sản xuất rau an toàn trong nhà kính, nhà lưới, trong dung dịch đã trở nên quen
khẩu bởi các nước phát triển. Hai khu vực EU và Hoa Kỳ chiếm 70% tổng nhập
khẩu quả nhiệt đới toàn cầu. EU vẫn là khu vực nhập khẩu quả nhiệt đới lớn nhất
thế giới với Pháp là thị trường tiêu thụ chính và Hà Lan là thị trường trung
chuyển lớn nhất châu Âu.
Ngoài Hoa Kỳ và EU, Nhật Bản, Canada và Hồng Kông cũng là những thị
trường nhập khẩu quả nhiệt đới lớn. Đối với các loại quả có múi, tốc độ tăng sản
lượng sẽ không cao do khâu chế biến không thuận lợi. Sao Paolo của Brazil và
Florida của Mỹ là những khu vực cung cấp quả có múi lớn nhất thế giới.
1.1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau ở Việt Nam
Ở Việt Nam rau xanh được sản xuất và tiêu dùng rất phổ biến và ngày càng
gia tăng. Ở xung quanh hầu hết các thành phố lớn đều hình thành các vùng chuyên
canh rau để cung cấp cho dân cư đô thị, ước tính có khoảng 113.000 ha tương ưng
khoảng 40% diện tích và 48% sản lượng rau toàn quốc
Việt nam có lịch sử trồng rau từ lâu đời, với điều kiện khí hậu rất thích hợp
cho sinh trưởng, phát triển và tạo hạt của các loại rau, kể cả rau có nguồn gốc á
nhiệt đới và ôn đới. Tuy nhiên tình hình sản xuất rau ở Việt Nam phụ thuộc rất
nhiều vào thời tiết, mùa vụ và các vùng khác nhau. Năng suất rau cũng rất biến
động theo các vùng địa lý, ví dụ như ở Đà Lạt – Lâm Đồng năng suất đạt
20.500kg/ha, trong khi đó, ở Quảng Trị năng suất chỉ là 4.500kg/ha vào năm 1993.
Diện tích trồng rau tập trung ở 2 vùng chính là vùng đồng bằng Sông Hồng và vùng
đồng bằng Nam Bộ. Trong các loại rau thì rau muống được trồng phổ biến nhất trên
cả nước, tiếp đến là bắp cải được trồng nhiều ở miền Bắc. Đối với nông dân, rau là
loại cây trồng cho thu nhập quan trọng cho nông hộ (Hồ Thanh Sơn và cs, 2005
[30])
Một vấn đề quan trọng trong sản xuất và tiêu thụ rau xanh ở nước ta hiện nay
là không chỉ nhằm đáp ứng về số lượng ngày càng tăng mà cần phải đảm bảo về
chất lượng rau cung cấp trên thị trường. Nhưng sản xuất rau của Việt Nam chủ yếu
vẫn theo quy mô hộ gia đình khiến cho sản lượng hàng hóa không nhiều. Bên cạnh
8
bằng cách đầu tư chuyển giao kỹ thuật cho nông dân. Nhược điểm cơ bản là không
trồng được rau trái vụ, hay bị tác động bất lợi của thời tiết, nhưng có ưu điểm là
9
nhiều nông dân có thể tham gia áp dụng, diện tích và sản lượng thu hoạch lớn nên
đáp ứng được nhu cầu của đông đảo người tiêu dùng, khai thác được các ưu thế của
thời tiết nhiệt đới, giá thành thấp, tác động tích cực nhanh đến nông nghiệp, môi
trường và cộng đồng xã hội, dễ mở rộng quy mô sản xuất. Đây được gọi là mô hình
“sản xuất rau sach cộng đồng” đã được nghiên cứu ứng dụng và khởi xướng từ tỉnh
Vĩnh Phúc thời kỳ 2000 – 2003, từ đó lan ra khá nhiều địa phương như Hà Nội,
Thái Nguyên, Hải Dương, Bắc Ninh, Bình Định, Khánh Hoà, Đà Lạt… Mô hình
này hiện nay tỏ ra thích hợp, có hiệu quả.
Tuy nhiên hiệu quả và năng suất rau an toàn còn thấp so với các loại rau cũng
loại không được sản xuất an toàn, Có rất nhiều nguyên nhân khiến cả người tiêu
dùng và các cơ quan quản lý nhà nước nghi ngờ độ an toàn của rau, trong đó có 2
nguyên nhân chính:
+ Nguyên nhân thứ nhất là người nông dân sản xuất nhỏ lẻ, chưa áp dụng đầy
đủ qui trình kỹ thuật trồng rau quả an toàn. Hiện tại ngay cả trên 40% vùng sản xuất
rau an toàn của cả nước lượng vi sinh vật, hoá chất độc hại, kim loại nặng và thuốc
bảo vệ thực vật tồn dư trong rau an toàn vẫn tồn tại, trong đó khoảng 4% vượt mức
cho phép.
+ Nguyên nhân thứ hai là qui hoạch vùng sản xuất rau an toàn chưa hoàn
thiện, ruộng rau an toàn vẫn bố trí xen kẽ với các thửa ruộng không theo qui trình.
Bất cập nhất hiện nay là ruộng sản xuất rau theo đúng qui trình kỹ thuật nhưng lại
nằm ngay trong vùng môi trường canh tác bị ô nhiễm. Hiện nay các vùng sản xuất
rau an toàn vẫn còn manh mún rất khó cho việc tổ chức sản xuất cũng như kiểm tra
và tiêu thụ sản phẩm. Ngay như Hà Nội là một địa phương có tốc độ qui hoạch
vùng rau an toàn nhanh hơn rất nhiều các địa phương khác nhưng diện tích rau an
toàn vẫn trong tình trạng phân bố rải rác, xen lẫn với vùng trồng lúa và trồng rau
truyền thống. Phần lớn diện tích rau an toàn của Hà nội được chuyển đổi từ đất
Rau an toàn phải đạt được các yếu tố sau:
- Chỉ tiêu về hình thái: Sản phẩm được thu hoạch đúng lúc, đúng với yêu cầu
từng loại rau, không dập nát, hư thối, không lẫn tập chất, sâu bệnh và có bao gói
thích hợp (tùy loại).
- Chỉ tiêu nội chất: Chỉ tiêu nội chất được quy định cho rau tươi bao gồm: Dư
lượng hóa chất bảo vệ thực vật: Hàm lượng Nitrat (,NO3
-
): Hàm lượng một số kim
11
loại nặng chủ yếu: Cd, Pb, Cu, Zn…: Mức độ nhiễm các vi sinh vật gây bệnh
(E.coli, Salmonella…), và ký sinh trùng đường ruột (Thí dụ: trứng giun đũa). Tất cả
các chỉ tiêu trong từng loại rau phải đạt dưới mức cho phép theo tiêu chuẩn của
FAO/WHO
1.3. Hiện trạng ô nhiễm kim loại nặng trong đất, nƣớc ở Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của (Trần Kông Tấu, Trần Kông Khánh, 1998 [33])
khảo sát trên phạm vi toàn quốc gồm 5 nhóm đất chính cho thấy: đất phù sa
thuộc đồng bằng Sông Hồng có hàm lượng Pb và Zn cao nhất và hầu hết các loại
đất có tỷ lệ hàm lượng các kim loại nặng dạng linh động so với dạng tổng số rất
cao.
Theo số liệu của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều vùng mỏ chì, kẽm, vàng và đa
kim có nồng độ As trong nước ngầm và trong đất rất cao (Đặng Văn Can, Đào Ngọc
Phong, 2000 [4]). Tại Quỳnh Lôi, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội có đến 68% giếng
khoan nước ngầm có hàm lượng As vượt quá tiêu chuẩn qui định của WHO (Trần
Đình Hoan, 1999 [18]), (Trần Quang Thương, 2000 [37],).
Phạm Quang Hà (2002 [11]) khi phân tích hàm lượng Cd trong các mẫu đất
trồng lúa màu, và các mẫu bùn của Huyện Văn Môn, Yên Phong, Bắc Ninh cho
thấy: lượng Cd phát hiện được trung bình là 1mg/kg đất, cá biệt có mẫu 3,1mg/kg
cao gấp 1,1 lần TTVN, còn lượng Cd trong các mẫu bùn rất cao gấp 5 lần TCVN.
Có thể nói rằng vấn đề ô nhiễm nói chung và ô nhiễm kim loại nặng đã và
Nguồn từ quá trình phong hoá đá: Nguồn này phụ thuộc nhiều vào đá mẹ
nhưng hàm lượng các kim loại nặng trong đá thường rất thấp, vì vậy nếu không có
các quá trình tích lũy do xói mòn, rửa trôi… thì đất tự nhiên ít có khả năng có hàm
lượng kim loại nặng cao. Nguồn gây ô nhiễm kim loại nặng trong đất chủ yếu là do
hoạt động nhân sinh.
Nguồn từ hoạt động nhân sinh: Ngoài nguồn từ quá trình phong hoá đá, có
nhiều nguồn từ các hoạt động nhân sinh đưa kim loại vào đất, bao gồm: Khai
khoáng và luyện kim, các hoạt động công nghiệp, lắng đọng từ khí quyển, (Nguyễn
Đình Mạnh, 2000 [22]), chất thải đưa vào đất…
Nước tưới và đất trồng có một mối quan hệ với nhau. Nếu sử dụng nước tuới
bị ô nhiễm tưới cho đất thì dẫn đến đất cũng bị ô nhiễm. Khi đất bị ô nhiễm As cao
cũng có thể do sử dụng nước tưới có hàm lượng As cao (Folkes, 2001 [62]).
Theo (Cheang Hong, 2003 [19]), khi nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón
nước tưới đến sự tích luỹ kim loại nặng trong đất đã kết luận: Nước tưới nhiễm kim
13
loại nặng nếu sử dụng tưới cho rau sẽ làm tích đọng kim loại nặng trong đất qua các
vụ. Hàm lượng Cd tích luỹ trong đất qua các vụ tỉ lệ thuận với nồng độ Cd trong
nước tưới.
Nguồn phát tán một số kim loại nặng vào đất:
* Chì (Pb): Ô nhiễm Pb ở nước ta ngày càng trở nên nghiêm trọng do nguồn
nguyên liệu xăng pha chì ngày càng được sử dụng nhiều để chạy động cơ. Hàm
lượng Pb tới 0,4g/lít nhiên liệu, khi cháy sẽ phát tán vào môi trường không khí rồi
lắng đọng xuống đất hoặc nước. Càng gần đường giao thông thì hàm lượng chì
trong đất càng cao, đại bộ phận Pb nằm trong đất cách mặt đường dưới 50 cm và
chủ yếu nằm ở tầng đất mặt.
*Arsen (As): sử dụng thuốc trừ sâu hay diệt cỏ dại là nguồn cung cấp As cho
đất (Folkes, 2001 [62]), ngoài ra khi bón vôi cho đất cũng làm tăng khả năng linh
động của As do chuyển từ Fe,Al - Arcsenat sang dạng Ca- Arcsenat linh động hơn
(Vũ Hữu Yêm, 2005 [46]).
+ Ảnh hưởng của tính axít tới khả năng hoà tan của kim loại nặng trong đất.
Một trong các nhân tố quan trọng nhất để kiểm soát khả năng hoà tan của kim
loại nặng là tính axít, với pH lớn hơn 5,5 thì nồng độ của iôn Pb
2+
tự do nhỏ, mức độ
linh động của Cd và Zn tăng lên khi tăng mức độ axit của môi trường, bắt đầu từ
ngưỡng pH = 4 - 4,5 thì cứ giảm đi 0,2 đơn vị pH thì nồng độ Cd tăng lên 3 - 5 lần.
Nhìn chung khi pH > 6,5 thì hầu như các kim loại nặng ít linh động hơn (Danielle
Oliver và cs, 2003 [56]).
* Về khả năng liên kết và vận chuyển các kim loại trong đất: axít fulvic đóng
vai trò rất quan trọng trong quá trình này. Do khả năng liên kết tạo phức bao bọc
xung quanh ion kim loại và phức này còn có thể hoà tan trong cả môi trường axít và
kiềm (Danielle Oliver và cs, 2003 [56]). Bên cạnh đó, axít humic cũng có khả năng
liên kết với các ion kim loại, nhưng do khối lượng phân tử lớn, nên phức của nó với
ion kim loại kém linh động hơn và dễ bị giữ trong các khe đất, ít bị rửa trôi theo độ
sâu phẫu diện. Đất ở điều kiện nhiệt đới hàm lượng axít fulvíc chiếm ưu thế nên khả
năng chuyển hóa và độ linh động của các kim loại trong đất thường cao hơn so với
đất vùng ôn đới. Do khả năng làm chuyển hoá và linh động của chất hữu cơ đối với
kim loại nặng nên các nguồn chất hữu cơ đưa vào đất như bùn thải cần phải được
kiểm soát một cách chặt chẽ.
* Khả năng rửa trôi và di chuyển: khả năng rửa trôi theo độ sâu phẫu diện là
rất ít, nhưng do quá trình xói mòn rửa trôi trên bề mặt đã làm cho kim loại nặng sau
khi tích luỹ chủ yếu ở trên tầng đất mặt sẽ bị rửa trôi và tích luỹ trong trầm tích và
làm tăng nồng độ ở sông, hồ làm ô nhiễm môi trường nước. Ngoài ra sự rửa trôi và
chuyển hoá kim loại trong đất do mưa axít và axít hoá đất cũng là một yếu tố rất
quan trọng. Mưa axít thường tập trung ở các vùng công nghiệp và đô thị phát triển
hay các vùng chịu ảnh hưởng của quá trình này, trong nó thường chứa thêm một số
15
kim loại nặng như Pb, Hg, Cd, Cu, Zn Khi nước mưa rơi xuống đất làm axít hoá