Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng nhân nhanh chồi Lan Hồ điệp (Phalaenopsis sp.) in vtro. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐINH TRUNG DŨNG Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ
ĐẾN KHẢ NĂNG NHÂN NHANH CHỒI LAN HỒ ĐIỆP
(Phalaenopsis sp.) IN VTRO KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Công nghệ Sinh học
Khoa : Công nghệ Sinh học - Công nghệ Thực phẩm
Khóa học : 2010 - 2014
Thái Nguyên, năm 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH TRUNG DŨNG

Công nghệ Tế bào đã giúp đỡ cung cấp cho em những nguồn tư liệu hết sức
quý báu.
Cuối cùng em xin được gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn đã luôn
động viên và giúp đỡ tạo điều kiện cho em về cả vật chất lẫn tinh thần trong
thời gian qua.
Trong quá trinh hoàn thành khóa luận em đã có nhiều cố gắng. Tuy
nhiên, khóa luận này không thể tránh khỏi những thiếu sót vì vậy em kính
mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý từ phía quý thầy cô.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 6 tháng 6 năm 2014
Sinh viên
Đinh Trung Dũng DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1. Ảnh hưởng của cà rốt đến khả năng nhân nhanh của lan Hồ Điệp 24
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của nước dừa đến khả năng nhân nhanh lan Hồ điệp 25
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của khoai tây đến khả năng nhân nhanh lan Hồ Điệp 27
Bảng 4.4. Ảnh hưởng của VTM B1 đến khả năng nhân nhanh lan Hồ điệp 29
Bảng 4.5. Ảnh hưởng của VTM B5 đến khả năng nhân nhanh của lan Hồ Điệp . 30
Bảng 4.6. Ảnh hưởng của VTM B6 đến khả năng nhân nhanh lan Hồ Điệp 32
DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang
Hình 2.1. Sơ đồ quá trình phân hóa tế bào 11
Hình 2.2. Sơ đồ quá trình phản phân hóa tế bào 11

Trang
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích của đề tài 2
1.3. Yêu cầu của đề tài 2
1.4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. Giới thiệu chung về cây lan Hồ Điệp 3
2.1.1. Nguồn gốc và phân loại
3
2.1.2. Đặc điểm thực vật họ lan Hồ Điệp
3
2.1.3. Phân bố và sinh thái
5
2.1.4. Các phương pháp nhân giống Lan Hồ Điệp
7
2.2. Phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật 8
2.2.1. Sơ lược lịch sử nuôi cấy mô tế bào thực vật
8
2.2.2.
Cơ sở khoa học của phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật
10
2.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến nuôi cấy mô tế bào thực vật
12
2.3. Tình hình nghiên cứu lan Hồ Điệp trên thế giới và Việt Nam 18
2.3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
18
2.3.2. Tình hình nghiên cứu lan Hồ Điệp ở Việt Nam
19
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề
Trong thế giới các loài hoa, hoa lan là một trong những loài hoa đẹp
nhất. Hoa lan được coi là loài hoa tinh khiết, hoa vương giả cao sang, vua của
các loài hoa [13]. Hoa lan không chỉ là một loài hoa có vẻ đẹp rực rỡ về màu
sắc, mà còn đẹp về cả hình dáng, đường nét của cánh hoa tao nhã, đến những
hình dạng thân, lá cành duyên dáng, ít có hoa nào sánh nổi. Hơn nữa, hoa lan
là một loài hoa đẹp có giá trị kinh tế văn hóa cao và được rất nhiều người ưa
chuộng. Chính vì thế, hoa lan không chỉ chiếm ưu thế trong đời sống tinh thần
của con người mà chúng còn trở thành một mặt hàng mang lại nguồn thu lớn.
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế, xã hội, nhu cầu sử dụng hoa
nói chung và hoa lan nói riêng ở Việt Nam cũng tăng nhanh. Hoa không chỉ
dùng trong những dịp lễ tết mà nhu cầu về hoa trong cuộc sống thường ngày
của người dân cũng rất lớn. Bên cạnh yêu cầu về số lượng thì chất lượng hoa
cũng đòi hỏi ngày càng cao. Hoa lan trên thị trường Việt Nam hiện nay chủ
yếu là được nhập về từ Đài Loan, Thái Lan, Trung Quốc… Điều đó cho thấy,
sản xuất hoa lan ở Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Cụ
thể là: chủng loại chưa đa dạng, kỹ thuật trồng hoa còn yếu nên năng suất và
chất lượng chưa cao.
Lan Hồ Điệp (phalaenopsis sp) là một trong những loại lan được trồng
phổ biến trên thế giới. Hồ Điệp được mệnh danh là hoàng hậu của các loài

thiện quy trình sản xuất lan Hồ Điệp bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào
thực vật.
- Ý nghĩa thực tiễn:
Nâng cao hiệu quả nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào,
làm giảm chi phí giá thành, tăng năng suất, chất lượng và đáp ứng nhu cầu
cung cấp giống lan Hồ Điệp ra thị trường.
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Giới thiệu chung về cây lan Hồ Điệp
2.1.1. Nguồn gốc và phân loại
2.1.1.1. Nguồn gốc
Lan Hồ Điệp được khám phá năm 1750, đầu tiên được ông Rumphius
đặt tên là Angraecum album. Năm 1753 Linne đổi tên thành Epidendrum
amabile; và năm 1825 Blume một nhà thực vật Hà Lan định danh một lần nữa
là Phalaenopsis amabilis và tên đó được dùng cho đến ngày nay.Tên gọi này
bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp trong đó Phalaina có nghĩa là “con bướm” và
Opsis có nghĩa là “giống như”. Lan Hồ Điệp là loài lan có hoa giống bươm
bướm phất phơ rất đẹp [24].
Hồ Điệp các giống nguyên thủy được tìm thấy trong khu vực nhiệt đới
của châu Á và các quần đảo thuộc Thái Bình Dương; Ranh giới phân bố phía
tây ở Sli Lanka và Nam Ấn; Phía bắc là Vân Nam Trung Quốc, Đài Loan;
Phía nam là vùng Bắc Australia [24].
2.1.1.2. Phân loại khoa học.
Theo hệ thống thực vật học mới nhất về cây hoa Lan được phân loại
như sau [9]:

màu sắc của hoa. Mặt trên của lá không có khí khổng, chỉ có mặt dưới của lá
mới có khí khổng. Lan Hồ Điệp là loại thực vật CAM đây là lý do khiến cho
Lan Hồ Điệp không có giả hành nhưng lại có khả năng chịu hạn tốt [10].
- Hoa
Cành hoa của Lan Hồ Điệp mọc ra từ nách lá, thường mọc ra từ nách lá
thứ 3 hoặc thứ 4. Các cành có thể phân nhánh hoặc không phân nhánh tùy
theo giống. Để đánh giá và thưởng thức hoa người ta thường dùng hai khái
niệm “hoa đều đặn” hoặc “cực kỳ đều đặn” để hình dung hoa. Hoa đều đặn là
chỉ hoa có cánh hoa to rộng, giữa các cánh hoa không có khe hở hoặc khe hở
rất nhỏ, cánh môi trải xuống tạo dáng hình elip, tất cả bông hoa tạo nên dáng
hình tròn, còn cực kỳ đều đặn là chỉ hoa có dáng rất tròn, các bên và cánh hoa
đều chồng khít lên nhau, không có khe hở. Nếu giữa các cánh hoa có các khe
hở hoặc khe hở khá lớn thì xếp vào “ hoa không đều đặn” [10].
- Quả và hạt
Hoa Lan Hồ Điệp chỉ tạo quả qua thụ phấn nhân tạo hoặc thụ phấn nhờ
côn trùng. Vỏ quả có hình que, phát triển chậm, thường phải qua 4 tháng mới

5
chín và tách vỏ. Số lượng hạt trong một quả khác nhau do sự khác nhau về
cây bố, mẹ đem thụ phấn. Những hạt của chúng thường rất nhỏ, có dạng bột,
không có phôi nhũ, trong điều kiện tự nhiên rất khó tự nảy mầm thành cây
con, thường phải gieo hạt trong môi trường vô trùng thích hợp mới có thể thu
được cây con với số lượng lớn [9].
2.1.3. Phân bố và sinh thái
2.1.3.1. Phân bố
Qua lịch sử biến đổi, cho đến ngày nay người ta đã biết họ lan đã có một
số lượng lớn loài rất lớn khoảng 15.000 - 35.000 loài phân bố chủ yếu ở 68
0

vĩ bắc đến 56

o
C - 27
o
C. Giai đoạn ươm cây thì cần nhiệt độ ban đêm khoảng 23
0
C.

6
Giai đoạn phân hóa hoa đòi hỏi phải có sự cách biệt khá cao về độ chênh lệch
nhiệt độ ngày/đêm, nhiệt độ ban ngày thích hợp nhất là 25
0
C, ban đêm là
18
0
C - 20
0
C, kéo dài 3- 6 tuần rất có lợi cho sự phân hóa của hoa [10].
Lan Hồ Điệp không chịu được điều kiện quá nóng hay quá lạnh, lại
không cần nhiều ánh sánh cho nên thích hợp trồng trong nhà hay trong nhà
kính. Khi cây đang ra nụ, nhiệt độ hay độ ẩm thay đổi bất thường sẽ làm cho
nụ hoa héo rụng [10].
- Độ ẩm
Lan Hồ Điệp chịu ẩm cao, cần ẩm độ 50 - 80 % nhưng không chịu nhiều
nước. Giàn che lan cần phải thích hợp che được 70% nắng. Lan Hồ Điệp cần
nhiều ẩm hơn nước tưới.
- Ánh sáng
Lan Hồ Điệp cần ánh sáng yếu vì đây là loài ưa bóng mát, biên độ khá
rộng 5000 - 15000m/m
2
, ánh sáng chỉ cần 20% - 30% là đủ. Tuy nhiên

ngọn cây, nhất là lúc lá non mới nhú ra từ đỉnh sinh trưởng. Tùy từng độ tuổi
của cây mà ta có lượng phân cần bón với tỷ lệ NPK thích hợp. Ngoài việc
dùng phân vô cơ, ta còn có thể tưới xen kẽ thêm phân hữu cơ với nồng độ
loãng có pha thêm thuốc trừ nấm.
Lan Hồ Điệp cần bón phân với nồng độ loãng và có thể tưới nhiều lần
trong tuần. Có thể tưới thêm phân hữu cơ như: bánh dầu, vitamin B1 kích
thích ra rễ Các chất dinh dưỡng cần thiết nhất là Đạm (N), Lân (P), Kali (K)
và Canxi (Ca). Sự thiếu các chất dinh dưỡng này có thể làm ảnh hưởng đến sự
tăng trưởng, phát triển và làm giảm năng suất hoa [10].
2.1.4. Các phương pháp nhân giống Lan Hồ Điệp
- Nhân giống bằng phương pháp gieo hạt
Do hạt lan nảy mầm hết sức khó khăn nên phương pháp này ít được áp
dụng cả trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Phương pháp này chỉ sử dụng chủ
yếu trong việc lai tạo, nhằm chọn tạo ra những giống mới có nhiều đặc tính
mong muốn của con người.
Với mong ước tạo ra những cây lan lai từ các cây tự nhiên của địa
phương từ năm 1990, nhóm cán bộ kỹ thuật của Đà Lạt đã bắt đầu thực hiện
các phép lai đầu tiên trên cơ sở chon lọc những cây bố mẹ mang các đặc tính
ưu việt. Kết quả là đã thành công 2 cặp lai:
Renanthera evrarfiiGuillaum x Renathera imschootiana Rofle
Renanthera evrarfiiGuillaum x Vada denisonia Bens.et Rchb.f.
- Nhân giống bằng phương pháp tách chiết

8
Đây là phương pháp đơn giản dễ làm không tốn kém nhưng hệ số nhân
giống không cao. Theo Việt Chương, Nguyễn Việt Thái (2002), thời điểm tốt
nhất cho việc tách chiết là vào đầu tháng mùa mưa, khí trời mát mẻ cây đang
đà phát triển [14].
- Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào
Với công nghệ nuôi cấy in vitro, trong thời gian ngắn có thể sản xuất một

trưởng như vậy chỉ tồn tại trong một thời gian sau đó chậm dần và dừng lại,
mặc dù các tác giả đã chuyển sang môi trường mới [21].
Năm 1934, được xem là giai đoạn thứ hai của nuôi cấy mô và tế bào
thực vật khi White thành công trong việc duy trì mô rễ cây cà chua trong môi
trường lỏng có chứa muối khoáng, đường saccarozơ và dịch chiết nấm men.
Qua thí nghiệm, ông thấy rằng có thể thay dịch chiết nấm men bằng các
vitamin nhóm B (B1, B3, B6) [22].
Năm 1939, độc lập với Nobercourt, Gautheret cũng đã duy trì được
sinh trưởng của mô sẹo cà rốt trong một thời gian dài. Năm 1941, Van
Overbeek và cộng sự đã phát hiện thấy nước dừa có ảnh hưởng tích cực đến
sự phát sinh phôi và tạo mô sẹo ở cây họ cà [31]. Cũng trong thời gian này,
nhiều chất điều hoà sinh trưởng nhân tạo thuộc nhóm Auxin như NAA, 2,4-D
đã được tổng hợp. Nhiều tác giả xác nhận cùng với nước dừa, 2,4-D và NAA
đã giúp tạo mô sẹo thông qua phân chia tế bào ở nhiều đối tượng thực vật mà
trước đó rất khó nuôi cấy [4].
Năm 1954, Skoog bổ sung chế phẩm ADN chiết từ tinh dịch cá bẹ vào
môi trường nuôi cấy mô thân cây thuốc lá. Ông nhận thấy chế phẩm này có
tác dụng kích thích sinh trưởng mô nuôi cấy rõ rệt [20]. Một năm sau, Skoog
và cộng sự đã xác nhận chất gây ra hiện tượng trên là 6-furfuryl amino purine
và đặt tên là kinetin. Sau đó người ta đã tìm ra và tổng hợp một số chất có tác
dụng kích thích phân bào tương tự như kinetin và cùng với Kinetin gọi chung
là nhóm cytokinin. Cytokinin được tách chiết từ thực vật bậc cao đầu tiên là
zeatin có trong mầm ngô. Các hợp chất này có khả năng kích thích sự phân
chia tế bào của các mô đã biệt hoá cao như tế bào thịt lá hoặc nội nhũ của hạt
đã phơi khô [22].
Trong khoảng thời gian từ 1954 - 1959, kỹ thuật nuôi cấy tế bào đơn
được phát triển và hoàn thiện dần. Năm 1956, Nickell đã duy trì được sự sinh
trưởng liên tục huyền phù cây đậu trắng. Melcher và Beckman đã nuôi các tế
bào đơn trong các bình dung tích lớn có xục khí và bổ sung chất dinh dưỡng
định kỳ.

điều kiện thuận lợi nhất định, những tế bào đó có thể sẽ phát triển thành một
cơ thể hoàn chỉnh.
Năm 1953, Miller và Skoog (Notingham. Unio) đã thành công khi thực
nghiệm tái sinh cây con từ tế bào lá, chứng minh được tính toàn năng của tế

11
bào. Thành công trên đã tạo ra công nghệ sinh học ứng dụng trong nhân giống vô
tính, tạo giống cây trồng và dòng chống chịu [6].
Tính toàn năng của tế bào mà Haberlandt nêu ra chính là cơ sở lý luận
của phương pháp nuôi cấy mô và tế bào thực vật. Cho đến nay, con người đã
hoàn toàn chứng minh được khả năng tái sinh một cơ thể thực vật hoàn chỉnh
từ một tế bào riêng rẽ.
* Sự phân hoá và phản phân hoá tế bào
Sự phân hoá tế bào là sự chuyển các tế bào phôi sinh thành các tế bào
của mô chuyển hoá, đảm nhận các chức năng khác nhau trong cơ thể. Ví dụ:
Mô dậu làm nhiệm vụ quang hợp, mô bì làm nhiệm vụ bảo vệ, nhu mô làm
nhiệm vụ dự trữ, mô dẫn làm nhiệm vụ vận chuyển nước và chất dinh dưỡng.
Quá trình phân hoá tế bào được biểu diễn ở sơ đồ sau: Hình 2.1. Sơ đồ quá trình phân hóa tế bào
Mặc dù các tế bào đã chuyển hoá thành các mô chức năng nhưng chúng
vẫn không mất đi khả năng phân chia của mình. Trong điều kiện thích hợp,
các tế bào lại có thể trở về dạng tế bào phôi sinh và phân chia mạnh mẽ. Quá
trình đó được gọi là phản phân hoá tế bào (ngược lại với quá trình phân hoá tế
bào). Sơ đồ hoá như sau:


cấu trúc mô khác nhau trên một cây có thể cho các kết quả phát sinh hình
thái khác nhau. Mẫu non trẻ có sự phản ứng với các điều kiện và môi trường
nuôi cấy nhanh, dễ tái sinh, đặc biệt trong nuôi cấy mô sẹo, phôi. Ngoài ra
mô non trẻ mới được hình thành, sinh trưởng mạnh, mức độ nhiễm mầm
bệnh ít hơn [6].
Các mảnh nuôi cấy càng nhỏ thì tỷ lệ sống càng thấp và các mô có
nguồn gốc từ chồi đỉnh có khả năng sinh trưởng tốt hơn các mô có nguồn gốc
từ chồi nách [20].
2.2.3.2. Ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy
Môi trường nuôi cấy mô tế bào có thành phần thay đổi tuỳ theo loài
thực vật, loại tế bào, mô và cơ quan được nuôi cấy. Đối với cùng một loại mô,
cơ quan nhưng mục đích nuôi cây không giống nhau, môi trường sử dụng
cũng khác nhau khá cơ bản. Môi trường nuôi cấy còn thay đổi theo giai đoạn
sinh trưởng và phát triển của mẫu nuôi cấy [6].
Môi trường dinh dưỡng có đầy đủ các chất dinh dưỡng, các chất cần
thiết cho sự phân chia, phân hoá tế bào cũng như sự sinh trưởng bình thường
của cây.
Thành phần hóa học của môi trường đóng vai trò quyết định đến sự
thành công hay thất bại của nuôi cấy tế bào và mô thực vật. Mỗi một loại vật
liệu khác nhau có những đòi hỏi khác nhau về thành phần môi trường, khi bắt
đầu nghiên cứu một số loài mới hoặc giống mới cần phải chọn lựa cho đối
tượng nghiên cứu một loại môi trường cơ bản phù hợp.

13
Từ những năm 1933, Tukey đã nghiên cứu tạo ra môi trường nuôi cấy
thực vật, cho đến nay đã có rất nhiều loại môi trường khác nhau được sử dụng
cho mục đích này, trong đó có một số môi trường cơ bản được sử dụng rất
phổ biến như MS. Ví dụ, môi trường MS (Murashige&Skoog, 1962) là môi
trường được sử dụng rộng rãi nhất trong nuôi cấy mô của tế bào thực vật, môi
trường MS thích hợp cho cả thực vật 1 lá mầm, 2 lá mầm. Hay môi trường

riêng rẽ hoặc phối
hợp với nhau. Hầu hết các thực vật đều có khả năng khử nitrat thành

14
ammonium thông qua hệ thống nitrat reductase (NR). Ammonium được tế
bào thực vật đồng hóa trực tiếp để sinh tổng hợp nên các chất đạm hữu cơ như
amino acid. Điều đáng lưu ý là nếu chỉ dùng ammonium (không có nitrat) thì
sinh trưởng của tế bào giảm, thậm chí ngừng hoàn toàn. Nguyên nhân chính
là do quá trình trao đổi ion của tế bào xảy ra lệch dẫn đến tình trạng thay đổi
độ pH của môi trường. Vì vậy, hầu hết các loại môi trường đều dùng nitrat và
ammonium dạng phối hợp, nhưng tùy theo đặc tính hấp thu nitơ của loài cây
đó mà phối hợp theo tỷ lệ thích hợp.
+ Lưu huỳnh (S): Chủ yếu và tốt nhất là muối SO
4
-2
. Các dạng ion khác
như SO
3
hoặc SO
2
thường kém tác dụng, thậm chí còn độc.
+ Phospho (P): Mô và tế bào thực vật nuôi cấy có nhu cầu về phospho
rất cao. Phospho là một trong những thành phần cấu trúc của phân tử acid
nucleic. Ngoài ra khi phospho ở dạng H
2
PO
4
-
và HPO
4

dâu tằm (mulberry bud), môi trường có fructozơ cho kết quả tốt hơn những
loại đường khác [6].
* Các vitamin và axit amin
Ảnh hưởng của các vitamin đến sự phát triển của tế bào nuôi cấy in
vitro ở các loài khác nhau là khác nhau.
Hầu hết tế bào nuôi cấy đều có khả năng tổng hợp tất cả các loại
Vitamin cơ bản nhưng với số lượng dưới mức yêu cầu. Để mô có thể sinh
trưởng, tốt nhất phải bổ sung thêm vào môi trường một hay nhiều loại Vitamin
và amino axít. Trong các loại Vitamin, B1 được xem là vitamin quan trọng nhất
cho sự phát triển của thực vật. Axit nicotinic (B3) và Pyridoxune (B6) cũng có
thể được bổ sung vào môi trường nuôi cấy nhằm tăng cường sức sống cho mô.
* Các chất bổ sung
Nước dừa: Công bố đầu tiên về sử dụng nước dừa trong nuôi cấy mô
thuộc về Van Overbeek và cộng sự (Van Overbeek cs, 1944) [17]. Sau đó, tác
dụng tích cực của nước dừa trong môi trường nuôi cấy mô, tế bào thực vật đã
được nhiều tác giả ghi nhận. Nước dừa đã được xác định là rất giàu các hợp
chất hữu cơ, chất khoáng và chất kích thích sinh trưởng (George, 1993) [18].
Nước dừa đã được sử dụng để kích thích phân hóa và nhân nhanh chồi ở
nhiều loại cây. Nước dừa thường được lấy từ quả dừa để sử dụng tươi hoặc
sau bảo quản. Thông thường nước dừa thường được xử lý để loại trừ các
protein, sau đó được lọc qua màng lọc để khử trùng trước khi bảo quản lạnh.
Tồn dư của protein trong nước dừa không gây ảnh hưởng đến sinh trưởng của
mô hoặc tế bào nuôi cấy, nhưng sẽ dẫn đến kết tủa dung dịch khi bảo quản
lạnh. Chất cặn có thể được lọc hoặc để lắng dưới bình rồi gạn bỏ phần cặn.

16
Nước dừa thường sử dụng với nồng độ 5 - 20% thể tích môi trường, kích
thích phân hóa và nhân nhanh chồi.
Dịch chiết nấm men: Có tác dụng kích thích sự sinh trưởng và phát
triển của mô và tế bào. Dịch chiết nấm men là chế phẩm thường dùng trong

17
lên quá trình trao đổi chất, quá trình tổng hợp ADN, tổng hợp protein và làm
tăng cường hoạt tính của một số enzym [4].
Tác động phối hợp của Auxin và Cytokinin có tác dụng quyết định đến
sự phát triển và phát sinh hình thái của tế bào và mô. Những nghiên cứu của
Skoog cho thấy, tỷ lệ Auxin/Cytokinin cao thì thích hợp cho hình thành rễ,
thấp sẽ kích thích quá trình phát sinh chồi và ở mức cân bằng thì thuận lợi cho
sự phát triển của mô sẹo [4].
Ngoài Auxin và Cytokinin, trong nuôi cấy mô, tế bào thực vật người ta
còn sử dụng các chất điều hoà sinh trưởng khác như: Gibberillin (thông dụng
nhất là GA
3
), Abscisic acid (ABA). Sự có mặt của GA
3
trong nuôi cấy sẽ tăng
cường quá trình vươn thân chồi và tạo cây hoàn chỉnh ở một số loài thực vật.
ABA chỉ được sử dụng trong nuôi cấy nhằm kìm hãm sự sinh trưởng của
chồi, tham gia bảo quản lương thực và quỹ gen in vitro [6].
2.2.3.3. Ảnh hưởng của điều kiện nuôi cấy
Điều kiện nuôi cấy có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển và sinh
trưởng của mô nuôi cấy.
- Nhiệt độ
Mô nuôi cấy phát triển tốt nhất ở điều kiện nhiệt độ thích hợp với nó
nhưng phải được duy trì một cách ổn định.Trong các phòng nuôi cấy mô, tế
bào thực vật người ta thường duy trì nhiệt độ của phòng nuôi cấy từ 25-28
0
C
nhờ các máy điều hoà nhiệt độ [6]. Đây là nhiệt độ phù hợp với đa số các loài
thực vật.
- Ánh sáng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status