60
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG VĂN LÂM
Tên đề tài:
"NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH ĐƠN BÀO DO
LEUCOCYTOZOON GÂY RA Ở GÀ NUÔI TẠI HUYỆN YÊN THẾ
TỈNH BẮC GIANG VÀ THỬ NGHIỆM PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ"
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Thú y
Khoa : Chăn nuôi Thú y
Khóa học : 2009 - 2014
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Dương Thị Hồng Duyên
quá trình thực hiện đề tài.
Đồng thời, em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè luôn động viên,
giúp đỡ, tạo mọi thuận lợi để em hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 2 tháng 12 năm 2013
Sinh viên
Hoàng Văn Lâm
2
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1: Thực trạng công tác phòng chống bệnh Leucocytozoon cho gà ở
huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang 32
Bảng 4.2: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo địa phương 34
Bảng 4.3: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tháng 38
Bảng 4.4: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tuổi 40
Bảng 4.5: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo phương thức
chăn nuôi 42
Bảng 4.6: Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tình trạng vệ
sinh thú y 44
Hình 4.1. Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà tại 4 xã thuộc
huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang 36
Hình 4.2. Biểu đồ về cường độ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà tại 4 xã
thuộc huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang 37
Hình 4.3: Biểu đồ về tỷ lệ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà qua cá tháng 40
Hình 4.4: Biểu đồ Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tuổi 41
Hình 4.5. Tỷ lệ và cường độ nhiễm leucocytozoon ở gà theo phương thức
chăn nuôi 42
Hình 4.6. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tình trạng
vệ sinh thú y 45
4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Cs : Cộng sự
KCTG : Ký chủ trung gian
Nxb : Nhà xuất bản
N : Dung lượng mẫu
P : Độ tin cậy
S : Simulium
Spp : Species
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 21
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
23
3.1. Đối tượng nghiên cứu 23
3.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu 23
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu 23
6
3.3.2. Thời gian nghiên cứu 23
3.3. Vật liệu nghiên cứu 23
3.4. Nội dung nghiên cứu 24
3.4.1. Đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà tại huyện
Yên Thế - tỉnh Bắc Giang 24
3.4.2. Nghiên cứu biện pháp phòng và trị bệnh. 24
3.5. Phương pháp nghiên cứu 24
3.5.1. Phương pháp xác định tình trạng áp dụng các biện pháp phòng
bệnh Leucocytozoon cho gà ở các địa phương nghiên cứu 24
3.5.2. Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm
Leucocytozoon ở gà tại các địa phương 25
3.5.2.1. Bố trí thu thập mẫu 25
3.5.2.2. Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm Lecocytozoon ở gà
tại các địa phương 25
3.5.3. Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm
Leucocytozoon ở gà theo tháng trong thời gian nghiên cứu. 27
3.5.3 1. Bố trí lấy mẫu 27
3.5.3 2. Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon
theo tháng 27
3.5.4. Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm
Leucocytozoon ở gà theo tuổi gà 27
Thế - tỉnh Bắc Giang 32
4.1.1. Thực trạng phòng chống bệnh đơn bào Leucocytozoon cho gà ở
huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang 32
4.2. Tình hình nhiễm đơn bào đường máu Leucocytozoon ở gà 34
4.2.1. Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo địa phương 34
4.2.2. Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tháng
trong năm. 38
4.2.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo tuổi gà 40
4.2.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo phương thức chăn
nuôi gà
42
8
4.2.5. Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tình trạng vệ
sinh thú y
44
4.2.6. Nghiên cứu đặc điểm hoạt động của dĩn - véc tơ truyền
Leucocytozoon cho gà 46
4.2.6.1. Thành phần loài dĩn - véc tơ truyền Leucocytozoon cho gà ở các
địa phương 46
4.2.6.2. Quy luật hoạt động của các loài dĩn ở các địa phương nghiên cứu 47
4.3. Nghiên cứu hiệu quả của 3 phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoon
cho gà 50
PHẦN 5: KẾT LUẬN TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 54
5.1. Kết luận 54
5.1.1. Đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà tại 4 xã thuộc
huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang. 54
5.1.2. Thử nghiệm phác đồ điều trị Leucocytozoon ở gà. 54
5.2. Đề nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO
trùng với tỷ lệ và cường độ cao, diễn ra quanh năm, bất kể mùa vụ và thời tiết
nào. Như vậy thiệt hại mà bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh ký sinh trùng
đường máu nói riêng là rất rõ rệt.
Trong các bệnh ký sinh trùng ở gà, có những bệnh do nhóm đơn bào ký
sinh gây ra, chúng chiếm đoạt chất dinh dưỡng, tiết độc tố, gây ra những biến
đổi bệnh lý làm cho gà gầy yếu, chậm lớn, giảm mạnh sức sản xuất thịt,
trứng. Đặc biệt, một số bệnh đơn bào cũng gây ra các “ổ dịch cấp tính”, làm
cho gà chết nhanh với tỷ lệ cao không kém các bệnh truyền nhiễm, trong đó
có bệnh đơn bào đường máu Leucocytozoon.
Theo Shane S. M. (2005) [47], Leucocytozoon thuộc nhóm nguyên sinh
động vật, thuộc bộ huyết bào tử trùng (Heamosporidia) ký sinh trong máu và
2
cơ quan nội tạng của nhiều loài gia cầm, trong đó gà là loài mẫn cảm nhất,
đặc biệt là gà được nuôi theo phương thức chuồng hở.
Bệnh do các loài đơn bào Leucocytozoon ký sinh trong hồng cầu (đôi
khi thấy trong bạch cầu) gây ra xuất huyết, tan vỡ hồng cầu, dẫn đến thiếu
máu và ỉa chảy phân xanh màu lá cây, làm gà chết với tỷ lệ cao tới 30 - 50%.
Với diện tích đất đồi lớn, chăn nuôi gà tại huyện Yên Thế - tỉnh bắc
Giang đã và đang chiếm một số lượng lớn về cơ cấu của ngành chăn nuôi tại
địa phương này. Tuy nhiên, việc phòng và trị bệnh ký sinh trùng đặc biệt là
bệnh do đơn bào Leucocytozoon gây ra chưa được chú trọng. Xuất phát từ nhu
cầu thực tế, để góp phần hạn chế thiệt hại do đơn bào Leucocytozoon gây ra,
chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:" Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh
đơn bào do Leucocytozoon gây ra ở gà nuôi tại huyện Yên Thế - tỉnh Bắc
Giang và thử nghiệm phác đồ điều trị ".
1.2. Mục tiêu của đề tài
- Xác định được các loài Leucocytozoon gây bệnh cho gà và đặc điểm
dịch tễ bệnh do Leucocytozoon gây ra ở đàn gà của một số địa phương thuộc
huyện Yên Thế - tỉnh Bắc Giang.
Leucocytozoon ký sinh trong hồng cầu gà, đôi khi ký sinh trong bạch cầu (tùy
theo loài), làm tan vỡ hồng cầu, gây bần huyết và gây chết gà với tỷ lệ cao,
ảnh hưởng đến thu nhập của người chăn nuôi gà. Bệnh cũng được phát hiện ở
nhiều loài chim hoang dã.
2.1.1. Đặc điểm của đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở gà
2.1.1.1. Vị trí của đơn bào Leucocytozoon trong hệ thống phân loại động vật
Đơn bào nói chung là những nguyên sinh động vật không có khí quan
di động, thân thể khi thì trần và có thể biến dạng được, khi thì có màng bọc và
có hình dạng nhất định. Đơn bào sống ký sinh ở các tế bào, các mô hay dịch
thể, có thể suốt đời hoặc những giai đoạn đầu trong vòng đời của chúng.
Chúng tự nuôi dưỡng bằng cách thẩm thấu dinh dưỡng chiếm đoạt của ký chủ
qua bề mặt cơ thể.
Các loài đơn bào thuộc giống Leucocytozoon ký sinh trong máu của
nhiều loài gia cầm, thủy cầm, chim và nhiều loài chim hoang dã. Gà là vật
chủ cảm thụ đơn bào Leucocytozoon mạnh nhất. Bệnh được Ziemann phát
hiện lần đầu tiên vào năm 1898. Từ đó đến nay, trên thế giới đã có nhiều công
trình nghiên cứu về bệnh.
4
Theo Levine N. D. (1985) [38], Leucocytozoon gây bệnh cho gà có vị
trí trong hệ thống phân loại như sau:
Ngành Protozoa
Lớp Sporozoa
Bộ Haemosporidia
Họ Leucocytozoidae
Giống Leucocytozoon
Loài L. caullergyi (Mathis et Leger, 1909)
L. sabrazeis (Mathis et Leger, 1910)
L. simondi (Mathis et Leger, 1910)
L. smithi (Laveran et Lucet, 1905)
một tế bào rất nhỏ cấu thành, tổ chức của đơn bào gồm màng tế bào, chất
nguyên sinh, hạt hoặc nhân tế bào.
5
Đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở hồng cầu, bạch cầu, các nội tạng của
gà và các loài chim ở hai dạng: dạng tiểu thể hình dùi trống, hoặc hình thoi
nhọn hai đầu với kích thước từ 15 - 20 µm; dạng bào tử hình trứng với kích
thước từ 20 - 25 µm.
Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [14] cho biết: trong quá trình phát triển ở
ký chủ cũng như ở véc tơ trung gian truyền bệnh, các loài Leucocytozoon có
nhiều hình dạng khác nhau. Kích thước của chúng thay đổi tùy thuộc vào
dạng và loài đơn bào Leucocytozoon.
- Dạng bào tử (Sporozoite): hình thuẫn hoặc hình elip nhọn 2 dầu, kích
thước 10 - 15 µm. Thể này thấy ở tuyến nước bọt của dĩn (véc tơ trung gian
truyền bệnh).
- Dạng tiểu thể (Merozoite): hình tròn, hình trứng, kích thước 15 - 20 µm.
- Dạng giao tử (Schizont): hình elip, thon nhỏ 2 đầu, kích thước 20 - 45 µm.
- Dạng đại giao tử (Macrogametocyte): hình đa giác, gần tròn, kích
thước 350 - 400 µm.
- Dạng tiểu phối tử (Microgametocyte): hình thuẫn, hình trứng, kích
thước 20 - 25 µm.
Theo Phạm Sỹ Lăng và Tô Long Thành (2006) [15]; Phạm Sỹ Lăng và
cs (2008) [16], hai loài L. caullergyi và L. sabrazeis có hình dạng gần giống
nhau, chỉ khác về tính chất gây bệnh. Chúng có dạng hình cầu, hình bầu dục,
hình lưỡi liềm; kích thước 20 x 5 µm, không có sắc tố khi nhuộm Giemsa, ký
sinh ở hồng cầu của gà, gà rừng.
2.1.1.3. Vòng đời của Leucocytozoon ở gà
Saif Y. M. (2003) [46] cho rằng: giai đoạn sinh bào tử diễn ra trên vật
chủ trung gian và có thể được hoàn thành sau 3 - 4 ngày. Noãn nang phát triển
và có thể tìm thấy trong đường tiêu hóa của dĩn trong vòng 12 giờ sau khi dĩn
ngày hoặc kéo dài hơn tùy loài).
Quá trình sinh sản của đơn bào ở trong tế bào gan của vật chủ không có
chu kỳ nhất định. Sau khi phát triển ở gan, tất cả các Merozoite đều vào máu.
7
* Giai đoạn ở trong hồng cầu: giai đoạn này tạo thể tự dưỡng và thể
phân liệt trong đó có thể mang giới tính (giao tử đực và giao tử cái). Giai đoạn
ở trong hồng cầu bắt đầu từ khi các Merozoite từ gan vào máu, tiếp cận với bề
mặt hồng cầu có những thụ thể Receptor tương ứng và xâm nhập vào hồng
cầu qua 5 giai đoạn:
- Nhận diện và gắn bám
- Hình thành điểm tiếp giáp
- Tạo nên màng không bào liên tiếp màng hồng cầu
- Lọt vào màng không bào qua điểm tiếp nối chuyển động
- Hồng cầu hàn kín sau khi Merozoite lọt vào
Sau khi lọt vào trong hồng cầu, Merozoite hình thành không bào và phát
triển trong hồng cầu theo kiểu có chu kỳ, qua các thể:
Thể tự dưỡng (Trophozoite): gồm thể Trophozoite non (thể nhẫn), thể
Trophozoite phát triển (thể amip) và thể Trophozoite già.
Thể phân liệt (Schizont) gồm: Schizont non và Schizont già.
Sau khi kết thúc 1 chu kỳ phát triển, các Merozoite trong Schizont phá
vỡ hồng cầu vào máu, một số bị thực bào hoặc chết, một số xâm nhiễm vào
hồng cầu khác và tiếp tục phát triển theo chu kỳ tương tự.
Sau một số chu kỳ, có những Merozoite tiếp tục xâm nhập vào hồng
cầu, nhưng không tạo thành các thể Merozoite nữa mà phát triển thành thể có
giới tính: Gametocyte (Macrogametocyte - giao tử cái và Microgametocyte -
giao tử đực). Sau đó giao tử dực và giao tử cái kết hợp với nhau tạo thành hợp
tử (Zygote), gây phá vỡ hồng cầu và di chuyển trong máu.
Khi ký chủ trung gian là dĩn hút máu gia cầm, mầm bệnh sẽ vào ký chủ
trung gian và tiếp tục vòng đời.
vào cơ thể gia cầm khỏe. Như vậy, kể từ khi dĩn hút máu gia cầm bệnh lần
cuối đến lúc có khả năng truyền bệnh phải mất 18 ngày.
- Giai đoạn phát triển của Leucocytozoon trong cơ thể gia cầm thụ cảm.
Ngay sau khi thoi trùng theo nước bọt của ký chủ trung gian truyền bệnh xâm
nhập vào cơ thể gia cầm, chúng lột xác và hình thành nên các thể phân lập
trung gian (Merozoite), các thể phân lập trung gian này bám ngay vào các tế
bào máu và theo máu đi khắp cơ thể. Từ đây, chúng phát triển theo hai hướng:
Hướng thứ nhất: Chúng chui vào và ký sinh trong các tế bào máu, sinh
trưởng và phát triển theo phương thức tự nhân đôi để tạo ra các thể phân lập
thế hệ 1 (Schizont - 1). Các Schizont thế hệ 1 này lớn lên nhanh chóng và tiết
ra một chất làm tan hồng cầu, chất đó được gọi là chất kháng hồng cầu (anti-
erythrocyte). Dưới tác động cơ học của nhiều thể phân lập đã sinh ra trong
mỗi hồng cầu, và dưới tác động của chất kháng hồng cầu, một số lượng lớn
hồng cầu bị phá vỡ và giải phóng ra nhiều thể phân lập thế hệ 1, đây là
nguyên nhân chính dẫn đến thiếu máu, tăng Hemobilirubin, máu trở nên
loãng, nhớt và khó đông. Các thể phân lập thế hệ 1 lập tức tấn công và ký sinh
tiếp vào các tế bào hồng cầu mới, chúng lớn lên và lại nhân đôi để hình thành
thể phân lập thế hệ 2 (Schizont - 2), cứ tiếp tục như vậy chúng hình thành thể
phân lập thế hệ 3 (Schizont - 3) thì dừng lại và bắt đầu hình thành các giao tử
(Gametocyte). Giao tử đực có kích thước nhỏ gọi là Microgametocyte và giao
tử cái có kích thước lớn hơn gọi là Macrogametocyte. Kết thúc giai đoạn sinh
sản vô tính và bắt đầu giai đoạn sinh sản hữu tính.
10
Giai đoạn sinh sản hữu tính xảy ra trong các tế bào hồng cầu. Giao tử
đực chui vào giao tử cái để thụ tinh và hình thành nên hợp tử. Hợp tử được
bọc bởi một màng và được gọi là bào tử, có kích thước trung bình 14,5 - 5,5
µm. Sau đó, chúng phát triển thành các bào tử hình thoi, có kích thước lên đến
45 µm. Chỉ có các thoi trùng này mới có khả năng lây truyền thông qua côn
trùng hút máu gia cầm bệnh và truyền thoi trùng gây bệnh cho gia cầm khỏe.
Theo Shane S. M. (2005) [47], Leucocytozoonosis thường gặp ở các
nước nhiệt đới, đặc biệt là ở những nơi mà các trang trại nằm gần ao, hồ. Đàn
gia cầm mắc bệnh giảm mạnh tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ chết cao có thể lên đến
100% nếu không được chữa trị kịp thời.
Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [14] cho rằng: gà bị bệnh đơn bào đường
máu Leucocytozoon ở thể cấp tính có thể chết đột ngột do xuất huyết các nội
quan và thiếu máu cấp. Gà mái giảm đẻ hoặc ngừng đẻ, kém ăn, giảm tăng
trọng và gầy yếu nhanh. Gà mắc bệnh sẽ chết sau 3 - 6 ngày với tỷ lệ tới trên
50% số gà bị bệnh.
Lê Văn Năm (2001) [21] cho biết: tại một số địa phương như Bắc
Giang, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hải Dương, Vĩnh Phúc, bệnh đơn bào
Leucocytozoon xuất hiện ở hầu hết các đàn gà nuôi thả vườn với tỷ lệ dao
động từ 40 - 70%, gây thiệt hại vô cùng to lớn cho người chăn nuôi.
2.1.2.2. Dịch tễ học bệnh Leucocytozoon ở gà
Lê Đức Quyết và cs (2009) [23] cho biết: tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon
phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: tuổi gia cầm, giống, địa hình, vùng sinh
thái, phương thức chăn nuôi
Theo Lê Văn Năm (2001) [21], bệnh do Leucocytozoon gây ra có tính
chu kỳ rõ rệt, phụ thuộc vào mùa sinh sản và phát triển của côn trùng hút máu
truyền bệnh.
Loài gây bệnh và động vật mắc bệnh
Trong tự nhiên, gà, gà rừng, chim trĩ và các loài chim thuộc bộ gà
(Galliformes) đều có thể bị bệnh. Bệnh từ gà nhà có thể truyền lây sang gà
rừng qua ký chủ trung gian và ngược lại. Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [11];
(2010) [15] cho rằng: có 4 loài đơn bào giống Leucocytozoon chủ yếu ký sinh
và gây bệnh cho gà:
* L. caulleryi (Mathis et Leger, 1909)
Loài này ký sinh và gây bệnh cho gà nhà, gà rừng ở các nước thuộc
Đông và Đông Á: Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam, các bang thuộc
12
của gà. Điều này có liên quan mật thiết với sự tồn tại và phát triển của các loài
dĩn hút máu - véc tơ truyền bệnh.
13
Yếu tố stress: Các yếu tố strees như chuồng trại chật chội, khí hậu ẩm,
thấp, thức ăn kém dinh dưỡng đóng vai trò thúc đẩy mức độ và tốc độ lây
lan bệnh Leucocytozoon ở gà.
2.1.2.3. Cơ chế sinh bệnh của bệnh Leucocytozoon
Bệnh lây truyền từ gà bệnh sang gà khoẻ qua đường máu nhờ vật chủ
trung gian là các loài dĩn thuộc họ Culicoides spp. và Simulium spp Dĩn hút
máu của gà bệnh có đơn bào ký sinh trong máu. Vào cơ thể dĩn, đơn bào phát
triển qua 3 giai đoạn, cuối cùng thành bào tử nằm ở tuyến nước bọt của dĩn.
Khi dĩn mang mầm bệnh hút máu gà khoẻ, bào tử sẽ được truyền cho gà khoẻ
và gây bệnh cho gà.
Các bào tử xâm nhập vào các tế bào nội quan như: gan, lách, phổi,
thận, tổ chức cơ để trở thành bào tử (Schizont); các bào tử vào hồng cầu phát
triển thành tiểu thể (Merozoite), giao tử thể (Gametocyte), đại giao tử
(Marcrogametocyte) và tiểu giao tử (Mircrogametocyte). Chúng phát triển,
phá huỷ tế bào hồng cầu và gây hoại tử các cơ quan tổ chức, đặc biệt là lách
và gan. Đồng thời chúng tiết ra chất anti-erythrocyte làm tan hồng cầu.
2.1.2.4. Triệu chứng và bệnh tích bệnh Leucocytozoon
* Triệu chứng bệnh Leucocytozoon
Orlov F. M. (1975) [22] cho biết: gà tây thường mắc bệnh trước 12 tuần
tuổi. Gà bệnh bỏ ăn, suy yếu toàn thân, ít vận động, rối loạn vận động. Gà tây
bắt đầu chết từ 2 - 3 ngày sau khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên.
Theo tài liệu của Viện Thú y Quốc gia (2001) [30]; (2002) [31], triệu
chứng chủ yếu của gà mắc bệnh do đơn bào Leucocytozoon gây ra là:
- Ho ra máu và chết đột ngột
- Thiếu máu, đặc biệt mào và tích do thiếu máu nên có màu tím tái
- Nhịp thở nhanh
ngày. Nếu không được chẩn đoán đúng và điều trị kịp thời, tỷ lệ chết sẽ rất cao.
- Thể cấp tính:
Đây là thể bệnh phổ biến nhất và gắn liền với thời tiết ẩm ướt do mưa
phùn kéo dài. Khí hậu ẩm thấp tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển, sinh
sôi, nảy nở của véc tơ truyền bệnh.
Trong những đàn gà mắc bệnh ở thể này, lúc đầu chỉ thấy một số ít gà
có biểu hiện sốt cao, mào thâm tái, sau vài ngày trở nên trắng bệch. Khi cắt
tiết gà thấy máu rất loãng, khó đông.
15
Gà bị bệnh giảm ăn, ít vận động, đi lại không vững. Gà bị tiêu chảy,
phân có màu xanh đậm.
Gà bệnh gầy sút nhanh, yếu dần và rất khó thở, thở khò khè, phải vươn
cổ ra để thở. Nếu độ ẩm không khí cao, chuồng nuôi ẩm thấp thì gà bệnh càng
khó thở và rất dễ chết. Tuy nhiên, gà chết không ồ ạt, nhưng tỷ lệ chết tăng
dần qua mỗi ngày. Lúc đầu gà chỉ chết vào ban đêm, về sau chết bất kỳ lúc
nào, tỷ lệ chết có thể lên đến 70%. Bệnh nặng hơn nếu gà bị bệnh ghép với
CRD, Newcastle
Ở gà mái: triệu chứng thường thấy là giảm sản lượng trứng, đồng thời
khối lượng trứng của gà bệnh cũng giảm rõ rệt, vỏ trứng mềm, dễ vỡ, hoặc
ngược lại vỏ rất dầy. Khi cho ấp trứng của những đàn gà đẻ bị mắc bệnh
Leucocytozoon thì tỷ lệ ấp nở giảm, gà mới nở bị chết yểu trong 3 - 5 ngày
đầu chiếm tỷ lệ rất cao.
- Thể á cấp tính:
Đây là thể bệnh được chuyển sang từ thể cấp tính, ở những gà có sức đề
kháng tốt hoặc ở gà trên 1 năm tuổi. Bệnh thường thấy ở gà đang vào thời kỳ
đẻ tốt nhất. Bệnh cũng có thể xảy ra ở thủy cầm, hoang cầm và ít thấy ở gia
cầm khác nuôi trên cạn.
Gà bệnh sốt cao, giảm ăn, tiêu chảy, ho hen, chết rải rác. Tỷ lệ chết
ngày càng tăng và có thể lên đến 30 - 40 % tổng đàn.
Lê Văn Năm (2001) [21] cho biết: bệnh tích đại thể của bệnh do đơn
bào Leucocytozoon gây ra ở gà rất điển hình, được quan sát thấy trong nhiều
cơ quan nội tạng như: gan, lách, thận, tim, phổi, ruột non, não, buồng trứng và
ống dẫn trứng Những biến đổi đại thể ở các cơ quan nội tạng như sau:
Gan: sưng to, mềm nhũn và dễ vỡ, trên bề mặt gan thấy nhiều điểm
trắng. Đây là kết quả của các thể phân lập của Leucocytozoon ở gan tạo nên,
làm giòn, xốp và tắc nghẽn các mao mạch, dẫn đến xuất huyết tràn lan, thậm
chí vỡ mao mạch, dẫn đến vỡ gan, chảy máu vào xoang bụng.
Lách: sưng to, giòn, dễ vỡ, trên bề mặt lách có nhiều điểm xuất huyết
hoặc hoại tử.
Thận: sưng to, xuất huyết.
Buồng trứng và ống dẫn trứng: buồng trứng bị viêm, thoái hóa; ống dẫn
trứng sưng, dầy lên và có nhiều điểm xuất huyết.