Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tiên mao trùng (Trypanosomiasis) ở trâu tại huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang và thử nghiệm phác đồ điều trị - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HÀ XUÂN BÁCH

TÊN ĐỀ TÀI
:

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH TIÊN MAO
TRÙNG (TRYPANOSOMIASIS) Ở TRÂU TẠI HUYỆN YÊN SƠN –
TỈNH TUYÊN QUANG VÀ THỬ NGHIỆM PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ
” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Thú y
Khoa : Chăn nuôi thú y
Khóa học : 2009 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Phạm Thị Trang

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2013
59
LỜI CẢM ƠN

60
LỜI NÓI ĐẦU

Thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn trong quá trình đào tạo cán bộ
khoa học kỹ thuật vững về lý thuyết, giỏi về tay nghề. Trong khoảng thời
gian này sinh viên phải đem những kiến thức đã học ứng dụng vào thực tế
sản xuất, để củng cố sâu thêm những kiến thức đã được học trong nhà
trường, nâng cao trình độ kiến thức chuyên môn và học tập phương pháp
nghiên cứu khoa học.
Nhằm thực hiện đúng hiệu quả và phương châm đào tạo: "Học đi đôi
với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội",
giúp sinh viên nâng cao trình độ chuyên môn, nắm vững phương pháp
nghiên cứu và ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để
sau khi ra trường mỗi sinh viên trở thành một cán bộ có trình độ chuyên
môn vững vàng đưa ngành chăn nuôi ngày càng phát triển góp phần vào
công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Từ phương châm đó, được sự nhất trí của nhà trường, của khoa chăn
nuôi thú y, dưới sự giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của trạm
thú y huyện Yên Sơn – tỉnh Tuyên Quang . Em đã về thực tập tại địa bàn và
triển khai đề tài: "Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh tiên mao
trùng (Trypanosomiasis) ở trâu tại huyện Yên Sơn – tỉnh Tuyên Quang
và thử nghiệm phác đồ điều trị”.
Do thời gian thực tập có hạn, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực
tiễn chưa nhiều nên đề tài của em không tránh khỏi những thiếu sót.
Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các
thầy, cô giáo cùng các bạn để khóa luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!



2.1.2. Dịch tễ học bệnh tiên mao trùng 9

2.1.2.1. Phân bố của bệnh 9

2.1.2.2. Vật chủ và vật môi giới truyền bệnh tiên mao trùng 10

2.1.2.3. Tuổi vật chủ, mùa mắc bệnh 13

2.1.3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh 14

2.1.3.1. Đặc điểm bệnh lý 14

2.1.3.2. Triệu chứng lâm sàng của bệnh tiên mao trùng ở trâu 1662
2.1.3.3. Bệnh tích của bệnh tiên mao trùng 17

2.1.4. Chẩn đoán bệnh tiên mao trùng 18

2.1.4.1. Chẩn đoán lâm sàng 18

2.1.4.2. Chẩn đoán thí nghiệm 18

2.1.5. Phòng trị bệnh tiên mao trùng cho trâu 24

2.1.5.1. Phòng bệnh 24

2.1.5.2. Điều trị bệnh 27


63
3.3.1.2. Nghiên cứu về côn trùng môi giới truyền bệnh tiên mao trùng 34

3.3.2. Nghiên cứu phác đồ điều trị bệnh T. evansi cho trâu và đề xuất
biện pháp phòng chống 35

3.3.2.1. Xây dựng phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng 35

3.3.2.2. Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh do T. Evansigây ra cho
trâu ở huyện Yên Sơn – tỉnh Tuyên Quang 35

3.4. Phương pháp nghiên cứu 35

3.4.1. Phương pháp thu thập mẫu 35

3.4.1.1. Phương pháp thu thập mẫu máu trâu 35

3.4.1.2. Phương pháp lấy mẫu máu 36

3.4.2. Phương pháp phát hiện tiên mao trùng trong mẫu 36

3.4.2.1. Phương pháp xem tươi (Direct smear) 36

3.4.2.2. Phương pháp nhuộm Giemsa tiêu bản máu khô (Romanovsky) 36

3.4.2.3. Phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm 37

3.4.3. Phương pháp thu thập định loại côn trùng môi giới truyền bệnh
tiên mao trùng 37


4.3.1. Xây dựng phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng 50

4.3.1.1. Thử nghiệm thuốc điều trị bệnh tiên mao trùng trên diện hẹp 50

4.3.1.2. Ứng dụng phác đồ có hiệu quả cao trong điều trị bệnh tiên mao
trùng ở huyện Yên Sơn – tỉnh Tuyên Quang 51

4.3.2. Đề xuất một số biện pháp phòng chống bệnh T. evansi cho trâu ở
các địa phương thuộc huyện Yên Sơn – tỉnh Tuyên Quang 52

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53

5.1. Kết Luận 53

5.2. Đề nghị 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 5565
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Cs : Cộng sự
TMT : Tiên mao trùng
Kg : Kilôgam
TT : Thể trọng
Nxb : Nhà xuất bản
T. evansi : Trypanosoma evansi
VGS : Vanant Glycoprotein Surface

1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Bệnh tiên mao trùng hay còn gọi là bệnh ngã nước, trâu bò mắc bệnh
thể cấp tính
thường
sốt cao 41 - 41,7
0
C với các triệu chứng thần kinh như
ngã quỵ, kêu rống, đi vòng tròn… Trâu bò bệnh sẽ chết sau 7 - 15 ngày. Ở
thể mãn tính, các triệu chứng lâm sàng nhẹ hơn và bệnh kéo dài 1 - 2 tháng,
con vật ngày càng gầy, da khô mốc, niêm mạc mắt tụ máu màu đỏ tía, đôi
khi có chấm máu, chảy nước mắt và mắt có nhiều dử đặc như keo, niêm
mạc mắt vàng nhạt hay sẫm. Sức khoẻ suy yếu dần, kém ăn, kém nhai lại,
đi phân táo có lẫn máu hoặc đi tháo lỏng mùi thối khắm, có khi con vật đi
ỉa ra cả màng ruột, nát từng đoạn. Thường thấy có thuỷ thũng ở hầu, ức,
nách, chân, háng. Trường hợp bệnh nặng, con vật đột ngột sốt cao, bụng
chướng to rồi lăn ra chết.
Theo số liệu của Phạm Sỹ Lăng (1982) [8], Phan Địch Lân và cộng
sự (2004) [13], Phan Văn Chinh (2006) [4], bệnh tiên mao trùng xuất hiện
ở nhiều vùng trên cả nước, với tỷ lệ mắc khá cao: trên trâu là 13 - 30%, trên
bò là 7 - 14%, trong đó tỷ lệ gia súc chết lên tới 6,3 - 20%.
Cũng theo báo cáo của các tác giả trên, tỷ lệ mắc Trypanosoma
evansi ở gia súc vùng núi và trung du cao hơn các vùng đồng bằng và ven
biển. Trong khi đó, ở nước ta, chăn nuôi gia súc nhai lại để cung cấp sức
kéo, thịt, sữa lại tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi và trung du, là các
vùng có điều kiện tự nhiên thích hợp cho sự phát triển chăn nuôi gia súc
nhai lại, nhưng cơ sở hạ tầng phục vụ công tác chẩn đoán và điều trị tại địa
phương còn yếu kém, dẫn tới hệ quả là bệnh tiên mao trùng trở nên phổ

Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi
áp dụng quy trình phòng, trị bệnh tiên mao trùng. Nhằm hạn chế tỷ lệ
nhiễm và thiệt hại do Trypanosoma evansi gây ra. Góp phần nâng cao năng
suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi trâu phát triển.
4
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Bệnh tiên mao trùng được Blanchard (1888) phát hiện đầu tiên ở
Việt Nam. Sau đó, bệnh được xác định là phổ biến ở hầu hết các tỉnh thành
trong cả nước. Bệnh do loài tiên mao trùng Trypanosoma evansi gây ra.
Trâu, bò, ngựa mắc bệnh dễ chết hoặc thiếu máu, suy nhược, giảm hoặc
mất khả năng sinh sản và sức sản xuất.
2.1.1. Đặc điểm hình thái, cấu trúc và phân loại Trypanosoma
2.1.1.1. Vị trí của tiên mao trùng Trypanosoma trong hệ thống phân loại
động vật học
Theo Levine et al (1980) (dẫn theo Lương Văn Huấn và cs, 1997)
[6], vị trí của tiên mao trùng trong hệ thống phân loại nguyên bào
(Protozoa) như sau:
Ngành Sarcomastigophora
Phân ngành Mastigophora
Lớp Zoomastigophorasida
Bộ Kinetoplastorida
Phân bộ Trypanosomatorida
Họ Trypanosomatidae Donein, 1901
Giống Trypanosoma Gruby, 1843
Giống phụ Megatrypanum Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (M) theileria
Giống phụ Herpetosoma Donein, 1901

cấu trúc của các loài tiên mao trùng khác thuộc họ Trypanosomatidae. Cấu
trúc từ ngoài vào trong được chia thành 3 phần chính:
- Vỏ: ngoài cùng là lớp vỏ dày 10 - 15 nm, vỏ được chia làm 3 lớp
6
(lớp ngoài và lớp trong cùng tiếp giáp với nguyên sinh chất dầy hơn lớp
giữa). Lớp vỏ ngoài cùng được cấu tạo từ các phân tử glycoprotein luôn
biến đổi (Vanant Glycoprotein Surface -VGS). Tiếp giáp với lớp trong
cùng là 9 cặp vi ống xếp song song dọc theo chiều dài thân tiên mao trùng.
Chính nhờ sự sắp xếp của các cặp vi ống nên tiên mao trùng có dạng hình
suốt chỉ mảnh (Hoare, 1972 [32]; Phạm Sỹ Lăng, 1982 [8]; Nguyễn Quốc
Doanh, 1999 [5] ).
- Nguyên sinh chất: gồm lớp trong và lớp ngoài. Trong nguyên sinh chất
có chứa các nội quan: ribosome có màu thẫm xen kẽ vùng không bào
màu sáng, kinetoplast (thể cơ động), mitochrondno, reticulum (lưới nội
bào) và mạng lưới golgi.
- Nhân: nhân tiên mao trùng có chứa ADN, hình bầu dục hoặc hình
trứng. Nhân thường nằm ở vị trí trung tâm hoặc gần vị trí trung tâm cơ thể.
Ngoài nhân, về phía cuối thân còn có thể kinetoplast chứa AND (KADN).
Từ kinetoplast có một roi chạy vòng quanh thân lên đầu và ra phía ngoài cơ
thể thành một roi tự do. Roi của tiên mao trùng có lớp vỏ ngoài cùng giống
lớp vỏ của thân. Trong roi có 9 cặp vi ống ở xung quanh và một cặp ở trung
tâm, xếp song song dọc chiều dài roi (Hoare, 1972 [32]; Nguyễn Quốc
Doanh, 1999 [5]).
2.1.1.3. Cấu trúc kháng nguyên của tiên mao trùng Trypanosoma evansi
Kháng nguyên của T. evansi gồm hai loại: kháng nguyên ổn định
(kháng nguyên không biến đổi) và kháng nguyên biến đổi.
* Kháng nguyên ổn định (kháng nguyên không biến đổi)
Phần lớn các thành phần kháng nguyên tiên mao trùng không biến
đổi trong quá trình sống ký sinh. Bằng phương pháp điện di miễn dịch
huyết thanh thỏ tối miễn dịch với T. evansi, Kageruka (1982) đã phát hiện

nguyên lớp vỏ của tiên mao trùng cho đến nay vẫn chưa thống nhất.
8
* Cơ chế di truyền của kháng nguyên biến đổi
Khi kháng thể đặc hiệu kết hợp với phân tử của kháng nguyên bề
mặt (VSG), làm tiêu tan tiên mao trùng thì đó cũng là nguyên nhân chính
thúc đẩy sự hoạt hoá của gen. Kết quả là các phân tử kháng nguyên VSG
được thay đổi hoàn toàn bằng các phân tử VSG mới. Lúc này, kháng thể
đặc hiệu lúc trước đã không còn tác dụng đối với kháng nguyên mới này.
Theo Barry và Tumer (1991) [30], Vanhamme và cs (1995) [36], các
VSG được mã hoá nhờ các gen chuyên biệt. Một gen VSG được hoạt hoá
một cách chọn lọc, dẫn đến tổng hợp ra một loại kháng nguyên VSG. Mỗi
bên VSG mới tạo ra một loại kháng nguyên VSG mới. Trong bộ gen của
tiên mao trùng tồn tại một số lớn gen VSG, các gen này sử dụng nhiều cơ
chế sắp xếp khác nhau, do vậy tiên mao trùng đã tạo ra nhiều VSG khác
nhau ở gia súc bị bệnh mãn tính. Cơ chế biến đổi kháng nguyên theo 2
cách: cách thứ nhất là, sử dụng lần lượt các điểm biểu hiện trên (expression
side) khác nhau, không có sự sắp xếp của ADN. Các điểm biểu hiện khác
nhau sẽ mang các gen VSG khác nhau, sự luân phiên này dẫn đến sự thay
đổi type kháng nguyên. Cơ chế này quan sát được chủ yếu ở giai đoạn đầu
của quá trình cảm nhiễm. Có lẽ ở giai đoạn đầu này chưa có đáp ứng miễn
dịch của vật chủ đối với VSG, chính điều này không gây ra một cản trở
hoạt hoá tự nhiên của các điểm biểu hiện gen này. Cách thứ hai là, tập hợp
lại các đoạn ADN khác nhau để tái tổ hợp gen, mà việc tái tổ hợp này cho
phép thay thế hoàn toàn hoặc từng phần gen; hoặc việc thay thế diễn ra dựa
vào sự chuyển đổi gen chứ không phải dựa vào tái tổ hợp gen. Trường
hợp này được diễn giải như sau: một gen hoạt hoá được thay thế bằng
bản sao chép của một gen khác. Do có sự thay thế một phần của gen
nên đã tạo ra loại gen phức hợp và đặc trưng.
9
2.1.2. Dịch tễ học bệnh tiên mao trùng

Trong tự nhiên, tiên mao trùng ký sinh ở hầu hết các loài thú nuôi và
thú hoang, thấy nhiều hơn ở trâu, bò, ngựa, trâu bò rừng, hươu, nai, hổ,
báo, sư tử, chó, mèo, lạc đà, voi thỏ, chuột cống, chuột lang, chuột bạch ,
nhưng không ký sinh ở người.
Sự lây truyền tiên mao trùng từ trâu, bò ốm sang trâu, bò khoẻ là
nhờ các loài ruồi hút máu (thuộc họ phụ Stomoxydinae) và các loài mòng
hút máu (thuộc họ Tabanidae). Ruồi và mòng hút máu của gia súc bị bệnh,
hút luôn cả tiên mao trùng vào vòi hút, sau đó lại hút máu gia súc khoẻ,
trong khi hút máu sẽ truyền tiên mao trùng từ vòi hút vào máu con vật
khoẻ. Sự lây truyền này mang tính chất cơ học. Như vậy, ruồi và mòng hút
máu là những vật môi giới truyền bệnh tiên mao trùng quan trọng.
Theo Phan Địch Lân (1974) [11], Phan Địch Lân (2004) [13], phần
lớn các loài mòng tập trung ở khu vực miền núi và trung du. Trong 53 loài
mòng thì có tới 44 loài phân bố ở vùng rừng núi có độ cao dưới 1 .000 mét
so với mặt nước biển, càng lên cao số loài càng ít dần (độ cao trên 1.000
mét chỉ có 26 loài). Ở vùng trung du (rừng thưa, độ cao không quá 500 mét
so với mặt nước biển có 27 loài; vùng đồi trọc chỉ có 9 - 11 loài; vùng rừng núi
ven biển phát hiện chỉ có 8 loài. Những loài mòng phổ biến ở tất cả các vùng là:
Tabanus rubidus, T. striatus, Chrysops dispar, Chrysozoma assamensis.
Những loài mòng chỉ gặp ở vùng núi là: Tabanus flavistriatus, T.
fumifer, Chrysops vander. Miền Bắc nước ta có 4 loài ruồi hút máu, 2 loài
phổ biến ở tất cả các vùng là Stomoxys calcitrans và Liperosis exigua; 2 loài
chỉ thấy ở những vùng sinh cảnh đặc biệt: loài Bdellolarynx sanguinolentus
(chỉ xuất hiện ở vùng có độ cao dưới 1.000 mét), loài Stomoxys indica (chỉ
thấy ở vùng núi Cẩm Thuỷ - Thanh Hoá).
11
Loài ruồi Stomoxys calcitran là loài ruồi có kích thước trung bình 5
đến 8mm. đầu có mắt kép màu nâu óng ánh, trán rất rộng, chiều rộng trán
bằng ¼ chiều rộng của đầu, chiều rộng của trán giữa gấp 3 lần của trán
cạnh. Con cái chính giữa trán có một dải màu nhạt. Lông trán cạnh có hai

Đặc điểm chung: Tabanus rubidus con đực nhỏ hơn con cái, đầu rất
to,hai mắt kép xít chặt nhau chỉ để lại một vạch ranh giới và một khoảng
tam giác đỉnh trán cùng chai trán phụ màu vàng hơi nâu. Má, mặt màu
trắng vàng hoặc nâu hơi đỏ, lông trắng bạc hoặc hung hung đỏ. Râu miệng
hung hung đỏ. Râu hàm dưới màu vàng hơi đỏ, lông vàng nâu. Anten màu
đỏ nâu hoặc nâu đen, đầu cuối đậm màu hơn. Ngực, mặt lưng màu trắng
xám hơi vàng có lông vàng và lông đen. Bụng giống con cái, nhỏ thon đầu
cuối nhọn màu vàng nâu đậm, lông vàng và lông đen.
Loài mòng Tabanus kiangsuensis là loài mòng to trung bình, màu nâu vàng
xám hoặc nâu vàng. Trán màu nâu ánh kim, chai trán gốc nối liền với chai
trán giữa hình thành gậy màu nâu đỏ, bong. Chai trán phụ, má, mặt màu
vàng xám. Râu miệng màu trắng vàng. Râu hàm dưới màu trắng vàng, lông
đen xen lẫn lông trắng. Anten màu nâu đỏ đầu cuối hơi sẫm. Mặt lưng của
ngực màu nâu đỏ sẫm, lông đen xen lẫn lông vàng, có ba sọc dọc màu nâu
xám nhạt. Màng cánh nâu nhạt, không có nhánh phụ. Chân màu đỏ nhạt.
Mặt lưng của bụng màu nâu đỏ xám. Từ đốt thứ nhất tới đốt thứ năm có
một đai dọc, giữa màu nâu vàng không rõ rệt lắm. Cạnh đai dọc giữa từ đốt
thứ nhất đến đốt thứ năm có đốm bên hình chữ nhật nằm chếch với đai giữa
cùng màu.( Phan Địch Lân, 1983) [12]; (Phan Văn Chinh, 2006) [2].
Phan Địch Lân (2004) [13] cho biết, kiểm tra ở nhiều địa điểm thấy
hai loài mòng T. rubidus và T. striatus mang tiên mao trùng với tỷ lệ 15,2%
và 14,0%; ruồi hút máu Stomoxys calcitrans mang tiên mao trùng với tỷ lệ
12,5%. Ở những vùng đang có bệnh tiên mao trùng, kiểm tra ruồi và mòng
13
hút máu dễ dàng tìm thấy tiên mao trùng. Sau khi theo máu vào vòi hút ruồi
và mòng, tiên mao trùng vẫn sống đến giờ thứ 53, thời gian hoạt động mạnh
nhất là từ giờ thứ nhất đến giờ thứ 34 trung bình là 24giờ. Sự hoạt động của
tiên mao trùng yếu dần từ giờ thứ 35 đến 42. Từ 46 - 53 giờ thì tiên mao
trùng ngừng hoạt động.
Hình thái tiên mao trùng khi ở trong vòi ruồi, mòng biến đổi theo thời

mùa mưa nóng ẩm luôn có liên quan đến tình hình dịch tễ bệnh tiên mao
trùng ở trâu, bò, dê, lạc đà. Từ cuối mùa thu, mùa đông và đầu mùa xuân,
trâu bò nhiễm tiên mao trùng phải sống trong điều kiện thời tiết lạnh, thiếu
thức ăn nên sức đề kháng giảm, bệnh thường phát ra vào thời gian này và
trâu bò bị đổ ngã hàng loạt. Tiên mao trùng có sức đề kháng yếu, dễ chết
khi tiếp xúc với nước cất, cồn và thuốc sát trùng.
2.1.3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh
2.1.3.1. Đặc điểm bệnh lý
Khi ruồi trâu, mòng đốt, hút máu và truyền tiên mao trùng vào trâu,
bò, ngựa, tiên mao trùng xâm nhập vào da, gây ra vết viêm trên mặt da.
Theo dõi có thể quan sát được phản ứng viêm ở da của thỏ, cừu, dê và bò
gây nhiễm thực nghiệm tiên mao trùng, kích thước chỗ viêm phụ thuộc vào
số lượng tiên mao trùng được tiêm truyền (ước chừng khoảng 108 tiên mao
trùng có thể gây viêm da - ở vị trí tiêm truyền), một số lượng lớn tiên mao
trùng phát triển ở tại chỗ viêm này.
Vào máu, tiên mao trùng nhân lên theo cấp số nhân ở trong máu,
trong bạch huyết và ở trong các mô khác của cơ thể vật chủ theo cách phân
chia theo chiều dọc. Số lượng tiên mao trùng trong máu không phải lúc nào
cũng như nhau. Mật độ tiên mao trùng thay đổi theo ngày. Biểu đồ sóng
tiên mao trùng cho thấy, xen kẽ giữa những sóng tiên mao trùng mạnh là
những đợt sóng yếu. Mỗi đợt sóng tiên mao trùng bắt đầu bằng sự tăng số
15
lượng tiên mao trùng trong máu, sau đó giảm và khó phát hiện thấy tiên
mao trùng. Mỗi đợt tiên mao trùng tăng lên trong máu là biểu hiện sự xuất
hiện một quần thể tiên mao trùng có tính kháng nguyên bề mặt mới, quần
thể này có thể tiếp tục sinh sản và tồn tại một thời gian cho đến khi cơ thể
xuất hiện kháng thể đặc hiệu với chúng.
Tiên mao trùng phát triển nhanh trong máu, tiêu thụ Glucose và các
chất đạm, chất béo và khoáng chất trong máu ký chủ bằng phương thức
thẩm thấu qua bề mặt cơ thể để duy trì hoạt động và sinh sản. Ở súc vật bị

hội chứng thần kinh như điên loạn, mắt đỏ ngầu, húc đầu vào tường, chạy
vòng quanh kêu rống lên. Trường hợp nhẹ thấy run rẩy từng cơn, mắt trợn
ngược rồi đổ ngã vật xuống, sùi bọt mép giống như trâu bị cảm nắng. Sau
20 - 30 phút con vật lại đứng dậy đi lại được. Những trâu bò mắc bệnh có
triệu chứng lâm sàng như trên thường là mắc bệnh ở thể cấp tính.
Trâu, bò bị bệnh mạn tính thường kéo dài, cơ thể suy yếu, liệt hai
chân sau, nằm tư thế quỳ và không đi lại được. Mặc dù nằm liệt nhưng vẫn
ăn và nhai lại cho đến khi sắp chết.
- Phù thũng dưới da: phù thũng thường thấy ở vùng thấp của cơ
thể như ở bốn chân (từ khớp khuỷu trở xuống), phần yếm, ngực, bộ
phận sinh dục.
- Viêm giác mạc và kết mạc mắt: triệu chứng này thấy ở hầu hết trâu,
bò bệnh. Mắt có dử trắng hay vàng, chảy liên tục, nếu nặng thì mắt sưng đỏ
ngầu. Khi khỏi bệnh, mắt có màng trắng (củi nhãn) kéo che kín giác mạc.
- Hội chứng tiêu hoá: một số trâu, bò bệnh bị ỉa chảy nặng, phân
lỏng, màu vàng, sau chuyển màu xám, có lẫn bọt và chất nhầy. Các đợt ỉa
chảy tiếp theo những cơn sốt cách quãng. Ỉa chảy trong bệnh tiên mao trùng
thường dai dẳng và con vật vẫn ăn được.
- Gầy yếu, suy nhược: ở thể bệnh cấp tính trâu, bò gầy sút nhanh, chỉ
sau 7 – 14 ngày từ khi phát bệnh con vật đã gầy rộc, mắt trũng sâu. Nếu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status