ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN THÀNH LONG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH TIÊN MAO TRÙNG
(TRYPANOSOMIASIS) Ở ĐÀN TRÂU TẠI HUYỆN CHIÊM HÓA,
TỈNH TUYÊN QUANG VÀ THỬ NGHIỆM PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Thú y
Khoa : Chăn nuôi - Thú y
Khoá : 2010 - 2015
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thu Trang
Nguyễn Thành Long
LỜI NÓI ĐẦU
Để trở thành một bác sĩ thú y trong tương lai, ngoài việc phải trang bị
cho mình một lượng kiến thức về lý thuyết, mỗi sinh viên cần phải trải qua
giai đoạn thực tập thử thách về thực tế, tự mình trau dồi kỹ năng và đạo đức.
Chính vì vậy, thực tập tốt nghiệp là một khâu quan trọng đối với các trường
Đại học nói chung và Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng. Đây
là thời gian cần thiết để mỗi sinh viên củng cố và hệ thống lại các kiến thức đã
học trong nhà trường, đồng thời giúp sinh viên làm quen với thực tế sản xuất,
nâng cao tay nghề, tích lũy kinh nghiệm chuyên môn, áp dụng những kiến
thức đã học vào thực tiễn sản xuất, góp phần vào sự phát triển của nền nông
nghiệp nước nhà.
Xuất phát từ những lý do trên, được sự nhất trí của Ban Giám hiệu nhà
trường, Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên, sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận
của Trạm Thú y huyện Chiêm Hóa, em được về thực tập tốt nghiệp tại cơ sở
từ tháng 06 tới tháng 11/2014 thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ
bệnh tiên mao trùng (Trypanosomiasis) ở đàn trâu tại huyện Chiêm Hóa,
tỉnh Tuyên Quang và thử nghiệm phác đồ điều trị”.
Đến nay, thời gian thực tập đã kết thúc và khóa luận tốt nghiệp của em
đã hoàn thành. Do thời gian thực tập có hạn, kiến thức chuyên môn và kinh
nghiệm chưa nhiều nên kết quả báo cáo khóa luận này không tránh khỏi
những thiếu sót. Em kính mong nhận được sự giúp đỡ, thông cảm và những
góp ý quý báu của các thầy cô giáo, bạn bè để khóa luận của em được hoàn
thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
sinh trùng đơn bào (Protozoa) lớp trùng roi (Flagellata) gây ra. Trâu mắc
bệnh ở thể cấp tính thường sốt cao 40 – 41,7
0
C với các triệu chứng thần kinh
như ngã quỵ, kêu rống, đi vòng tròn….Trâu bệnh sẽ chết sau 7 – 15 ngày.
Theo số liệu của Phạm Sỹ Lăng (1982) [14], Phan Địch Lân (1994,
2004) [19], Phan Văn Chinh (2006) [4], bệnh tiên mao trùng xuất hiện ở
nhiều vùng trên cả nước, với tỷ lệ mắc khá cao: trên trâu là 13 – 30 %, trên
bò là 7 – 14%, trong đó tỷ lệ gia súc chết khi gia súc mắc bệnh từ 6,3 – 20%.
Khả năng phát sinh và phát triển bệnh tiên mao trùng phụ thuộc nhiều
vào điều kiện thời tiết, khí hậu, tập quán chăn nuôi và chế độ làm việc của
gia súc. Sự thay đổi các điều kiện trên sẽ ảnh hưởng đến khả năng gây bệnh
cũng như dịch tễ bệnh. Huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang có địa hình
đồi núi, khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều là điều kiện
thích hợp cho ruồi trâu, mòng (ký chủ trung gian truyền bệnh tiên mao
trùng) phát triển. Chúng hút máu truyền bệnh tiên mao trùng từ trâu bệnh
sang trâu khỏe làm bệnh phát tán nhanh chóng và có thể gây thiệt hại nặng
nề cho người chăn nuôi. Vì vậy, việc nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh và
thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh là hết sức cần thiết.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề
tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh tiên mao trùng (Trypanosomiasis)
ở đàn trâu tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang và thử nghiệm phác
đồ điều trị”.
2
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định các đặc điểm dịch tễ bệnh do Trypanosoma evansi gây ra
ở đàn trâu tại huyện Chiêm Hóa – tỉnh Tuyên Quang.
- Lựa chọn phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng có hiệu quả, phù hợp
với điều kiện chăn nuôi miền núi.
- Xây dựng quy trình phòng, trị bệnh, góp phần hạn chế những thiệt
Phân bộ Trypanosomatorida
Họ Trypanosomatidae Donein, 1901
Giống Trypanosoma Gruby, 1843
Giống phụ Megatrypanum Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (M) theileria
Giống phụ Herpetosoma Donein, 1901
Loài Trypanosoma (H) leisi
Giống phụ Schizotrypanum Chagas, 1909
Loài Trypanosoma (S) cruzi
Giống phụ Duttonella Chalmers, 1918
Loài Trypanosoma (D) vivax
Loài Trvpanosoma (D) uniform
Giống phụ Nalmomonas Hoare, 1964
4
Loài Trypanosoma (N) congolense
Loài Trypanosoma (N) siminae
Loài Trypanosoma (N) vanhogi
Giống phụ Trypanozoon Liihe, 1906
Loài Trypanosoma (T) brucei
Loài Trypanosoma (T) gambience
Loài Trypanosoma (T) rhodesiense
Loài Trypanosoma (T) equiperdum
Giống phụ Pycnomonas Hoare, 1964
Loài Trypanosoma (P) suis
Giống phụ Trypanosoma Gruby, 1843
Loài Trypanosoma evansi Steel,
1885
Trong các loài tiên mao trùng trên, có 7 loài được tổ chức dịch tễ quốc
tế (OIE) thông báo là có khả năng gây bệnh cho người và động vật có
vú, đó là: T. brucei, T. congolense, T. cruzi, T. evansi, T. gambiense, T.
Kháng nguyên của T. evansi gồm hai loại: kháng nguyên ổn định
(kháng nguyên không biến đổi) và kháng nguyên biến đổi
* Kháng nguyên ổn định (kháng nguyên không biến đổi)
Phần lớn các thành phần kháng nguyên tiên mao trùng không biến đổi
trong quá trình sống ký sinh. Bằng phương pháp điện di miễn dịch huyết
thanh thỏ tối miễn dịch với T. evansi, Kageruka (1982) đã phát hiện tới 30
thành phần kháng nguyên khác nhau. Có ba loại kháng nguyên không biến
đổi ở màng nguyên sinh chất tế bào (ISG: Invanant Surface Glycoprotein):
ISG 65, ISG 75 và ISG 100. Do cấu trúc không gian ba chiều và đặc tính ưa
6
nước, các loại này không kết hợp với kháng thể của vật chủ (Nolan, 1997).
* Kháng nguyên biến đổi
Về kháng nguyên biến đổi, cần đề cập đến sự biến đổi lớp vỏ bề mặt
VSG (Variant Surface Glycoprotein), những quan điểm mới về sự xuất
hiện kháng nguyên biến đổi của tiên mao trùng và cơ chế di truyền của
kháng nguyên biến đổi.
Nhờ kháng thể đặc hiệu được đánh dấu mà Vickerman và Luckins
(1969) đã phát hiện ra sự biến đổi của lớp kháng nguyên bề mặt. Cross
(1975) đã mô tả lớp áo bề mặt của tiên mao trùng có thành phần là
glycoprotein bao phủ toàn bộ bề mặt tế bào bằngmột lớp phân tử giống nhau
(mỗi tiên mao trùng có 107 phân tử). Lớp áo bề mặt này kích thích cơ thể
vật chủ tạo ra kháng thể đặc hiệu với từng type kháng nguyên biến đổi VAT
(Variable Antigen Type). Chỉ có kháng nguyên biến đổi mới có khả năng
kích thích vật chủ tạo miền dịch chủ động. Người ta ước lượng rằng, một
con tiên mao trùng có ít nhất vài trăm hoặc vài nghìn VSG, nghĩa là 5 - 10%
số gen của tiên mao trùng cung cấp cho kháng nguyên bề mặt này.
Nhiều tác giả nghiên cứu về miễn dịch học cho rằng, tiên mao trùng
biến đổi kháng nguyên bề mặt để né tránh miễn dịch đặc hiệu của vật chủ.
Tuy nhiên, Van Meirvenne (1975) cho biết, sự biến đổi kháng nguyên bề
mặt của ký sinh trùng đã có ngay ở pha đầu tiên của quá trình nhiễm (trước
thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên Nguyễn Thành Long
8
Bệnh tiên mao trùng phân bố rất rộng, từ phía Tây sang phía Đông
bán cầu. Phía Tây bán cầu thuộc châu Mỹ, phía Đông bán cầu trải dài từ
châu Phi cho đến Philippine.
Theo Euzeby (1984), bệnh phổ biến ở trâu, bò, ngựa các nước nhiệt
đới ở châu Phi,châu Á và Nam Mỹ.
Ở châu Phi, bệnh trải dài từ Tây sang Đông, phía Bắc qua vùng sa
mạc Sahara, dọc theo bờ biển Atlantique Địa trung hải.
Bệnh tiên mao trùng xảy ra với tên gọi "bệnh Surra” ở Ả rập Saudi,
Yêmen, Sultanate, Ả Rập thống nhất, Thổ Nhĩ Kỳ, Israel, Syrie, Afganistan,
Pakistan.
Ở châu Á, bệnh xuất hiện ở Trung Á (thuộc Liên Xô cũ), Ấn Độ,
Malaysia, bán đảo Đông Dương, Trung Quốc, Indonexia, Philippine.
Ở châu Âu, bệnh xuất hiện ở Bungaria (nay đã được thanh toán), hiện
chỉ còn ở vùng Volga và Nam Capcase (Liên Xô cũ).
Ở châu Mỹ, bệnh xuất hiện ở Trung Mỹ, Nam Mỹ, đặc biệt phổ biến ở
Brazil, Mexico, Venezuela, Colombia.
Châu Úc cũng đã được xác định là có bệnh tiên mao trùng (Reid, 2002
[44]; Losos G. J., 1972 [41]) cho rằng, bệnh tiên mao trùng phổ biến nhất ở
châu Á và châu Phi, từ Ấn Độ đến Srilanca, Trung Quốc, Indonexia, Thái
Lan, Lào, Camphuchia, Iran, Philippine.
Ở Việt Nam, bệnh tiên mao trùng thấy ở hầu hết các vùng sinh thái
khác nhau: miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển. Theo Phạm Sỹ Lăng
thấy ở những vùng sinh cảnh đặc biệt: loài Bdellolarynx sanguinolentus (chỉ
xuất hiện ở vùng có độ cao dưới 1.000mét), loài Stomoxys indica (chỉ thấy ở
vùng núi Cẩm Thuỷ - Thanh Hoá).
10
Loài ruồi Stomoxys calcitran là loài ruồi có kích thước trung
bình 5 đến 8mm. đầu có mắt kép màu nâu óng ánh, trán rất rộng, chiều rộng
trán bằng ¼ chiều rộng của đầu, chiều rộng của trán giữa gấp 3 lần của trán
cạnh. Con cái chính giữa trán có một dải màu nhạt. Lông trán cạnh có hai
hàng trở lên. Ruồi có một vòi hút dài, cứng để châm hút. Khi đậu nghỉ thì
vòi chĩa về phía trước, khi đốt thì vòi chĩa xuống dưới làm thành góc thẳng
với đầu. Cánh có hàng lông mọc ở gần gốc, phía dưới gân không vượt quá
gân ngang. Bụng: mặt lưng vàng xám, có hai đốm nâu đen hoặc xanh đen ở
hai bên đốt thứ hai, thứ ba. Mặt dưới bụng vàng hơi nâu. Hai khiên lưng của
đốt bụng thứ ba, thứ tư có một vết ngang rõ rệt. Chân có đốt ống vàng hoặc
vàng nâu. ( Phan Văn Chinh, 2006) [4].
Theo Phan Địch Lân (1983) [18] thì loài mòng Tabanus rubidus có
các đặc điểm sau:
Con cái:
Đặc điểm chung: Tabanus rubidus là loài mòng màu xám, xám hơi
xanh hoặc trắng nhạt. Kích thước lớn, thân dài 14 đến 24mm. Mắt kép màu
xám xanh hơi nâu có lấp lánh phản chiếu ánh sáng hoặc màu xanh đen hơi
vàng có ánh biếc. Trán màu nâu đỏ, lông vàng và lông đen. Chai trán gốc
hình đầu đạn, không tiếp xúc với mắt kép màu đen bóng, có màu cà phê nâu,
bóng. Chai trán giữa kéo dài từ chai trán gốc tới 1/2 hoặc 2/3 trán màu đen,
xung quanh chai trán giữa về phía đỉnh có lông đen. Chai trán phụ màu trắng
vàng hơi đỏ. Má màu trắng xám phơn phớt đỏ ở má trên, lông trắng xám.
Mặt màu trắng xám, lông trắng xám.
Râu hàm dưới, màu trắng vàng, lông trắng vàng có xen 1 ít lông đen.
Anten đốt thứ nhất và đốt thứ hai nâu đỏ mận, đốt thứ ba nâu đen. Ngực
xám, xám xanh hoặc phơn phớt hồng có ba sọc dọc không rõ, màu xám
thấy hai loài mòng T. rubidus và T. striatus mang tiên mao trùng với tỷ lệ
15,2% và 14,0%; ruồi hút máu Stomoxys calcitrans mang tiên mao trùng với
tỷ lệ 12,5%. Ở những vùng đang có bệnh tiên mao trùng, kiểm tra ruồi và
mòng hút máu dễ dàng tìm thấy tiên mao trùng. Sau khi theo máu vào vòi hút
ruồi và mòng, tiên mao trùng vẫn sống đến giờ thứ 53, thời gian hoạt động
mạnh nhất là từ giờ thứ nhất đến giờ thứ 34 trung bình là 24giờ. Sự hoạt động
của tiên mao trùng yếu dần từ giờ thứ 35 đến 42. Từ 46 - 53 giờ thì tiên mao
trùng ngừng hoạt động.
Hình thái tiên mao trùng khi ở trong vòi ruồi, mòng biến đổi theo thời
gian: từ 1 -34 giờ có hình thái, kích thước bình thường; 35 - 45 giờ: tiên mao
trùng có hình dạng thay đổi, tăng kích thước chiều rộng và thô dần; 46 - 53
giờ: tiên mao trùng trương to, duỗi thẳng, mất khả năng di động và ngừng
hẳn hoạt động.
Thực nghiệm đã chứng minh khả năng gây bệnh của tiên mao trùng
sau khi xâm nhập vào mòng Tabanus rubidus như sau: Thời gian từ giờ thứ
1 đến thứ 5, tiên mao trùng có khả năng gây bệnh và làm chết chuột bạch
tương tự như khi truyền thẳng máu có tiên mao trùng cho chuột; từ giờ thứ 6
đến thứ 7 chỉ còn 30% số chuột thí nghiệm phát bệnh, thời gian gây bệnh
kéo dài và thời gian chết của chuột cũng dài. Điều này có thể giải thích là do
độc lực của tiên mao trùng giảm dần và số lượng tiên mao trùng còn hoạt lực
gây bệnh cũng giảm dần sau khi chúng xâm nhập vào mòng Tabanus
rubidus.
2.1.2.3. Tuổi vật chủ, mùa mắc bệnh
Trâu, bò và các loài gia súc khác ở mọi lứa tuổi đều nhiễm tiên mao
trùng và đều phát bệnh, có thể dẫn đến tử vong hoặc suy nhược, thiếu máu,
giảm sức đề kháng, giảm khả năng sinh đẻ và sức sản xuất.
Phan Địch Lân (1994 - 2004) [19] đã tổng hợp kết quả điều tra 3.172
13
trâu ở các tỉnh đồng bằng: trâu dưới 3 năm tuổi nhiễm thấp nhất (3,2 - 6,l%),
trâu 3 - 5 tuổi nhiễm cao hơn (l0,6 - 12,7%), trâu 6 - 8 tuổi nhiễm cao
TT : Thể trọng
Nxb : Nhà xuất bản
T. evansi : Trypanosoma evansi
VGS : Vanant Glycoprotein Surface
ISG : Invanant Surface Glycoprotein
VAT : Variable Antigen Typet
LATEX : Latex Agglutination Test
IFAT : Indirect Fluorecent Antibody Test
ELISA : Enzym Linked Immunosorbent Assay
CATT : Card Agglutination Test for Trypanosomiasis 15
Hội chứng tiêu chảy thường xảy ra khi xuất hiện tiên mao trùng trong máu
con vật bệnh.
Khi tăng lên với số lượng lớn trong máu, tiên mao trùng còn làm tắc
các mao mạch, làm tăng tính thấm thành mạch, dần dần tạo ra các ổ thuỷ
thũng chất keo vàng dưới da.
2.1.3.2. Triệu chứng lâm sàng của bệnh tiên mao trùng ở trâu, bò, ngựa
* Ở trâu, bò:
Trâu, bò bị bệnh thể hiện các triệu chứng lâm sàng chủ yếu như sau:
- Sốt cao và gián đoạn: sau 14 - 30 ngày bị ruồi, mòng hút máu truyền
tiên mao trùng, trâu bò thường đột ngột lên cơn sốt (40 - 41,7
0
vẫn béo khoẻ, làm việc bình thường khi được chăm sóc nuôi dưỡng tốt.
Tình trạng thiếu máu thể hiện rõ trong bệnh do T. evansi gây ra. Theo
Silva Rams và cs (1995), Smith R. D. (1995), số lượng hồng cầu và hàm
lượng huyết sắc tố giảm, số lượng bạch cầu tăng, thành phần bạch cầu thay
đổi: bạch cầu lymphô, bạch cầu ái toan tăng nhưng bạch cầu trung tính giảm,
protein tổng số và Albumin giảm rõ rệt.
Phạm Sỹ Lăng (1986) [15] cho biết, khi protein tổng số và Albumin
giảm thì các thành phần α, β và γglobulin đều tăng, chỉ số A/G < 0,5.
Theo nhiều tác giả trong và ngoài nước, triệu chứng tương đối điển hình
của bệnh, đó là hiện tượng gia súc bị sảy thai có nhiều T. evansi. Ở Việt
Nam tác giả Bùi Quốc Huy (1998) [10] xác nhận một ổ dịch trâu Murrah (
Cúc Phương – Ninh Bình) sảy thai có tiên mao trùng trong máu. Theo
Nguyễn Đăng Khải (1995) [11] lần đầu tiên những ca sảy thai do tiên mao
trùng đã được chẩn đoán và ghi nhận trên đàn trâu Murrah nuôi tại trung tâm
Phùng Thượng. Tổng số có 28 con bị sảy thai chiếm 46,6% số trâu chưa đẻ.
Qua xét nghiệm toàn đàn 34/78 trâu dương tính với T. evansi sau khi đã loại
17
trừ Brucella và Leptospira. Tác giả còn cho biết, tháng 1/ 1991 tại huyện
Mường Khương bệnh tiên mao trùng đã làm chết 26 con trâu và sảy thai 60
con trâu.
* Ở ngựa
Sau khi ruồi, mòng hút máu và truyền T. evansi, ngựa phát bệnh sau 1
- 2 tuần. Triệu chứng rõ nhất là ngựa sốt 40 - 41
0
C, sốt gián đoạn, khi sốt có
tiên mao trùng ở máu ngoại vi. Khi bị bệnh nặng, ngựa thường sốt cao đột
ngột, các triệu chứng khác chưa kịp thể hiện thì con vật đã lăn lộn điên
cuồng rồi chết. Thể bệnh cấp tính diễn ra khoảng 1 - 3 tuần, thể mãn tính kéo
dài 2 - 4 tháng (tuy nhiên, thể mãn tính thường ít gặp).
Hiện tượng thuỷ thũng xuất hiện ở vùng thấp của cơ thể (ngực, bụng,
phương pháp sau:
- Phương pháp xem tươi (Direct smear)
Khi bệnh súc sốt, T. evansi thường xuất hiện trong mao quản ngoại vi;
vì vậy, nên lấy máu vùng ngoại vi để xem tươi. Cho 1 giọt máu nhỏ lên
phiến kính đã có sẵn 1 giọt Natri citrat 3,8%; dùng góc của la men khuấy
đều, đậy la men lên để máu dàn theo la men thành một lớp mỏng. Soi dưới
kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 10 và 10 x 20) để phát hiện tiên mao trùng
sống.
- Phương pháp nhuộm Giemsa tiêu bản máu khô (Romanovsky)
+ Phương pháp giọt dầy: Đặt 1 giọt máu to vào giữa phiến kính, dùng
một góc của đầu một phiến kính khác ria tròn giọt máu với đường kính
khoảng 1 - 1,25 cm. Để khô tự nhiên trong khoảng 1 giờ, rồi cố định bằng
cồn Methanol, nhuộm Giemsa [1 giọt Giemsa + 1 ml dung dịch PBS
(Phosphat Buffered Saline) pH = 7,2] trong 25 phút. Rửa tiêu bản dưới vòi
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Bệnh tiên mao trùng hay còn gọi là bệnh ngã nước, do Trypanosoma
(Trypanosomiasis) là bệnh truyền nhiễm lây giữa người và gia súc do ký
sinh trùng đơn bào (Protozoa) lớp trùng roi (Flagellata) gây ra. Trâu mắc
bệnh ở thể cấp tính thường sốt cao 40 – 41,7
0
C với các triệu chứng thần kinh
như ngã quỵ, kêu rống, đi vòng tròn….Trâu bệnh sẽ chết sau 7 – 15 ngày.
Theo số liệu của Phạm Sỹ Lăng (1982) [14], Phan Địch Lân (1994,
2004) [19], Phan Văn Chinh (2006) [4], bệnh tiên mao trùng xuất hiện ở
nhiều vùng trên cả nước, với tỷ lệ mắc khá cao: trên trâu là 13 – 30 %, trên
bò là 7 – 14%, trong đó tỷ lệ gia súc chết khi gia súc mắc bệnh từ 6,3 – 20%.
Khả năng phát sinh và phát triển bệnh tiên mao trùng phụ thuộc nhiều
học đặc hiệu.
* Các phương pháp phát hiện kháng thể kháng tiên mao trùng
Khi tiên mao trùng ký sinh, cơ thể vật chủ sinh ra kháng thể đặc hiệu
chống lại tiên mao trùng. Những phương pháp sau cho phép phát hiện kháng
thể kháng tiên mao trùng trong máu vật chủ:
+ Phương pháp ngưng kết trên phiến kính (SAT: Slice Agglutination
Test): hoà tan 1 giọt huyết thanh gia súc nghi mắc bệnh vào 1 giọt nước
muối sinh lý trên phiến kính, sau đó cho 1 giọt máu chuột bạch có nhiều tiên
mao trùng vào, trộn đều, đậy la men và soi dưới kính hiển vi (độ phóng đại
10 x 20 hoặc 10 x 40). Nếu thấy ngưng kết hình hoa cúc là (+) và ngược lại
là (-). Phương pháp này đơn giản, dễ làm và có thể áp dụng trên diện rộng.
21
+ Phương pháp LATEX (Latex Agglutination Test
LATEX là phương pháp được dùng để phát hiện kháng thể lưu động
có trong máu của gia súc mắc bệnh tiên mao trùng.
Nguyên lý của phương pháp LATEX: khi kháng nguyên bề mặt T.
evansi gắn lên các hạt latex kết hợp với kháng thể đặc hiệu kháng tiên mao
trùng ở trên bản nhựa, thì sẽ xảy ra phản ứng ngưng kết giữa kháng nguyên
với kháng thể. Hiện tượng ngưng kết có thể quan sát được bằng mắt thường,
và được giải thích là do kháng nguyên bề mặt tiên mao trùng được gắn lên
các hạt latex là loại kháng nguyên hữu hình, có nhiều điểm quyết định tính
kháng nguyên bề mặt (epitop surface). Còn kháng thể đặc hiệu kháng tiên
mao trùng lại có nhiều điểm thụ thể (receptor) tương ứng, đặc hiệu với các
điểm quyết định của kháng nguyên. Do đó, khi kháng nguyên tiên mao trùng
gặp kháng thể đặc hiệu kháng tiên mao trùng, sẽ có hiện tượng một phân tử
kháng thể đặc hiệu liên kết với nhiều phân tử kháng nguyên và ngược lại.
Kết quả là các hạt latex cùng với kháng nguyên chụm lại, tạo thành đám
ngưng kết có thể quan sát bằng mắt thường. Kháng nguyên dùng cho phản
ứng là kháng nguyên bề mặt được tinh chế từ chủng T. evansi không nhuộm
màu.