Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas meleagridis gây ra trên gà nuôi tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang và sử dụng thuốc điều trị - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HỒ THỊ AN

TÊN ĐỀ TÀI
:
“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH ĐẦU ĐEN DO
ĐƠN BÀO HISTOMONAS MELEAGRIDIS GÂY RA TRÊN
GÀ NUÔI TẠI HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG VÀ
SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Thú y
Khoa : Chăn nuôi thú y
Khóa học : 2009 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Phạm Diệu Thùy

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2013

54

LỜI CẢM ƠN


55
LỜI NÓI ĐẦU

Thực tập tốt nghiệp là một phần quan trọng trong chương trình đào tạo
của Nhà trường, là thời gian giúp sinh viên tiếp cận trực tiếp với thực tiễn
sản xuất, hệ thống lại kiến thức, củng cố tay nghề, học hỏi kinh nghiệm, nắm
vững phương pháp nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản
xuất. Đồng thời, tạo cho mình sự tự lập, tự tin vào bản thân, lòng yêu nghề,
có phong cách làm việc đúng đắn, có lối sống lành mạnh để trở thành người
cán bộ có chuyên môn và năng lực làm việc để đáp ứng nhu cầu của thực
tiễn sản xuất.
Được sự đông ý của Trạm thú y huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang và
Cô giáo hướng dẫn, em được về thực tập tại trạm thú y từ ngày 03/06/2013
đến ngày 18/11/2013 thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh
đầu đen do đơn bào Histomonas meleagridis gây ra trên gà nuôi tại huyện
Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang và sử dụng thuốc điều trị”.
Trong thời gian thực tập, được sự giúp đỡ tận tình của ban lãnh đạo
Trạm thú y huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang cùng tập thể cán bộ công nhân
viên, sự hướng dẫn tận tình của thầy, cô giáo cùng với sự cố gắng nỗ lực của
bản thân, em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Nhưng do thời gian có hạn, kinh nghiệm trong thực tiễn sản xuất còn
thiếu, kiến thức còn hạn hẹp nên khóa luận của em không tránh khỏi những
thiếu sót. Em rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến quý báu của thầy cô
giáo và các bạn để khóa luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013
Sinh viên
H. venrichi : Histomonas venrichi
KCTG : ký chủ trung gian
VSTY : vệ sinh thú y 58
MỤC LỤC

Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục tiêu của đề tài 2
1.3. Mục đích nghiên cứu 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1. Đặc điểm của đơn bào Histomonas meleagridis ký sinh ở gia cầm 4
2.1.1.1. Vị trí của đơn bào Histomonas meleagridis trong hệ thống động vật
nguyên sinh 4
2.1.1.2. Hình thái học loài Histomonas meleagridis 4
2.1.1.3. Vòng đời Histomonas meleagridis 6
2.1.2. Đặc điểm sinh học của giun tròn Heterakis gallinarum - Ký chủ trung gian
(KCTG) của H. meleagridis 9
2.1.2.1. Hình thái 9
2.1.2.2. Vòng đời 9
2.1.3. Vài nét về bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gà 10
2.1.3.1. Lịch sử bệnh 10
2.1.3.2. Dịch tễ học bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gia cầm 11
2.1.2.3. Cơ chế sinh bệnh 13
2.1.3.4. Triệu chứng và bệnh tích bệnh đầu đen trên gà 14

huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang 24
3.4.1.2. Bố trí thu thập gà để mổ khám và phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm
H. meleagridis ở gà nuôi tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang 25
3.4.1.3. Phương pháp nghiên cứu sự liên quan giữa bệnh đầu đen và bệnh giun
kim ở gà 28
3.4.2. Phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh đầu đen cho gà tại huyện
Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang 29
3.4.2.1. Xác định hiệu lực và độ an toàn của thuốc điều trị bệnh đầu đen
cho gà 29
3.4.2.2. Đề xuất biện pháp phòng bệnh đầu đen cho gà 30
3.5. Phương pháp xử lý số liệu 30

60
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31
4.1. Đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas meleagridis gây
ra ở gà tại huyện Lục Ngạn, Bắc Giang 31
4.1.1. Kết quả điều tra thực trạng phòng chống dịch bệnh cho gà tại huyện Lục
Ngạn, tỉnh Bắc Giang 31
4.1.2. Tình hình nhiễm H. meleagridis gây ra ở gà tại huyện Lục Ngạn 33
4.1.2.1. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà theo địa phương 33
4.1.2.2. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis theo tuổi gà 34
4.1.2.3. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis theo phương thức chăn nuôi gà 36
4.1.2.4. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis theo kiểu nền chuồng nuôi gà 37
4.1.2.5. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà theo tình trạng vệ sinh thú y ……38
4.1.3. Nghiên cứu sự liên quan giữa bệnh đầu đen và bệnh giun kim ở gà 39
4.1.3.1. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun kim ở gà mổ khám 39
4.1.3.2. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis trong số gà nhiễm giun kim 40
4.1.3.3. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis trong số gà không nhiễm giun kim 41
4.1.3.4. Sự ô nhiễm trứng giun kim ở nền chuồng, xung quanh chuồng và
vườn chăn thả gà 42

hiệu Việt Nam trong tương lai.
Cùng với việc tăng tổng số lượng đàn gia cầm, ngành chăn nuôi gia
cầm của huyện đang từng bước hiện đại hóa công nghệ chăn nuôi và chế biến
sản phẩm để sớm trở thành một trong những nghề có tốc độ phát triển nhanh
trong lĩnh vực nông nghiệp. Hiện nay với những tiến bộ khoa học kỹ thuật,
thức ăn gia súc, gia cầm, các nhà sản xuất đã tạo ra những loại thức ăn có chất
lượng ngày càng cao. Cùng với những thuận lợi có được hiện nay về các
giống gia cầm cao sản, tiêu tốn thức ăn thấp, đem lại hiệu quả kinh tế cao
trong ngành chăn nuôi. Tất cả những ưu thế trên sẽ là tiềm lực để ngành phát
triển mạnh mẽ trong tương lai, nhưng bên cạnh đó ngành chăn nuôi còn phải
đối mặt với rất nhiều khó khăn khác như: giá sản phẩm, đầu ra và đặc biệt là
dịch bệnh thường xuyên xảy ra. Trong đó dịch bệnh luôn là mối nguy hiểm
gây tổn thất lớn về kinh tế cho ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi
gà nói riêng.

2
Là một nước nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới, Việt Nam có thảm
thực vật và hệ động vật phong phú, đa dạng, thích hợp cho nhiều loài ký sinh
trùng phát triển, ký sinh và gây bệnh. Trong các bệnh ký sinh trùng ở gà, có
những bệnh do nhóm đơn bào ký sinh gây ra, chúng chiếm đoạt chất dinh
dưỡng, tiết độc tố, gây ra những biến đổi bệnh lý làm cho gà gầy yếu, chậm
lớn, giảm mạnh sức sản xuất thịt, trứng. Đặc biệt, một số bệnh đơn bào cũng
gây ra các “ổ dịch cấp tính”, làm cho gà chết nhanh với tỷ lệ cao không kém
các bệnh truyền nhiễm, trong đó có bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas
meleagridis gây ra ở gà. Bệnh thường xuất hiện không chỉ ở các trang trại
chăn nuôi tập trung với quy mô lớn mà còn diễn ra trong các nông hộ chăn
nuôi gia cầm nhỏ lẻ với mức độ nghiêm trọng gây tổn thất về kinh tế, môi
trường và gây hoang mang cho người chăn nuôi.
Để góp phần làm rõ hơn về căn bệnh này cũng như xác định các đặc
điểm dịch tễ của bệnh và tìm ra phương pháp điều trị bệnh hiệu quả, tiến tới


4
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Bệnh đầu đen (Histomonosis) là một bệnh của các loài gia cầm, đặc biệt
là gà và gà tây. Bệnh do một loại ký sinh trùng đơn bào có tên khoa học là
Histomonas meleagridis gây ra.
Bệnh do Histomonas meleagridis ký sinh ở gan, dạ dày và ruột thừa
(manh tràng) của gà gây hoại tử, xuất huyết niêm mạc manh tràng, rối loạn
chức năng gan và chết với tỷ lệ cao.

cầu hoặc hình trứng.Giai đoạn 2: Khi Histomonas meleagridis xâm nhập vào cơ thể gà và
chuyển sang giai đoạn xâm lấn tới các khu vực ngoại vi thì cơ thể của chúng
bắt đầu chuyển dần từ dạng hình cầu sang dạng hình gần tròn có kích thước
8 - 17µm. Các đơn bào Histomonas meleagridis bắt đầu mọc thêm các roi hút
ở đầu khi đó cơ thể của H.meliagridis chia làm hai phần đó là phần roi dài 6 -
11µm và phần nhân tế bào là một nhân có đường kính 1,7 - 2,2µm. Nhờ có roi
hút và nguồn dinh dưỡng dồi dào là máu gà nên số lượng Histomonas
meleagridis được nhân lên nhanh chóng.
Giai đoạn 3: Khi gà mắc bệnh ở giai đoạn cuối mất nhiều máu số lượng
hồng cầu giảm dẫn tới dinh dưỡng của H.meliagridis bị thiếu nghiêm trọng
làm chúng phải tìm các vị trí ký sinh mới như khu vực phần đầu. Tại đây
chúng gây chết các tế bào xung quanh khu vực hay chúng sẽ tìm vật chủ ký
sinh mới phù hợp có sẵn trong cơ thể gà là Giun kim (Heterakis gallirum)
đồng thời một số Histomonas meleagridis bị cơ thể bài tiết ra ngoài theo
phân. Vì vậy, để có thể thích hợp với những điều kiện mới này thì bắt buộc
các đơn bào Histomonas meleagridis phải trải qua hình thức suy thái mới đó
là chuyển từ dạng hoạt động sang dạng tồn tại tiềm ẩn hay cụ thể là từ dạng
hình gần tròn có roi sang dạng hình cầu, hình trứng.
Histomonas meleagridis có thể nuôi cấy nhân tạo ở môi trường, yếm khí.
Nghiên cứu về cấu tạo của đơn bào H. meleagridis, các nhà khoa học
đã cho biết, theo thứ tự từ ngoài vào trong đơn bào H. meleagridis cấu tạo
gồm 3 phần: màng, tế bào chất và nhân.
Màng đơn bào H. meleagridis là một màng đơn.
Tế bào chất H. meleagridis chứa ß-glycogen, ribosome và RNA (Lee
và cs, 1969), một số không bào và hạt nhân (Schuster, 1968). Nhân hình trứng
hoặc hình chữ U, bao gồm một nucleolus. Màng nhân là một màng kép
(Schuster, 1968; Lee và cs, 1969). Trong vùng lân cận của nhân là bộ máy

nhiễm bằng cách cho gà khỏe nuốt trực tiếp gan và huyễn dịch trong manh
tràng của gà bệnh nặng ở các thời gian đói khác nhau, phát hiện thấy những
gà khỏe nhiễm bệnh với tỷ lệ khác nhau. Tác giả đã giải thích sở dĩ gây
nhiễm bệnh cho gà khỏe qua đường tiêu hóa thu được tỷ lệ nhiễm thấp là do
H. meleagridis không phù hợp với môi trường pH thấp của đường tiêu hóa.

7
Mc Dougald L. R. (2003) [27] đã làm thí nghiệm gây nhiễm bệnh cho
gà 2 tuần tuổi. Ông tiến hành đưa vào lỗ huyệt mỗi gà đơn bào H. meleagridis
nuôi cấy với liều 200.000 H. meleagridis/con. Kết quả, tất cả gà gây nhiễm đã
chết ở ngày 10 - 18, tiến hành mổ khám gà chết thấy gan và manh tràng xuất
hiện tổn thương điển hình của histomonosis.

Một số tác giả cũng tiến hành gây nhiễm bệnh qua lỗ huyệt cho gà ở
các lứa tuổi khác nhau với các liều khác nhau, sau đó tiến hành theo dõi trong
10 - 15 ngày những gà gây nhiễm. Các tác giả cũng thu được những kết quả
nhất định.
Hu và cs (2004) [23] tiến hành gây nhiễm H. meleagridis qua lỗ huyệt
cho gà 2 tuần tuổi, liều 100 000 tế bào / con. Theo dõi trong 12 ngày thấy
không có gà nào bị chết, tiến hành mổ khám, thấy gan và manh tràng bị tổn
thương nặng.
Tỷ lệ tử vong bởi bệnh đầu đen ở gà lên đến 80% đã được báo cáo bởi
Landman và cs (2003) [24] sau khi tác giả gây nhiễm bệnh cho gà tây ở 15 ngày
tuổi với lượng 200.000 H. meleagridis / con.
Trong chăn nuôi bệnh lây lan chủ yếu do gà khỏe ăn phải thức ăn hoặc
nước uống phải nước có chứa Histomonas meleagridis. Đã có rất nhiều
nghiên cứu chứng minh được rằng người ta không thấy giun kim (Heterakis
gallinae), giun đất đóng vai trò như một vật trung gian môi giới truyền bệnh
trong một số trường hợp bệnh. Đặc biệt là trứng của giun này thải ra từ gà
bệnh có mang mầm bệnh nhưng trứng của gà bệnh lại không mang mầm

Sau đó, Tyzzer E. E. (1934) [34] đã xác định mối quan hệ giữa
Histomonas và Heterakis, chỉ trứng Heterakis có phôi mới có thể làm lây bệnh.
Gibbs B. J. (1962) đã tìm thấy H. meleagridis trong đường sinh dục và
trứng của Heterakis dưới kính hiển vi quang học. H. meleagridis đã được tìm
thấy trong tất cả các bộ phận ở sinh sản của Heterakid cái và giữa các tinh trùng
của giun đực.
Hàng loạt những nghiên cứu của Lund E. E. (1960) [26] đã chỉ ra rằng
trứng Heterakis có sức đề kháng tốt với môi trường, ở ngoài môi trường đất
có thể tồn tại nhiều năm, khi nở vẫn có thể gây ra Histomonosis. Đây là
nguyên nhân làm dịch bệnh đầu đen phát triển từ năm này sang năm khác.
Một số nhà nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng thuyết phục về hình
thái học của H. meleagridis trong đường sinh sản và trứng của Heterakis dưới

9
kính hiển vi quang học. Tác giả đã tìm thấy H. meleagridis ở cả giun Heterakis
đực và cái. Trong Heterakids đực, H. meleagridis ở trong lòng ruột, xâm nhập các
tế bào ruột, và trong ống sinh tinh của tinh hoàn, ống dẫn tinh và túi tinh, H.
meleagridis xác định trong tất cả các bộ phận ở đường sinh dục của Heterakis cái.
2.1.2. Đặc điểm sinh học của giun tròn Heterakis gallinarum - Ký chủ
trung gian (KCTG) của H. meleagridis
2.1.2.1. Hình thái
Phạm Văn Khuê - Phan Lục (1996) [2], hai loài Heterakids gallinae và
Heterakids beramporia thuộc họ Heterakiadae ký sinh ở manh tràng, có khi ở
ruột non ở gà, gà Tây, rất phổ biến ở loài chim và còn thấy ở các loài thủy cầm.
Giun màu vàng nhạt, đầu có 3 môi (1 môi ở lưng và 2 môi ở bụng), túi miệng
hình ống. Phần sau thực quản phình to thành hình cầu giống như củ hành, chiều
dài 0,27 - 0,33 mm, rộng 0,15 - 0,24 mm. Giun đực dài 5,841 - 11,145 mm, chỗ
rộng nhất 0,271 - 0,398 mm. Đuôi nhọn hình chiếc kim. Phía trước cách hậu
môn 0,148 - 0,156 mm có một giác hút hơi tròn, đường kính 0,07 - 0,082 mm.
Có gai chồi xếp thành từng đôi ở hai bên giác hút và ở vòng sau. Có hai gai

o
C trong vòng 6 - 7 ngày, ở nhiệt độ 20 -
27
o
C từ 10 - 15 ngày và 10 - 15
o
C là 72 ngày.
Ấu trùng lột xác trong trứng một lần, sau đó trứng chứa ấu trùng này
trở thành trứng có sức gây bệnh. Mùa đông trứng không phát triển, nhưng vẫn
duy trì khả năng sống. Đến mùa xuân, thời tiết ấm áp, trứng sống được qua
mùa đông lại phát triển thành trứng cảm nhiễm và có thể là nguồn lây bệnh.
Gà, gà tây mắc bệnh này là do ăn phải trứng giun kim có sức gây bệnh.
Sau 1 - 2 giờ xâm nhập vào đường tiêu hóa, ấu trùng chui ra khỏi trứng xuống
manh tràng. Ở manh tràng, ấu trùng vào thành ruột, sau 5 - 7 ngày sau chúng
lại trở lại xoang ruột. Thời gian phát triển của chúng đến giai đoạn trưởng
thành trong cơ thể từ 25 - 34 ngày, thời gian sống thì không quá 1 năm.
2.1.3. Vài nét về bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gà
Bệnh đầu đen là một bệnh ký sinh trùng nguy hiểm ở gà và gà tây do
một loại đơn bào ký sinh trùng đường máu là Histomonas meliagridis gây ra.
Bệnh có những bệnh tích đặc trưng: Viêm hoại tử tạo mủ ở ruột thừa (manh
tràng) và gan, thể trạng gà bệnh rất xấu, mào thâm tím, da vùng đầu và da mép
xanh xám thậm chí xanh đen khi chết do Histomonas meliagridis ký sinh gây
hoại tử tổ chức tế bào tại khu vực trên nên từ đây bệnh có tên là bệnh đầu đen,
(Black head).
2.1.3.1. Lịch sử bệnh
Histomonosis được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1893 ở Rhode
Island (Cushman 1894 [15]). Tuy nhiên, các báo cáo của Trạm thực nghiệm
nông nghiệp tại địa phương về tình hình dịch bệnh từ năm 1891, báo cáo đã

11

gà tây, chim cút, ngỗng, trĩ và gây bệnh đầu đen. Nhưng khi các loài trên mắc
bệnh thì ở gà và gà tây có xuất hiện các triệu chứng bệnh tích điển hình nhất.

12
Theo Lê Văn Năm (2010) [7], ở Việt Nam bệnh đã xuất hiện trên
đàn gà ri, gà mía, gà lương phượng, gà hồ nuôi thả vườn và đàn gà tây nuôi
tập trung.
Theo Phạm Sĩ Lăng và cs (2006) [4], gà, gà tây và gà sao thường bị
bệnh ở trên dưới 12 tuần tuổi, gà trưởng thành bị bệnh nhẹ hơn, đôi khi bên
ngoài không thấy rõ các triệu chứng đặc trưng, chỉ gầy yếu dần, ở gà mái thì
lượng trứng giảm rõ rệt, đây chính là nguồn tàng trữ và gieo rắt mầm bệnh
trong đàn gà.
* Tuổi mắc bệnh
Tuổi đã từng được cho là một yếu tố ảnh hưởng đến sức đề kháng của
gia cầm với H. meleagridis. Có ý kiến cho rằng gia cầm ở mọi lứa tuổi đều
mắc bệnh. Tuy nhiên, gia cầm non dễ nhiễm histomonosis hơn cả. Gia cầm
tuổi càng cao tỷ lệ nhiễm histomonosis càng giảm.
Kết quả gây nhiễm Histomonosis qua trực tràng cho gà ở các lứa tuổi
khác nhau của Hu J. và cs (2004) [23] một lần nữa chỉ ra được mối quan hệ
giữa tuổi gia cầm với khả năng nhiễm Histomonosis. Theo tác giả, gà tuổi
càng cao sức đề kháng với Histomonosis càng lớn, trong đó gà ở 3 - 4 tuần
tuổi tỷ lệ mắc bệnh cao nhất.
* Mùa vụ
Gà mắc bệnh ở tất cả các tháng trong năm nhưng nhiều nhất từ tháng 4
đến tháng 9 hàng năm.
* Điều kiện vệ sinh thú y
Điều kiện vệ sinh thú y đối với chuồng trại và khu vực xung quanh
chuồng trại, dụng cụ và môi trường chăn nuôi là một trong những yếu tố có
ảnh hưởng lớn tới khả năng nhiễm Histomonosis của gà. Điều này có liên
quan mật thiết với sự tồn tại và phát triển của giun kim - môi giới trung gian

chúng hoàn toàn không có trứng của giun kim (Jinghui Hu và L.R.McDougad).
2.1.2.3. Cơ chế sinh bệnh
Khi gà bị nhiễm bệnh qua miệng hoặc qua lỗ huyệt với, tác nhân gây
bệnh xâm nhập vào manh tràng và thâm nhập vào niêm mạc ruột. Tại đây,
bằng sinh sản trực phân, đơn bào H. meleagidis nhân lên rất nhanh. Số lượng
đơn bào lớn tác động vào niêm mạc manh tràng làm niêm mạc ruột dày dần
lên, sau đó dẫn đến hiện tượng viêm, loét, hoại tử. Màng nhày và dịch viêm
đọng lại trong lòng manh tràng hình thành những cục rắn màu trắng như
phomat (Dwyer D. M. và Honigsberg B. M. 1970 [17]). Từ manh tràng, H.
meleagidis xuyên qua niêm mạc, thâm nhập vào mạch máu dưới niêm mạc,
theo dòng máu xâm nhập vào gan. H. meleagridis ký sinh ở gan và gây hoại
tử gan. Những ổ hoại tử có màu vàng nhạt, ban đầu nhỏ, đường kính khoảng

14
0,5 cm, sau đó các ổ hoại tử mở rộng và sâu trên khắp gan (Dwyer D. M.
và Honigsberg B. M. 1970 [17]). Từ gan, ký sinh trùng đơn bào này sẽ lây
lan đi khắp cơ thể (Hess và cs 2006 [20]). Ngoài gan và manh tràng người
ta còn tìm thấy H. meleagridis trong dạ dày tuyến, tá tràng, ruột già, tuyến
tụy, túi Fabricius, thận, lá lách, tim, phổi, tuyến ức, não, tủy xương. Tuy
nhiên, H. meleagridis không gây tổn thương ở các cơ quan này.
2.1.3.4. Triệu chứng và bệnh tích bệnh đầu đen trên gà
* Triệu chứng
Thời kỳ ủ bệnh thường kéo dài từ 1 - 4 tuần và phụ thuộc rất nhiều vào
nhiễm trùng thứ phát.
Gia cầm khoảng 3 - 12 tuần tuổi tỷ lệ và cường độ nhiễm H. meleagridis
cao, có triệu chứng điển hình và tỷ lệ chết lên tới 70 - 90%. Biểu hiện lâm
sàng có thể quan sát thấy sau thời gian ủ bệnh từ 15 - 21 ngày. Gia cầm mắc
bệnh đột nhiên thấy sốt cao 43 - 44
o
C, đứng ủ rũ, hai mắt nhắm nghiền, ăn ít

bụng gây viêm dính xoang bụng với ruột. Ở bên trong trong thành ruột thừa
của những gà bị bệnh với mức độ nặng thì khi cắt ngang có những đám bã
đậu trắng khô, xơ và thoái hóa dần giống như kén nên bệnh có tên gọi là bệnh
kén ruột.
- Bệnh tích ở gan
Tổn thương gan thường bắt đầu vào ngày thứ 10. Gan sưng to gấp 2 - 3
lần, viêm xuất huyết, hoại tử. Lúc đầu trên bề mặt gan có các đốm đỏ thẫm
làm cho gan lỗ chỗ như đá hoa cương, sau đó biến thành ổ hoại tử màu trắng
hình hoa cúc như ổ lao hoặc như khối u của bệnh marek.
Khi dùng dao cắt ngang một đường trên bề mặt gan bị hoại tử thì tại vị
trí vết cắt không mịn và khép kín được nữa
- Bệnh tích ở các cơ quan khác
Các tổn thương ở các cơ quan khác như túi fabricius, phổi, lá lách,
tuyến tụy, thận, dạ dày tuyến và màng treo ruột đôi khi có thể xảy ra dưới
dạng các ổ hoại tử tròn, màu trắng hoặc màu vàng (Shivaprasad H. L. và cs
2002 [30]).

2.1.3.5. Chẩn đoán bệnh
* Với gà còn sống
- Chẩn đoán lâm sàng: Hiện nay, ở các cơ sở chăn nuôi, việc chẩn đoán
đối với gà còn sống chủ yếu dựa vào các triệu chứng của bệnh (xù lông, đứng
nhắm mắt, ăn ít, lười vận động, thường đứng dấu đầu dưới cánh, da vùng đầu
xạm màu, đi ỉa phân màu vàng lưu huỳnh…). Trong đó, triệu chứng điển
hình nhất là gà đi ỉa phân màu vàng lưu huỳnh, da vùng đầu xanh xám, thậm
chí xanh đen.

16
- Chẩn đoán xét nghiệm: Lấy phân màu lưu huỳnh của gà ốm, làm xét
nghiệm, nếu quan sát dưới kính hiển vi tìm thấy trứng của giun kim sẽ giúp
cho việc chẩn đoán dễ dàng hơn.

17
* Chẩn đoán phân biệt với một số bệnh khác
Theo Lê Văn Năm (2006) [6] để chẩn đoán được chính xác bệnh đầu
đen thì cần phân biệt với các bệnh sau:
- Chẩn đoán phân biệt với gà bị Newcastle.
+ Triệu chứng: Gà ủ rũ, sã cánh, tiêu chảy phân loãng xanh trắng và gà
co giật.
+ Bệnh tích: Xuất huyết hình đinh ghim ở dạ dày tuyến.
- Chẩn đoán phân biệt với bệnh Gumboro:
+ Triệu chứng: Gà bị Gumboro luôn ở trong tình trạng sốt cao 43 - 44
0
C,
mất nước hay ngoẹo đầu, quay mỏ gãi hoặc mổ vào phao câu, hậu môn của
chính mình. Gà ỉa chảy nặng, phân trắng hoặc toàn nước. Nếu dùng kháng
sinh điều trị thì gà sẽ bị chết nhanh hơn.
+ Bệnh tích: Túi Fabricius biến đổi về màu sắc, kích thước, hình dạng
và độ dai bền. Xuất huyết cơ đùi, cơ ngực và dưới da, xuất huyết toàn bề mặt
khu vực tiếp giáp giữa dạ dày cơ và dạ dày tuyến.
- Chẩn đoán phân biệt với hội chứng hen khẹc ở gà (CCRD).
+ Triệu chứng: Gà bệnh ủ rũ, uống nhiều nước, đứng một mình rụt cổ
hay lắc đầu vảy mỏ, thở khò khè, nếu bệnh nặng gà phát ra tiếng kêu lạo sạo
khoẹt khoẹt.
+ Bệnh tích: Màng nhày bao phủ ở thanh khí quản, viêm túi khí xuất
hiện các thể Fibrin dạng hạt kích thước từ 0,5 - 2 cm màu vàng nằm xen lẫn
trong các túi khí.
- Chẩn đoán phân biệt với bệnh Marek.
+ Triệu chứng: Gà ủ rũ xù lông, giảm ăn, gầy và sút cân rất nhanh, xuất
hiện triệu chứng bại liệt.
+ Bệnh tích: Mắt gà bên trong có các hạt thừa nhỏ li ti, xuất hiện khối u
ở các cơ. Gan sưng to hoại tử, dạ dày tuyến sưng to gấp 2 -3 lần.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status