ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRƯƠNG THỊ XUÂN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH ĐẦU ĐEN
DO ĐƠN BÀO HISTOMONAS MELEAGRIDIS
GÂY RA Ở GÀ TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Thú y
Mã số: 62 64 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. Nguyễn Thị Kim Lan
Thái Nguyên, năm 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chúng tôi. Các kết quả
nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng để bảo vệ
một học vị nào. Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn.
Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Trương Thị Xuân
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt 2 năm học tập, cùng với sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể, đến nay luận văn của
tôi đã hoàn thành. Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn và cảm ơn
trân trọng tới cô giáo GS. TS. Nguyễn Thị Kim Lan và NCS.Ths. Trương Thị Tính
đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ to lớn về cơ sở vật chất của Khoa Chăn
nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và Khoa Nông Lâm - Trường
Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật Thái Nguyên.
1.1.2. Bệnh đầu đen ở gà (Histomonosis) 10
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 20
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 20
1.2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 22
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 33
2.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 33
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 33
2.1.2. Vật liệu nghiên cứu 33
2.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu 33
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu 33
2.2.2. Thời gian nghiên cứu 34
2.3. Nội dung nghiên cứu 34
2.3.1. Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen ở gà tại Thái Nguyên 34
2.3.2. Nghiên cứu bệnh đầu đen do H. meleagridis gây ra ở gà 34
iv
2.3.3. Nghiên cứu phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho gà 34
2.4. Phương pháp nghiên cứu 34
2.4.1. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen do H.
meleagridis gây ra ở gà nuôi tại Thái Nguyên 34
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu bệnh đầu đen do đơn bào H. meleagridis gây ra ở
gà 39
2.4.3. Phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh đầu đen cho gà 39
2.5. Phương pháp xử lý số liệu 41
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
3.1. Đặc điểm dịch tễ bệnh do đơn bào H. meleagridis gây ra ở gà tại Thái Nguyên 42
3.1.1. Kết quả điều tra thực trạng phòng chống bệnh ký sinh trùng nói chung
cho gà ở tỉnh Thái Nguyên 42
3.1.2. Tình hình nhiễm H. meleagridis ở gà tại tỉnh Thái Nguyên 43
3.1.3. Nghiên cứu sự liên quan giữa bệnh đầu đen và bệnh giun kim ở gà 53
Nxb
:
Nhà xuất bản
pp.
:
Plural page
spp.
:
species pluralis
tr.
:
Trang
μm
:
Micromet
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Thực trạng phòng chống bệnh ký sinh trùng cho gà ở tỉnh Thái Nguyên 42
Bảng 3.2: Tỷ lệ nhiễm đơn bào H. meleagridis ở gà theo địa phương 44
Bảng 3.3. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà theo lứa tuổi 46
Bảng 3.4. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà theo phương thức chăn nuôi 49
Bảng 3.5. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà theo tình trạng vệ sinh thú y 51
Bảng 3.6. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun kim ở gà mổ khám 53
Bảng 3.7. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis trong số gà nhiễm giun kim 56
Bảng 3.8. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis trong số gà không nhiễm giun kim 58
Bảng 3.9. Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen 59
Bảng 3.10. Bệnh tích đại thể của gà bị bệnh đầu đen ở Thái Nguyên 60
Bảng 3.11. Bệnh tích vi thể của gà mắc bệnh đầu đen 62
Bảng 3.12. Thử nghiệm của thuốc trị bệnh đầu đen cho gà trên diện hẹp 63
Bảng 3.13. Thử nghiệm của thuốc trị bệnh đầu đen cho gà trên diện rộng 65
tế trong chăn nuôi.
Bệnh đầu đen là một bệnh ký sinh trùng nguy hiểm ở gà và gà tây do đơn bào
Histomonas meleagridis gây ra. Bệnh gây ra những biểu hiện bất thường ở da vùng đầu,
ban đầu có màu xanh tím, sau đó nhanh chóng trở lên thâm đen nên có tên là bệnh đầu
đen. Bệnh có những bệnh tích đặc trưng như: viêm hoại tử tạo mủ ở ruột thừa và gan, thể
trạng xấu, da vùng đầu và mào tích thâm đen. Gà bệnh chết rải rác và thường chết về ban
đêm, mức độ chết không ồ ạt nhưng hiện tượng chết kéo dài, gây cho người chăn nuôi
cảm giác bệnh không nguy hiểm lắm, thực chất cuối cùng gà chết đến 85 - 95 %.
2
Mặc dù vậy, ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu nào về bệnh đầu đen ở
gà, vì vậy cũng chưa có quy trình phòng chống bệnh cho gà hiệu quả.
Thái Nguyên là một trong những tỉnh chăn nuôi nhiều gà, đặc biệt là gà thả vườn.
Trong 3 năm gần đây ở nhiều địa phương của tỉnh Thái Nguyên đã liên tục xuất hiện
bệnh đầu đen trên đàn gà, bệnh có tỷ lệ chết cao gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi.
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của việc khống chế dịch bệnh nhằm nâng cao
năng xuất chăn nuôi gà, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ
và biện pháp phòng trị bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas meleagridis gây ra
ở gà tại tỉnh Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas
meleagridis ở gà nuôi tại tỉnh Thái Nguyên
- Nghiên cứu đặc điểm bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas meleagridis gây ra ở gà.
- Nghiên cứu biện pháp phòng trị và đềxuất quy trình phòng trị bệnh đầu đen cho gà.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ, về bệnh học và
quy trình phòng chống bệnh đầu đen cho gà, có một số đóng góp mới cho khoa học.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng
quy trình phòng, trị bệnh đầu đen cho gà nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại do
Ngành: Parabasalia
Lớp: Tritrichomonadea
Bộ: Tritrichomonadida
Họ: Dientamoebidae
Giống: Histomonas
Loài: Histomonas meleagridis
4
1.1.1.2. Hình thái học loài Histomonas meleagridis
Histomonas meleagridis là một loài đơn bào đa hình thái; hình thái của chúng
biến đổi tùy thuộc vào các giai đoạn phát triển và chủ yếu chúng tồn tại ở hai dạng
chính là dạng hình cầu, hình trứng hay dạng gần tròn; bên trong có nhân dạng gần
giống như những bọc nước; có từ 1 - 4 roi, kích thước biến đổi từ 5 - 20 µm, (Phạm
Sĩ Lăng và Tô Long Thành, 2006 [6]).
Cụ thể hình dạng của Histomonas meleagridis biến đổi theo các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Khi Histomonas meleagridis tồn tại ở dạng tiềm tàng, ít hoạt
động, trong trứng của giun kim (Heterakis gallinarum) Histomonas meleagridis có
hình cầu hoặc hình trứng.
Giai đoạn 2: Khi Histomonas meleagridis xâm nhập vào cơ thể gà và chuyển
sang giai đoạn xâm lấn tới các khu vực ngoại vi thì chúng bắt đầu chuyển dần từ
dạng hình cầu sang dạng hình gần tròn, có kích thước 8 – 17 µm. Các đơn bào
Histomonas meleagridis bắt đầu mọc thêm các roi hút ở đầu khi đó cơ thể của
H.meliagridis chia làm hai phần: phần roi dài 6 – 11 µm và phần nhân tế bào gồm
một nhân có đường kính 1,7 - 2,2 µm. Nhờ có roi hút và nguồn dinh dưỡng dồi dào
là máu gà nên số lượng Histomonas meleagridis được nhân lên nhanh chóng.
Giai đoạn 3: Ở giai đoạn cuối, gà mắc bệnh mất nhiều máu nên số lượng hồng
cầu giảm nghiêm trọng dẫn tới dinh dưỡng của đơn bào H. meliagridis bị thiếu,
chúng phải tìm các vị trí ký sinh mới như khu vực phần đầu. Tại đây, chúng gây
chết các tế bào xung quanh hoặc chúng sẽ tìm đến vật chủ ký sinh mới phù hợp có
sẵn trong cơ thể gà là giun kim (Heterakis gallirum), đồng thời một số Histomonas
meleagridis bị đào thải ra ngoài theo phân gà. Vì vậy, để thích nghi với những điều
vào lỗ huyệt mỗi gà đơn bào Histomonas meleagridis nuôi cấy với liều 200.000 H.
meleagridis/con. Kết quả thấy, tất cả số gà gây nhiễm đều chết ở ngày 10 – 18 sau
gây nhiễm. Mổ khám gà chết thấy gan và manh tràng xuất hiện những tổn thương
điển hình của Histomonosis.
6
Theo Hess M. và cs. (2006) [34], bệnh đầu đen xảy ra dễ dàng khi lỗ huyệt của
gà khỏe tiếp xúc với mầm bệnh. Ngay sau khi tiếp xúc, đơn bào H. meleagridis sẽ
di chuyển ngược theo nhu động ruột vào ký sinh ở manh tràng. Với đường truyền
lây này, Histomonosis sẽ lây lan nhanh chóng từ gà khỏe sang gà bệnh.
Như vậy, gà có thể nhiễm bệnh đầu đen khi tiếp xúc với mầm bệnh qua đường
miệng và qua lỗ huyệt. Do ảnh hưởng của độ pH trong dạ dày gà là axit nên tỷ lệ
nhiễm bệnh không cao khi gây nhiễm qua đường miệng. Bệnh đầu đen có thể xảy ra
bất cứ khi nào lỗ huyệt của gà khỏe tiếp xúc với phân tươi mang mầm bệnh. Ngay
sau khi tiếp xúc với phân tươi của gà bệnh, Histomonas meleagridis sẽ di chuyển
ngược theo nhu động ruột vào ký sinh ở manh tràng và gan.
* Bệnh truyền gián tiếp qua giun kim
+ Giun kim và bệnh do giun kim gây ra ở gà
- Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun kim (Heterakis spp.)
Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (1999) [3] cho biết: Bệnh do Heterakis spp.
thường do hai loài H. gallinae và H. beramporia ký sinh ở manh tràng, có khi ở ruột
non của gà, gà tây.
Giun màu vàng nhạt, đầu có 3 môi (1 môi ở lưng và 2 môi ở bụng), túi miệng
hình ống. Phần sau thực quản phình to thành hình cầu giống hình củ hành, chiều dài
0,27 - 0,33 mm, rộng 0,15 - 0,24 mm.
- Heterakis gallinae:
Giun đực: dài 5,841 - 11,145 mm, chỗ rộng nhất 0,271 - 0,398 mm. Đuôi nhọn
hình chiếc kim. Phía trước cách hậu môn 0,148 - 0,156 mm có một giác hút hơi tròn,
đường kính 0,07 - 0,082 mm. Có gai chồi xếp thành từng đôi ở hai bên giác hút. Có 2
gai giao hợp, gai phải dài gấp 3 lần gai trái; phía cuối gai phải rất nhọn, dài khoảng 2
mm; gai trái to, dài 0,65 - 0,7 mm. Lỗ bài tiết ở gần đầu về mặt bụng, cách đầu
C
trong vòng 6 - 7 ngày, ở nhiệt độ 20 - 27
o
C trong 10 - 15 ngày và 10 - 15
o
C là 72
ngày. Ấu trùng lột xác trong trứng một lần, sau đó trứng chứa ấu phát triển thành
trứng có sức gây bệnh. Mùa đông trứng không phát triển nhưng vẫn duy trì khả
năng sống. Đến mùa xuân, thời tiết ấm áp, những trứng sống được qua mùa đông lại
phát triển thành trứng cảm nhiễm và có thể là nguồn gây bệnh. Gà, gà tây mắc bệnh
8
là do ăn phải trứng H. gallinarum có sức gây bệnh. Sau 1 - 2 giờ xâm nhập vào
đường tiêu hoá, ấu trùng chui ra khỏi trứng xuống manh tràng. Ở manh tràng, ấu
trùng chui vào thành ruột, sau 5 - 7 ngày chúng lại trở lại xoang ruột. Thời gian phát
triển của chúng đến giai đoạn trưởng thành trong cơ thể là 25 - 34 ngày, thời gian
sống của giun không quá 1 năm.
Phan Lục và cs. (2006) [8] cho biết, thời gian trứng phát triển đến giai đoạn gây
nhiễm có thể kéo dài khoảng 1 tuần (mùa hè), mùa đông nhiệt độ thấp nên mất
khoảng 2 - 4 tuần. Bệnh phát triển và lây lan mạnh chủ yếu là do gà ăn phải trứng
giun có sức gây bệnh. Gà mắc bệnh khoảng 1 tháng sau khi nuốt phải mầm bệnh.
- Bệnh giun kim (Heterakiosis)
Phạm Sỹ Lăng và cs. (2001) [5] cho biết: Giun kim Heterakis gallinarum ở cả
hai dạng trưởng thành và ấu trùng có tác hại rất lớn đối với vật chủ. Giun kim ký
sinh ở manh tràng, gây tụ huyết, xuất huyết, chiếm đoạt chất dinh dưỡng, tiết độc tố
đầu độc vật chủ làm cho vật chủ gầy yếu, còi cọc, chậm lớn và giảm sức đề kháng.
Trong quá trình ký sinh, giun bám vào niêm mạc ruột làm cho niêm mạc ruột bị tổn
thương, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh, từ đó gà dễ bị nhiễm
trùng và mắc một số bệnh kế phát. Ngoài ra, trứng giun kim chứa đơn bào
Histomonas meleagridis khi vào cơ thể còn gây bệnh đầu đen, làm cho gan và manh
tràng bị viêm, hoại tử. Ở những gà bị chết, bệnh tích thường thấy là xác gà gầy,
giải phóng và gây bệnh.
1.1.1.4. Vòng đời của Histomonas meleagridis
Lê Văn Năm (2010) [9] đã tóm tắt vòng đời phát triển của đơn bào
Histomonas meleagridis như sau:
Trong mô tổ chức của ký chủ (gà ta và gà tây), Histomonas meleagridis sinh sản
theo phương thức tự phân đôi và sinh sản mạnh nhất ở giai đoạn thể lưới (Incistio) hay
thể hợp bào. Khi theo phân ra khỏi ký chủ, ở thể hình roi và thể amip chúng chỉ sống
được trong vòng 24 giờ, trong khi đó ở thể lưới chúng có thể tồn tại hàng năm trong
các trứng của giun kim Heterakis gallinarum. Do đó gà bị nhiễm bệnh khi ăn thức ăn,
nước uống bị nhiễm trứng giun kim Heterakis gallinarum có chứa thể hợp bào
Histomonas meleagridis.
10
Tại khu vực nuôi gà mắc bệnh, giun đất trở thành vật chủ chứa trứng giun kim
Heterakis gallinarum. Do đó, trứng Heterakis gallinarum và đơn bào Histomonas
meleagridis sẽ tồn tại khá lâu ngoài ngoại cảnh.
Khi gà và gà tây ăn giun đất, trứng Heterakis gallinarum vào đường tiêu hóa,
làm cho gà và gà tây vừa bị bệnh giun kim, vừa bị bệnh đầu đen.
Ở những vùng có kiểu khí hậu và loại đất phù hợp cho sự phát triển của giun
kim và giun đất, cần định kỳ kiểm soát bệnh do đơn bào Histomonas meleagridis
gây ra ở gà.
Vòng đời của Histomonas meleagridis gây bệnh trên gà
1.1.2. Bệnh đầu đen ở gà (Histomonosis)
1.1.2.1. Lịch sử bệnh
Kể từ khi bệnh đầu đen xuất hiện ở Rhode Island vào năm 1893, các nhà khoa
học đã tập trung nghiên cứu về bệnh. Người ta nhận thấy rằng, dấu hiệu biến đổi da
vùng đầu không phải là dấu hiệu đặc trưng cho bệnh, vì nó có thể quan sát thấy
trong một số bệnh khác của gà tây. Theo Smith (1895) [59], khi gà tây mắc bệnh thì
gan và manh tràng bị tổn thương nặng nề nhất. Tác giả đã lấy bệnh phẩm gan và
11
manh tràng để nghiên cứu và xác định được nguyên nhân gây bệnh là một sinh vật
tuần tuổi. Dấu hiệu lâm sàng bao gồm: ăn ít hoặc bỏ ăn, ủ rũ, tiêu chảy, giảm cân, tỷ
lệ tử vong tăng khi gà ở 3 - 13 tuần tuổi. Gà tây mắc bệnh ở 7 tuần tuổi, tỷ lệ tử
vong 24 - 68 %. Mổ khám thấy gan phì đại, trên bề mặt gan xuất hiện các nốt trắng
nhạt khác nhau, kích thước 0,3 - 1,5 cm. Thành manh tràng dày lên, niêm mạc bị lở
loét, túi Fabricius sưng to và có tiết dịch màu vàng nhạt. Thận, tuyến tụy, lá lách
sưng. Quan sát dưới kính hiển vi thấy có nhiều ổ hoại tử trong gan, manh tràng,
phúc mạc, túi Fabricius, thận, phổi, tuyến tụy (Van der Heijden H., 2009 [63]).
Tại Đức, trong khoảng thời gian từ 2004 đến 2008, có ít nhất 35 vụ dịch
Histomonosis xảy ra ở gà tây, gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người chăn nuôi. Tác
giả đã mô tả sự tiếp diễn liên tục qua các năm của bệnh đầu đen tại một trang trại
chăn nuôi gà tây ở Đức.
Ở Việt Nam, Lê Văn Năm (2010) [9] cho biết: bệnh bùng phát mạnh vào các
tháng nóng ẩm: cuối xuân, hè, hè thu. Trong khi đó ở gà lớn tuổi (gà già, gà đẻ)
bệnh thường xảy ra vào cuối thu và mùa đông. Bệnh gây thiệt hại lớn về kinh tế cho
người chăn nuôi, làm ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội của đại bộ phận không
nhỏ người dân nước ta. Tác giả cũng cho rằng, các trang trại chăn nuôi gà thịt đang
bị ô nhiễm nặng giun kim mà giun kim là ký chủ trung gian truyền bệnh đầu đen
cho gà tây và gà thả vườn nuôi tập trung.
1.1.2.3. Dịch tễ học bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gia cầm
* Động vật mắc bệnh
Trong tự nhiên, gà tây, gà, chim trĩ, chim công, chim cút, gà lôi, đà điểu, vịt, đều
có thể bị bệnh. Trong đó gà tây mẫn cảm hơn cả (Lotfi A.R., 2012 [44]).
Gregory V., Lamann (2010) [26] cho biết, tất cả các giống gà đều dễ bị nhiễm đơn
bào Histomonas meleagridis. Gà bị bệnh gan tổn thương ít nên tỷ lệ chết thấp hơn
gà tây.
* Tuổi mắc bệnh
Theo Lori Ann Lollis (2010) [43], tuổi đã từng được cho là một yếu tố ảnh
hưởng đến sức đề kháng của gia cầm với H. meleagridis. Có ý kiến cho rằng, gia
13
cầm ở mọi lứa tuổi đều mắc bệnh. Tuy nhiên, gia cầm non dễ nhiễm Histomonosis
vệ sinh, phân và rác không dọn thường xuyên là những nguy cơ gây tái phát
histomonosis ở gia cầm.
2.1.2.4. Cơ chế sinh bệnh
Việc truyền đơn bào H. meleagridis tới gà và gà tây có thể xảy ra riêng lẻ hoặc
đồng thời theo các đường sau:
Thứ nhất, gà và gà tây ăn phân tươi có chứa Histomonas hoặc lỗ huyệt tiếp
xúc với phân tươi chứa Histomonas. Con đường này không quan trọng ngoại trừ
trường hợp gà khỏe mạnh và gà mắc bệnh được nuôi chung cùng đàn.
Thứ hai, gà có thể nuốt phải trứng Heterakis gallinarum có phôi và có chứa
Histomonas. Vào trong đường tiêu hóa của gà, các đơn bào Histomonas và ấu trứng
giun kim sẽ giải phóng khỏi vỏ trứng.
Thứ ba, gà có thể ăn phải những con giun đất chứa trứng giun kim đã mang
đơn bào Histomonas.
Khi vào trong cơ thể gà, đơn bào xâm nhập vào manh tràng rồi vào niêm mạc
manh tràng. Tại đây, đơn bào H. meleagidis nhân lên rất nhanh bằng sinh sản trực
phân. Số lượng lớn đơn bào tác động vào niêm mạc manh tràng làm cho niêm mạc
dày dần lên, sau đó dẫn đến hiện tượng viêm, loét và hoại tử. Màng nhày và dịch
viêm đọng lại trong lòng manh tràng hình thành những cục rắn màu trắng như
phomat. Từ manh tràng, H. meleagidis xuyên qua niêm mạc, thâm nhập vào mạch
máu dưới niêm mạc, theo dòng máu xâm nhập vào gan. H. meleagridis ký sinh ở
gan và gây hoại tử gan. Những ổ hoại tử có màu vàng nhạt, ban đầu nhỏ, đường
kính khoảng 0,5 cm, sau đó các ổ hoại tử mở rộng và sâu trên khắp bề mặt gan. Từ
gan, đơn bào này sẽ lan đi khắp cơ thể. Do đó, ngoài gan và manh tràng, người ta
còn tìm thấy H. meleagridis trong dạ dày tuyến, tá tràng, ruột già, tuyến tụy, túi
Fabricius, thận, lá lách, tim, phổi, tuyến ức, não, tủy xương. Tuy nhiên, H.
meleagridis không gây tổn thương ở các cơ quan này.
1.1.2.5. Triệu chứng và bệnh tích bệnh đầu đen ở gà
* Triệu chứng
Gia cầm khoảng 3 - 12 tuần tuổi tỷ lệ và cường độ nhiễm Histomonas
meleagridis cao, có triệu chứng điển hình và tỷ lệ chết lên tới 70 - 90%.
làm long manh tràng hẹp lại (Lê Văn Năm 2010 [9]).
16
- Biến đổi ở gan
Theo Lê Văn Năm (2010) [9]: Gan sưng to gấp đôi bình thường, mềm nhũn
và có nhiều ổ viêm, xuất huyết, hoại tử trên bề mặt gan làm cho lá gan lúc đầu có
màu lổ đổ hình hoa cúc. Về sau các ổ hoại tử có màu trắng xám vàng hoặc trắng
xám đỏ, lõm ở giữa. Ổ hoại tử có hình tròn, đường kính 1 - 2 cm, rìa mép có hình
răng cưa. Khi cắt đôi ổ hoại tử thấy chúng có hình nón, chứa đầy chất chứa đặc
quánh. Nếu phết kính và soi dưới kính hiển vi sẽ thấy các tế bào bạch cầu, đại thực
bào và đơn bào Histomonas còn sống.
1.1.2.6. Chẩn đoán
* Với gà còn sống
Chẩn đoán lâm sàng: Hiện nay, ở các cơ sở chăn nuôi, việc chẩn đoán đối với gà
còn sống chủ yếu dựa vào các triệu chứng của bệnh (xù lông, đứng nhắm mắt, ăn ít,
lười vận động, thường đứng dấu đầu dưới cánh, da vùng đầu sạm màu, đi ỉa phân màu
vàng lưu huỳnh…). Trong đó, triệu chứng điển hình nhất là gà đi ỉa phân màu vàng lưu
huỳnh, da vùng đầu xanh xám, thậm chí xanh đen (Mc Dougald, 2008 [50]).
Chẩn đoán xét nghiệm: Lấy phân màu lưu huỳnh của gà ốm, làm xét nghiệm,
nếu quan sát dưới kính hiển vi tìm thấy trứng của giun kim sẽ giúp cho việc chẩn
đoán dễ dàng hơn.
* Mổ khám gà
Phương pháp chẩn đoán chính xác nhất là phương pháp mổ khám, kiểm tra
bệnh tích kết hợp xét nghiệm tìm đơn bào H. meleagridis ký sinh ở các cơ quan nội
tạng như gan, manh tràng.
Tiến hành mổ khám gà mắc bệnh, quan sát thấy gan và manh tràng bị tổn
thương nặng, gan to gấp 2 - 3 lần, bề mặt gan có những ổ hoại tử lỗ chỗ như đá hoa
cương hoặc ổ hoại tử hình hoa cúc màu trắng hoặc vàng nhạt.
Lấy bệnh phẩm manh tràng và gan của gà vừa chết hoặc vừa mổ khám, phết
kính, kiểm tra dưới kính hiển vi có thể quan sát thấy đơn bào H. meleagridis. Tuy
nhiên, đơn bào trong các tổn thương tổ chức ở thể lưới, không có hình roi và rất khó
+ Triệu chứng: gà bệnh ủ rũ, uống nhiều nước, đứng một mình, rụt cổ hay lắc
đầu, vảy mỏ, thở khò khè, nếu bệnh nặng gà phát ra tiếng kêu lạo sạo, khoẹt khoẹt.
+ Bệnh tích: màng nhày bao phủ ở thanh khí quản, viêm túi khí xuất hiện các thể
Fibrin dạng hạt, kích thước từ 0,5 - 2 cm, màu vàng nằm xen lẫn trong các túi khí.