ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
DƯƠNG THỊ HIỀN Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU BỆNH ĐẦU ĐEN DO ĐƠN BÀO
HISTOMONAS MELEAGRIDIS GÂY RA Ở GÀ TẠI HUYỆN YÊN THẾ
TỈNH BẮC GIANG VÀ THỬ NGHIỆM THUỐC ĐIỀU TRỊ KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y
Khoa : Chăn nuôi thú y
Lớp : K42 – Chăn nuôi thú y
Khoá học : 2010 – 2014
Giáo viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Văn Quang
Khoa Chăn nuôi thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Thái Nguyên, năm 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, nhờ sự nỗ lực của bản
thân và được sự quan tâm, chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các quí
thầy cô giáo, bạn bè; sự động viên khích lệ của gia đình để tôi hoàn thành khóa
luận này.
Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn trân thành và sâu sắc tới:
Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ
nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y, các thầy giáo, cô giáo đã tận tình dìu dắt tôi
trong suốt thời gian học tập tại trường.
Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn TS. Nguyễn Văn Quang đã tận tình
hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này.
sự phân công của thầy cô giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của Trạm thú y
huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang chúng tôi đã tiến hành đề tài : "
Nghiên
cứu bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas meleagridis gây ra ở gà
tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang và thử nghiệm thuốc điều trị
".
Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, kiến thức
chuyên môn chưa sâu, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều và thời gian thực tập
còn ngắn nên trong bản khóa luận này của em không tránh khỏi những hạn
chế, thiếu sót. Em kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của
thầy, cô giáo cùng các bạn đồng nghiệp để bản khóa luận của em được hoàn
thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà tại một số địa phương của huyện
Yên Thế 40
Bảng 4.2. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà theo tuổi 42
Bảng 4.3. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà theo phương thức chăn nuôi 45
Bảng 4.4. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà theo kiểu nền chuồng nuôi gà 46
Bảng 4.5. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà theo tình trạng vệ sinh thú y 47
Bảng 4.6. Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun kim ở gà mổ khám 49
Bảng 4.7. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis trong số gà nhiễm giun kim 50
Bảng 4.8. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis trong số gà không nhiễm giun kim 52
Bảng 4.9. Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh đầu đen 53
Bảng 4.10. Bệnh tích đại thể của gà bị bệnh đầu đen ở một số địa phương
huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. 54
Bảng 4.11. Thử nghiệm 2 phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho gà trên diện hẹp 58
Bảng 4.12. Thử nghiệm 2 phác đồ điều trị bệnh đầu đen gà trên diện rộng 60
LDH : Lactic dehydrogenase
GOT : Glutamicoxalacetic transaminase
GPT : Glutamic pyruvic transaminase
GLDH : Dehydrogenase glutamic
MDH : Dehydrogenase malic
PCR : Phản ứng chuỗi polymerase
:
:
MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
12. Mục đích nghiên cứu 2
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1. Đặc điểm của đơn bào Histomonas meleagridis ký sinh ở gia cầm 3
2.1.2. Bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gà 14
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 30
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 30
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 31
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 33
3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 33
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 33
3.1.2. Vật liệu nghiên cứu 33
3.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu 33
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu 33
3.2.2. Thời gian nghiên cứu 33
meleagridis ở gà. 57
4.3.1. Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh đơn bào H.meleagridis trên diện hẹp . 57
4.3.2. Thử nghiệm phác đồ điều trị trên diện rộng 59
Phần 5: KẾT LUẬN , TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 62
5.1. Kết luận 62
5.2. Tồn tại 63
5.3. Đề nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngành chăn nuôi ở nước ta hiện nay đang rất phát triển. Đặc biệt là
chăn nuôi gia cầm, để có cơ sở vững chắc hơn cho tương lai ngành chăn nuôi
nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng phát triển ổn định, một trong những
vấn đề đặc biệt quan tâm là vệ sinh và thú y. Nhằm đưa được những sản phẩm
chăn nuôi sạch và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm ra ngoài thị trường.
Tính riêng trong năm 2011 đàn gia cầm trong cả nước đạt trên 322 triệu con,
sản lượng thịt gần 700 nghìn tấn, sản lượng trứng đạt gần 7.000 tỷ quả, cao
nhất từ trước đến nay; tỷ trọng chăn nuôi gia cầm trong tổng sản phẩm ngành
chăn nuôi tăng dần qua các năm, năm 2011 đạt gần 17%.
Với mô hình trang trại chăn nuôi gà bán công nghiệp với quy mô lớn
tại các vườn cây ăn quả, đồi cây lâm nghiệp ở Yên Thế đã đem lại hiệu quả
kinh tế cao. Nhưng người chăn nuôi ở đây gặp phải không ít những khó khăn
nổi lên là vấn đề dịch bệnh. Ngoài những bệnh thường gặp ở gà, hiện nay còn
có những bệnh mới gây ra những thiệt hại lớn cho người chăn nuôi.
đẩy ngành chăn nuôi gà phát triển.
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Đặc điểm của đơn bào Histomonas meleagridis ký sinh ở gia cầm
2.1.1.1. Vị trí của đơn bào Histomonas meleagridis trong hệ thống phân loại
động vật nguyên sinh.
Theo Van der Heijden H (2009) [45], vị trí của H. meleagridis trong hệ
thống phân loại nguyên sinh động vật như sau:
Giới:
Protozoen
Ngành: Parabasalia
Lớp: Tritrichomonadea
Bộ: Tritrichomonadida
Họ: Dientamoebidae
Giống: Histomonas
Loài: Histomonas meleagridis
ở hình dạng có roi đường kính có thể lên tới 30 µm.
Tyzzer (1934) [40] đã nghiên cứu sự chuyển động của H. meleagridis ở
42
0
C và mô tả roi của đơn bào này nhịp nhàng rung động giúp nó có thể xoay
ngược chiều kim đồng hồ.
Lê Văn Năm (2010) [6] khi nghiên cứu bệnh đầu đen ở Việt Nam báo
cáo rằng, H. meleagridis là một loại đơn bào đa hình thái: hình trùng roi (4
roi), hình amip và hình lưới hợp bào, tùy thuộc vào giai đoạn phát triển để
có hình dạng tương ứng phù hợp,… H. meleagridis với hình amip có kích
thước 8 - 30 µm, với hình roi thì có kích thước từ 20 - 30 µm, bé nhất khi
H. meleagridis ở thể lưới: 5 - 10 µm, nhưng ở thể hợp bào (bao gồm nhiều
H. meleagridis thể hình lưới) thì chúng có kích thước cực đại đến 60 - 80
µm. Trong các dạng hình thái thì hình roi là phổ biến nhất và dễ nhận biết
nhất bởi chúng có 2 nhân (1 nhân to và 1 nhân nhỏ), từ nhân to mọc ra 4
roi, H. meleagridis vận động theo hai phương thức: xoắn hoặc theo kiểu
làn sóng (impuls).
Nghiên cứu về cấu tạo của đơn bào H. meleagridis, các nhà khoa học đã
cho biết, theo thứ tự từ ngoài vào trong đơn bào H. meleagridis cấu tạo gồm 3
phần: màng, tế bào chất và nhân.
Màng đơn bào H. meleagridis là một màng đơn.
Tế bào chất của H. meleagridis chứa ß - glycogen, ribosome và ARN,
một số không bào và hạt nhân.
5
Nhân hình trứng hoặc hình chữ U, bao gồm một nucleolus. Màng
nhân là một màng kép. Trong vùng lân cận của nhân là bộ máy Golgi hoặc
một phần theo chiều dọc của microtubule.
H. meleagridis là sinh vật kỵ khí vì thiếu ty thể. Lưới nội chất đã bị
thoái hóa.
C từ 10 - 15 ngày
6
và 10 - 15
o
C là 72 ngày. Ấu trùng lột xác trong trứng một lần, sau đó trứng
chứa ấu trùng này trở nên có khả năng truyền lây bệnh. Mùa đông trứng
không phát triển. Nhưng vẫn duy trì khả năng sống. Đến mùa xuân, thời tiết
ấm áp, trứng sống được qua mùa đông lại phát triển thành trứng cảm nhiễm
và có thể là nguồn gây bệnh. Gà, gà tây mắc bệnh này là do ăn phải trứng H.
gallinarum có chứa ấu trùng cảm nhiễm. Sau 1 - 2 giờ xâm nhập vào đường
tiêu hoá, ấu trùng chui ra khỏi trứng xuống manh tràng. Ở manh tràng, ấu
trùng chui vào thành ruột, nhưng sau từ 5 - 7 ngày sau khi vào máu chúng lại
trở lại ruột. Thời gian phát triển của chúng đến giai đoạn trưởng thành trong
cơ thể từ 25 - 34 ngày, nhưng thời gian sống thì không quá 1 năm.
+ Bệnh giun kim (Heterakiosis)
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [4]: Heterakis và ấu trùng có tác hại rất
lớn đối với vật chủ: Ấu trùng sau khi xâm nhập vào đường tiêu hoá của vật
chủ (gà) chúng thoát vỏ đến manh tràng và ruột. Sau khi tới manh tràng chúng
chui vào niêm mạc, gây tụ huyết, xuất huyết. Ngoài ra giun còn cướp chất
dinh dưỡng, tiết độc tố đầu độc vật chủ làm cho vật chủ bị gầy yếu, còi cọc,
chậm lớn và giảm sức đề kháng. Để không bị đào thải theo phân ra ngoài giun
phải bám vào thành niêm mạc ruột và trong quá trình di chuyển giun đã tác
động cơ học lên thành ruột làm cho niêm mạc ruột bị tổn thương, tạo điều
kiện cho vi khuẩn xâm nhập như: Salmonella gallisepticum, S.pullorum và
các chủng E.coli. Dẫn đến gà dễ bị nhiễm trùng và mắc một số bệnh kế phát.
Ngoài ra, trứng giun chứa đơn bào Histomonas meleagridis (gây bệnh
Histomonosis) làm cho gan bị viêm và làm nặng thêm tổn thương ở manh
tràng. Khi bị ấu trùng xâm nhập từ bên ngoài vào thì gà sẽ mắc cả hai bệnh
này. Ở những gà bị chết, bệnh tích thường thấy là xác gà gầy, niêm mạc dày
Tyzzer E. E (1925) [41] cho biết, gà tây có thể nhiễm bệnh khi nuôi nhốt
chung với gà mắc bệnh hoặc nuôi trên khu đất đã có gà bị bệnh trước đó. Sau
đó, năm 1926 [44], tác giả đã chứng minh trứng giun kim (Heterakis) chính là
tác nhân lây truyền bệnh đầu đen. Trứng có phôi chứa thành phần axit nitric
1,5 % giúp chúng có khả năng bảo vệ khi đi qua đường tiêu hóa đến manh
tràng của gà. Những phôi trứng Heterakis chứa H. meleagridis là nguồn quan
trọng để bệnh đầu đen phát triển. Đây là một phát hiện quan trọng vì đã xác
định được vật chủ trung gian truyền bệnh và có ý nghĩa quan trọng cho các
thử nghiệm sau này. Tyzzer đã gây nhiễm cho gà tây bằng cách tiêm vào
manh tràng trứng Heterakis có phôi đã được khử trùng bề mặt bằng dung dịch
hydrogen peroxide 50 % (Swale, 1948 [37]). Ông kết luận rằng, trứng
8
Heterakis có phôi là cần thiết để lây truyền và phát bệnh.
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, Histomonas có thể tồn tại trong trứng
của H. gallinarum từ 2 đến 3 năm, khi trứng nở vẫn có thể gây ra
Histomonosis (Niimi, 1937 [34]).
Springer, Johnson và Reid (1970) [36] đã phát hiện ra rằng, giun kim
đực được lấy ra từ manh tràng gà bệnh đều chứa Histomonas còn sống. Giun
cái ít có khả năng truyền Histomonas hơn cho tới khi trứng Heterakis trưởng
thành thì mới có khả năng truyền được. Giun cái có thể bị nhiễm Histomonas
trong khi giao hợp và làm cho đơn bào Histomonas vào trong trứng trước khi
hình thành lớp vỏ.
b)Truyền bệnh gián tiếp qua giun đất
* Giun đất
+ Đặc điểm chung về hình thái bên ngoài:
Giun đất hay trùn đất thuộc ngành hoàn tiết trùng (Annelida) lớp
lygochaetae, họ lumbricidae. Giun có phân đốt bên ngoài và bên trong cơ thể
cũng chia thành từng đốt tương ứng, ngăn cách gần như những phần độc lập.
Số lượng đốt biến thiên từ 110 - 180 đốt. Di chuyển nhờ các sợi tơ ngắn hai
màng cutin ẩm ướt bao bọc bên ngoài cơ thể giun. Vì vậy nếu màng này bị
khô sẽ hạn chế sự hô hấp của giun, có thể làm cho giun chết. Ngoài ra trong
máu giun còn có bạch cầu, giúp giun chống đỡ bệnh tật.
Hệ thần kinh của giun gồm có 2 hạch thần kinh ở đầu (hạch não) và các
hạch thần kinh bụng, chúng được nối với nhau bởi các dây thần kinh. Ngoài
ra giun còn có một số tế bào cảm nhận được ánh sáng nằm phân tán dưới da,
chủ yếu ở hần đầu.
* Truyền bệnh gián tiếp qua giun đất
Khi nghiên cứu về vai trò của giun đất trong việc truyền tải bệnh đầu
đen, Curtice (1907) [11] đã tiến hành thí nghiệm cho gà khỏe ăn giun đất thu
thập từ vùng có gà bị nhiễm bệnh. Theo dõi một thời gian thấy gà xuất hiện
triệu chứng, mổ khám kiểm tra gan và manh tràng có bệnh tích điển hình của
bệnh đầu đen. Kết quả trên đã chứng minh rằng sự lan truyền bệnh đầu đen từ
gia cầm này sang gia cầm khác còn do gia cầm ăn phải giun đất mang ấu
trùng giun kim (H. gallinarum) chứa H. meleagridis. Theo tác giả, giun đất
chính là tác nhân làm dịch bệnh đầu đen phát triển. Đây là một phát hiện quan
trọng vì đã xác định được vật chủ trung gian truyền bệnh, từ đó có những
khuyến cáo để ngăn ngừa bệnh đầu đen.
10
Lund và cs (1956) [25] báo cáo: sau khi cho gà và gà tây ăn giun đất
chứa ấu trùng H. gallinarum mang mầm bệnh, thấy gà mắc bệnh đầu đen, mổ
khám gà có bệnh tích điển hình ở gan và manh tràng. Sau đó, các tác giả tiến
hành đun nóng giun đất trong phòng thí nghiệm, quan sát thấy rất nhiều ấu
trùng giun kim (H. gallinarum) nổi lên trên bề mặt cơ thể. Một lần nữa các
nhà nghiên cứu kết luận giun đất chính là vật chủ trung gian chứa ấu trùng
giun kim mang mầm bệnh Histomonas gây bùng phát bệnh đầu đen.
Kemp và cs (1975) [22] cho biết: gà trống và gà tây bị nhiễm cả
Histomonas meleagridis và Heterakis gallinarum khi cho ăn giun đất từ nơi
trước đây mầm bệnh đã xảy ra.
trí thí nghiệm với 120 gà ở 2 tuần tuổi thành 2 lô:
Lô 1: bao gồm 10 % gà bệnh (được gây nhiễm qua lỗ huyệt với H.
meleagridis liều 200.000 H. meleagridis/ gà) và 90 % gà khỏe cùng nhốt
trong chuồng sàn bê tông.
Lô 2: bao gồm 25 % gà bệnh với 75 % gà khỏe.
Tác giả thu được kết quả như sau: Ở lô 2, những gà tiếp xúc với 25 % gà
được gây nhiễm bắt đầu chết ở ngày thứ 16 và tất cả đều chết ở ngày thứ 23.
Những gà tiếp xúc với 10 % gà được gây nhiễm ở lô 1, bắt đầu chết ở ngày
thứ 19, đến ngày thứ 31 mổ khám gà chết và toàn bộ gà còn sống đều thấy tổn
thương gan nặng, manh tràng đóng kén. Tiến hành soi tươi bệnh phẩm ở
manh tràng và phân không thấy có sự xuất hiện của trứng giun kim (Heterakis
gallinarum).
Tác giả kết luận rằng, mặc dù giun kim H. gallinarum là ký chủ trung
gian lây truyền bệnh đầu đen từ đàn gia cầm này sang đàn gia cầm khác,
nhưng qua thí nghiệm này cho thấy, H. meleagridis có thể dễ dàng truyền từ
đàn gia cầm này sang đàn gia cầm khác khi ăn phân gà nhiễm bệnh mà không
cần sự có mặt của H. gallinarum.
Gần đây, Armstrong P.L và Mc Dougald L.R. (2011) [9] tiếp tục nghiên
cứu sự truyền bệnh trực tiếp cho gà tây mà không cần sự có mặt của các vật
chủ trung gian và điều tra khả năng lây nhiễm khi tiếp xúc. Ông đã tiến hành
3 lô thí nghiệm như sau:
Lô 1: Ông tiến hành nuôi nhốt chung với gia cầm đã mắc bệnh đầu đen.
Lô 2 và 3: Ông gây nhiễm trực tiếp bằng 2 đường, thông qua đường
miệng (lô 2) và bơm trực tiếp vào lỗ huyệt (lô 3) (bằng cách tiêm hỗn hợp
phân và manh tràng của gà bệnh có H. meleagridis).
12
Theo dõi thí nghiệm: sau 14 ngày gây nhiễm, tác giả tiến hành mổ khám và
thấy 31 gà trong số 44 gà ở lô 2 được bơm trực tiếp vào lỗ huyệt có bệnh tích
điển hình ở cả gan và manh tràng, trong khi đó gà ở lô 3 không thấy có tổn
13
huyết thanh ngựa pha với bột gạo theo tỷ lệ 1:8, đặt ống nghiệm thẳng
đứng cũng thu được kết quả tốt.
DeVolt (1943) [14] cũng tiến hành thí nghiệm nuôi cấy đơn bào H.
meleagridis trong môi trường đơn giản và dễ chuẩn bị (pH = 9). Môi
trường nuôi cấy bao gồm dung dịch Locke (dung dịch đẳng trương với
huyết tương có chứa clorua natri, kali, canxi và natri bicarbonate và dextrose
và được sử dụng tương tự như nước muối sinh lý) với 2 % huyết thanh gà
tây, 2 % N/20 NaOH và hấp tiệt trùng ở 120
0
C
trong 20 phút. Trước khi
nuôi cấy, mỗi ống nghiệm cho thêm một ít tinh bột gạo đã được vô trùng.
Tác giả báo cáo rằng, có một số vi khuẩn tồn tại trong môi trường nuôi cấy
đơn bào H. meleagridis và chúng có vai trò thúc đẩy sự phát triển của đơn
bào ở một mức độ nào đó.
Sau đó, các nhà nghiên cứu khác đã thay đổi môi trường của DeVolt
và tiến hành nuôi cấy H. meleagridis ở các môi trường khác nhau.
Lesser (1960b) [24] đã nuôi cấy H. meleagridis trong môi trường
M199 pha loãng 10 lần bằng nước cất và bổ sung 10 % kem tươi đã được
lọc hoặc huyết thanh gà tây và 0,05 % NaHCO
3
. Nhận thấy H. meleagridis
sinh trưởng tốt.
Môi trường nuôi cấy của Dwyer (1970) [17]; McDougald và Reid (1978)
[31] gồm: M199 với dung dịch muối của Hank, 10 % huyết thanh ngựa, 5 %
phôi thai gà 8 ngày tuổi và 10 - 12 mg bột gạo/12,5 ml môi trường.
Năm 1940, Hank đã xây dựng dung dịch muối gồm các muối giàu ion
(với số lượng 105,6 Histomonas/ml) trước khi lưu giữ lâu hơn nữa trong
nitơ lỏng.
Như vậy, Mc Dougald và Galloway (1970) [28] khẳng định rằng: môi
trường nuôi cấy đơn bào H.meleagridis tốt nhất là môi trường Dwyers
(1970). Môi trường này bao gồm 85 % M199; 5 % chiết xuất phôi thai gà
và 10 % huyết thanh cừu hoặc huyết thanh ngựa, điều chỉnh pH 7,8.
H.meleagridis phát triển nhanh trong môi trường này và được sử dụng để
chẩn đoán, xét nghiệm Histomonosis từ 28 - 48 giờ sau khi nuôi cấy.
2.1.2. Bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gà
2.1.2.1. Lịch sử bệnh
Histomoniasis được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1893 ở Rhode Island
(Cushman, 1894 [12]). Tuy nhiên, các báo cáo của Trạm thực nghiệm nông
nghiệp tại địa phương về tình hình dịch bệnh từ năm 1891, báo cáo đã đề cập
về một “bệnh khó hiểu” xuất hiện trên đàn gà tây, với triệu chứng chung là da
vùng đầu biến đổi màu, gà mắc bệnh tỷ lệ chết cao, gây thiệt hại lớn cho
ngành chăn nuôi gà tây. Những người nông dân địa phương căn cứ vào triệu
chứng đặc biệt đã quan sát được ở vùng đầu của gà tây mắc bệnh: mào thâm
tím, da mép và da vùng đầu xanh xám, thậm chí xanh đen nên gọi tên bệnh là
bệnh “đầu đen”.
15
Kể từ khi bệnh “đầu đen” xuất hiện phổ biến, các nhà khoa học đã
tập trung nghiên cứu về bệnh. Sau một thời gian nghiên cứu, người ta
nhận thấy dấu hiệu biến đổi da vùng đầu không phải là dấu hiệu đặc trưng
cho bệnh, vì nó có thể quan sát thấy trong một số bệnh khác của gà tây.
Theo Smith (1895) [38], khi gà tây mắc bệnh thì gan và manh tràng là 2
cơ quan bị tổn thương nặng nề nhất. Ông đã lấy bệnh phẩm là 2 cơ quan
này để nghiên cứu và xác định được nguyên nhân gây bệnh là một sinh
vật đơn bào (Amoeba meleagridis), từ đó bệnh đã được đặt tên là bệnh
truyền nhiễm Enterohepatitis. Nghiên cứu kỹ hơn, Tyzzer (1920a) [42],
Những năm tiếp theo, dịch bệnh đầu đen ở gia cầm vẫn thường xuyên
phát triển, tiếp tục gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho người chăn nuôi.
Ổ dịch Histomonosis mới trên đàn gà tây, tỷ lệ chết 25 - 75 % đã được
báo cáo ở California vào năm 2001 (Jinghui hu, 2002 [20]).
Mc Dougald (2008) [30] khi nghiên cứu bệnh đầu đen ở khu vực Bắc
Mỹ đã báo cáo: Bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng đến đàn gà tây nuôi tập
trung, tỷ lệ tử vong lên đến 80 - 100 %. Mặt khác, bệnh cũng được tìm thấy ở
gà nhưng tỷ lệ chết chỉ đạt 10 %.
Van der Heijden H (2009) [45] tiếp tục báo cáo rằng: Ở California một
đợt bùng phát Histomonosis tiếp tục gây tỷ lệ tử vong cao cho gà tây từ 9 -
11 tuần tuổi. Dấu hiệu lâm sàng bao gồm: ăn ít hoặc bỏ ăn, ủ rũ, tiêu chảy,
giảm cân và tỷ lệ tử vong tăng khi gà ở 3 - 13 tuần tuổi. Gà tây mắc bệnh ở 7
tuần tuổi, tỷ lệ tử vong từ 24 - 68 %. Mổ khám thấy gan phì đại, trên bề mặt
gan xuất hiện các nốt trắng nhạt khác nhau, kích thước 0,3 - 1,5 cm. Thành
manh tràng dày lên, niêm mạc bị lở loét, túi Fabricius sưng to và có tiết dịch
màu vàng nhạt. Thận, tuyến tụy, lá lách sưng. Quan sát dưới kình hiển vi
thấy có nhiều ổ hoại tử trong gan, manh tràng, phúc mạc, túi Fabricius, thận,
phổi, tuyến tụy,…
Hauck và cs (2010) [19] báo cáo: Histomonosis là một căn bệnh
nghiêm trọng gây ra bởi ký sinh trùng đơn bào H. meleagridis. Tại Đức,
trong khoảng thời gian từ 2004 đến 2008, có ít nhất 35 vụ dịch xảy ra ở gà
tây, gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người chăn nuôi. Trong báo cáo, ông đã
mô tả sự tiếp diễn liên tục qua các năm của bệnh đầu đen của một trang trại
chăn nuôi gà tây ở Đức. Ổ dịch đầu tiên xảy ra vào năm 2005 khi gà đạt 17
tuần tuổi. Ổ dịch thứ 2 xảy ra vào năm 2009 khi gà 8 tuần tuổi. Tỷ lệ tử vong
tăng đến 26 - 65 % trong vài ngày mặc dù điều trị với các hợp chất khác nhau.