Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ THANH XUÂN NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ,
LÂM SÀNG BỆNH ĐẦU ĐEN DO ĐƠN BÀO
HISTOMONAS MELEAGRIDIS GÂY RA Ở GÀ
TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Thú y
Mã số: 60 64 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Quang
Thái Nguyên, năm 2014
chân thành tới thầy giáo TS. Nguyễn Văn Quang, cô giáo GS.TS. Nguyễn Thị Kim
Lan và NCS.Ths. Trương Thị Tính đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều
kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ to lớn về cơ sở vật chất của Khoa Chăn
nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và Khoa Nông Lâm - Trường
Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật Thái Nguyên.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, Phòng QLĐT Sau
Đại học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ Trạm thú y và nhân
dân của các huyện Phú Bình, Phổ Yên, Võ Nhai, Định Hóa (tỉnh Thái Nguyên) đã
tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn sự động viên khích lệ của gia đình, bạn bè và đồng
nghiệp trong suốt thời gian thực hiện luận văn khoa học này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Xuân iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
2.4.3. Thử nghiệm 3 phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho gà gây nhiễm 38
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
3.1. Kết quả nghiên cứu bệnh đầu đen do H. meleagridis gây ra ở gà tại tỉnh Thái
Nguyên 40
3.1.1. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái
Nguyên qua mổ khám 40
3.1.2. Triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen 42
3.2. Kết quả nghiên cứu bệnh đầu đen ở gà gây nhiễm 48
3.2.1. Kết quả gây nhiễm đơn bào H. meleagridis cho gà 48
3.2.3. Triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh đầu đen do gây nhiễm 52
3.2.4. Diễn biến thân nhiệt của gà mắc bệnh sau gây nhiễm 55
3.2.6. Nghiên cứu bệnh tích của gà sau gây nhiễm 59
3.2.7. Khối lượng, thể tích một số cơ quan nội tạng của gà sau gây nhiễm 64
3.3. Thử nghiệm 3 phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho gà gây nhiễm 67
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 69
1. Kết luận 69
2. Đề nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
cm
:
Centimet
cm
3
:
Khối lượng
mg
:
Minigam
ml
:
Minilit
mm
:
Minimet
Nxb
:
Nhà xuất bản
P
α
:
Mức ý nghĩa
spp.
:
species
TN
:
Thí nghiệm
tr.
:
Trang
TT
:
Thể trọng
μm
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Biểu dồ tỷ lệ nhiễm đơn bào H. meleagridis ở gà theo địa phương 42
Hình 3.2. Đồ thị diễn biến thân nhiệt của gà sau gây nhiễm 57
dịch bệnh ở các địa phương.
yêu cầu ạ ế
: “Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh đầu đen do đơn bào
Histomonas meleagridis gây ra ở gà tại tỉnh Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu tình hình nhiễm đơn bào Histomonas meleagridis ở gà nuôi tại
tỉnh Thái Nguyên.
2
- Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh đầu đen do đơn bào H.
meleagridis gây ra ở gà. Từ đó có cơ sở khoa học đề xuất biện pháp phòng trị bệnh.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về một số đặc điểm bệnh lý và
lâm sàng bệnh đầu đen do đơn bào H. meleagridis gây ra ở gà, có một số đóng góp
mới cho khoa học.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học giúp người chăn nuôi hiểu về bệnh, phát
hiện bệnh kịp thời, từ đó áp dụng quy trình phòng, trị bệnh đầu đen cho gà nhằm
hạn chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại do bệnh đầu đen gây ra; góp phần nâng cao năng
suất chăn nuôi, thúc đẩy nghề chăn nuôi gà phát triển.
mô tả như sau: Giai đoạn đơn bào Amoeba meleagridis ký sinh tại khu vực ngoại vi
của các tổn thương gọi là giai đoạn xâm lấn, đơn bào di động kiểu amip và hình
thành một chân giả có chiều dài 30 μm. Trong các mô cố định, đơn bào có đường
kính 8 - 17 μm, giai đoạn này, nguyên sinh chất chứa các hạt không bào và một thể
nhân. Tiếp đến là giai đoạn sinh dưỡng, đơn bào tồn tại ở dạng có tế bào chất mà
không có thể vùi và một lượng nhỏ chất lưới hoặc dạng hạt phân phối xung quanh
thể nhân. Giai đoạn này, đơn bào có kích thước 12 - 21 μm.
Khi nghiên cứu hình thái của đơn bào trong môi trường nuôi cấy, Tyzzer E. E.
(1920) [58] thấy, Amoeba meleagridis xuất hiện roi và có khả năng chuyển động
4
trong điều kiện yếm khí. Từ đặc điểm này, Tyzzer đã đổi tên tác nhân gây bệnh
thành Histomonas meleagridis.
Tyzzer (1934) [60] cho biết, ở 42
0
C có thể quan sát được sự chuyển động của
H. meleagridis, roi của đơn bào này nhịp nhàng rung động giúp nó có thể xoay
ngược chiều kim đồng hồ.
Nghiên cứu về cấu tạo của đơn bào H. meleagridis, các nhà khoa học đã cho
biết, theo thứ tự từ ngoài vào trong đơn bào H. meleagridis cấu tạo gồm 3 phần:
màng, tế bào chất và nhân.
Màng tế bào H. meleagridis là một màng đơn.
Tế bào chất của H. meleagridis chứa ß - glycogen, ribosome và ARN, một số
không bào và hạt nhân.
Nhân hình trứng hoặc hình chữ U, bao gồm một nucleotid. Màng nhân là một
màng kép. Trong vùng lân cận của nhân có bộ máy Golgi hoặc một phần theo chiều
dọc của microtubule.
Histomonas meleagridis là sinh vật kỵ khí vì thiếu ty thể, lưới nội chất của
đơn bào này đã bị thoái hóa.
1.1.1.3. Phương thức truyền lây của Histomonas meleagridis
Trong mô tổ chức của ký chủ (gà ta và gà tây), H. meleagridis sinh sản theo
phương thức tự phân đôi và sinh sản mạnh nhất ở giai đoạn thể lưới (Incistio) hay
thể hợp bào. Khi theo phân ra khỏi ký chủ, ở thể hình roi và thể amip chúng chỉ
sống được trong vòng 24 giờ, trong khi đó ở thể lưới chúng có thể tồn tại hàng năm
trong các trứng của giun kim H. gallinarum. Do đó, gà bị nhiễm bệnh khi ăn thức
ăn, nước uống bị nhiễm trứng giun kim H. gallinarum có chứa thể hợp bào H.
meleagridis.
H. meleagridis có thể nuôi cấy ở môi trường nhân tạo và yếm khí.
Tại khu vực nuôi gà mắc bệnh, giun đất là vật chủ chứa trứng giun kim H.
gallinarum. Do đó, trứng H. gallinarum và đơn bào H. meleagridis sẽ tồn tại khá
lâu ngoài ngoại cảnh.
6
Khi gà và gà tây ăn giun đất, trứng H. gallinarum vào đường tiêu hóa gia cầm,
làm cho gia cầm vừa bị bệnh giun kim, vừa bị bệnh đầu đen.
Ở vùng có kiểu khí hậu và loại đất phù hợp cho sự phát triển của giun kim và
giun đất, cần định kỳ kiểm soát bệnh do đơn bào H. meleagridis gây ra ở gà.
1.1.2. Bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gà
1.1.2.1. Lịch sử bệnh
Histomonosis được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1893 ở Rhode Island
(Cushman, 1894 [13]). Tuy nhiên, các báo cáo của Trạm thực nghiệm nông nghiệp
tại địa phương về tình hình dịch bệnh từ năm 1891, đã đề cập về một “bệnh khó
hiểu” xuất hiện trên đàn gà tây, với triệu chứng chung là da vùng đầu biến đổi màu,
gà mắc bệnh có tỷ lệ chết cao, gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi gà tây. Những
người nông dân địa phương căn cứ vào triệu chứng đặc biệt đã quan sát được ở
vùng đầu của gà tây mắc bệnh: mào thâm tím, da mép và da vùng đầu xanh xám,
thậm chí xanh đen nên đã đặt tên bệnh là bệnh đầu đen (Blackhead).
Kể từ khi bệnh đầu đen xuất hiện phổ biến, các nhà khoa học đã tập trung
nghiên cứu về bệnh. Người ta nhận thấy rằng, dấu hiệu biến đổi da vùng đầu không
phải là dấu hiệu đặc trưng cho bệnh, vì nó có thể quan sát thấy trong một số bệnh
gây tỷ lệ chết cao cho gà tây 9 - 11 tuần tuổi. Dấu hiệu lâm sàng bao gồm: ăn ít
hoặc bỏ ăn, ủ rũ, tiêu chảy, giảm cân, tỷ lệ chết tăng khi gà ở 3 - 13 tuần tuổi. Gà
tây mắc bệnh ở 7 tuần tuổi, tỷ lệ chết 24 - 68 %. Mổ khám thấy gan phì đại, trên bề
mặt gan xuất hiện các nốt trắng nhạt khác nhau, kích thước 0,3 - 1,5 cm. Thành
manh tràng dày lên, niêm mạc bị lở loét, túi Fabricius sưng to và có tiết dịch màu
vàng nhạt. Thận, tuyến tụy, lá lách sưng. Quan sát dưới kính hiển vi thấy có nhiều ổ
hoại tử trong gan, manh tràng, phúc mạc, túi Fabricius, thận, phổi, tuyến tụy,…
Mc Dougald L. R. (2008) [46] khi nghiên cứu bệnh đầu đen ở khu vực Bắc Mỹ
đã báo cáo: bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng đến đàn gà tây nuôi tập trung, tỷ lệ chết lên
đến 80 - 100 %. Mặt khác, bệnh cũng được tìm thấy ở gà nhưng tỷ lệ chết chỉ tới 10 %.
Hauck và cs. (2010) [29] cho biết: tại Đức, trong khoảng thời gian từ 2004
đến 2008, có ít nhất 35 vụ dịch Histomonosis xảy ra ở gà tây, gây thiệt hại lớn về
kinh tế cho người chăn nuôi. Tác giả đã mô tả sự tiếp diễn liên tục qua các năm của
8
bệnh đầu đen của một trang trại chăn nuôi gà tây ở Đức. Từ tháng 4 năm 2003 đến
tháng 3 năm 2005, ở Pháp xuất hiện 113 ổ dịch Histomonosis trên gà tây, trong đó
có 15 ổ dịch ở các trang trại gà giống.
Lê Văn Năm (2010) [1] cho biết: bệnh gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người
chăn nuôi, làm ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội của bộ phận không nhỏ
người chăn nuôi ở nước ta. Tác giả cũng cho rằng, các trang trại chăn nuôi gà thịt
đang bị ô nhiễm nặng giun kim mà giun kim là ký chủ trung gian truyền bệnh đầu
đen cho gà tây và gà thả vườn nuôi tập trung.
1.1.2.3. Dịch tễ học bệnh đầu đen (Histomonosis) ở gia cầm
* Mầm bệnh: Về mặt dịch tễ học, đơn bào Histomonas không có vai trò truyền
bệnh vì sức đề kháng của chúng rất kém, khi ra khỏi cơ thể vật chủ đơn bào chỉ tồn
tại trong một thời gian rất ngắn.
* Động vật mắc bệnh
Histomonosis thấy ở các đàn gà, gà tây trên toàn thế giới. Trong tự nhiên, gà
tây, gà, chim trĩ, chim công, chim cút, gà lôi, đà điểu, vịt, đều có thể bị bệnh.
tại và phát triển của giun kim - vật chủ trung gian truyền bệnh.
Callait - Cardinal M. P. và cs. (2010) [9] cho rằng, chuồng trại không đảm bảo
vệ sinh, phân và rác ướt không thu dọn thường xuyên, thức ăn nước uống không
sạch sẽ là những nguy cơ gây tái phát Histomonosis ở gia cầm.
2.1.2.4. Cơ chế sinh bệnh
Việc truyền đơn bào H. meleagridis tới gà và gà tây có thể xảy ra riêng lẻ hoặc
đồng thời theo các đường sau:
Thứ nhất, gà và gà tây ăn phân tươi do gà bệnh thải ra có chứa H. meleagidis,
hoặc do lỗ huyệt tiếp xúc với phân tươi chứa H. meleagridis. Con đường này không
quan trọng, ngoại trừ trường hợp gà khỏe mạnh và gà mắc bệnh được nuôi chung
cùng đàn.
Thứ hai, gà có thể nuốt phải trứng Heterakis gallinarum có phôi và có chứa H.
meleagridis. Vào trong đường tiêu hóa của gà, các đơn bào H. meleagridis và ấu
trùng giun kim sẽ giải phóng khỏi vỏ trứng.
10
Thứ ba, gà có thể ăn phải những con giun đất chứa trứng giun kim đã mang
đơn bào H. meleagridis.
Khi vào trong cơ thể gà, đơn bào xâm nhập vào manh tràng rồi vào niêm mạc
manh tràng. Tại đây, đơn bào H. meleagridis nhân lên rất nhanh bằng sinh sản trực
phân. Số lượng lớn đơn bào tác động vào niêm mạc manh tràng, làm cho niêm mạc
dày dần lên, sau đó niêm mạc manh tràng bị viêm, loét và hoại tử. Màng nhày và
dịch viêm đọng lại trong lòng manh tràng hình thành những cục rắn màu trắng như
phomat. Từ manh tràng, H. meleagridis xuyên qua niêm mạc, thâm nhập vào mạch
máu dưới niêm mạc, theo dòng máu xâm nhập vào gan. H. meleagridis ký sinh ở
gan, gây viêm và gây hoại tử gan. Những ổ hoại tử có màu vàng nhạt, ban đầu nhỏ,
đường kính khoảng 0,5 cm, sau đó các ổ hoại tử mở rộng và sâu trên khắp bề mặt
gan. Từ gan, đơn bào này sẽ lan đi khắp cơ thể. Do đó, ngoài gan và manh tràng,
người ta còn tìm thấy H. meleagridis trong dạ dày tuyến, tá tràng, ruột già, tuyến
tụy, túi Fabricius, thận, lá lách, tim, phổi, tuyến ức, não, tủy xương. Tuy nhiên, H.
bã đậu trắng, thành manh tràng dày làm lòng manh tràng hẹp lại.
- Biến đổi ở gan
Theo Lê Văn Năm (2010) [1]: Gan sưng to, gấp 2 - 3 lần bình thường, mềm
nhũn và có nhiều ổ viêm, xuất huyết, hoại tử trên bề mặt gan làm cho lá gan lúc đầu
có màu lổ đổ hình hoa cúc. Về sau các ổ hoại tử có màu trắng xám vàng hoặc trắng
xám đỏ, lõm ở giữa. Ổ hoại tử có hình tròn, đường kính 1 - 2 cm, rìa mép có hình
răng cưa. Khi cắt đôi ổ hoại tử thấy chúng có hình nón, chứa đầy chất chứa đặc
quánh. Nếu phết kính và soi dưới kính hiển vi sẽ thấy các tế bào bạch cầu, đại thực
bào và đơn bào H. meleagridis còn sống.
1.1.2.6. Chẩn đoán
* Với gà còn sống
Chẩn đoán lâm sàng: Hiện nay, ở các cơ sở chăn nuôi, việc chẩn đoán đối với
gà còn sống chủ yếu dựa vào các triệu chứng của bệnh (xù lông, đứng nhắm mắt, ăn
ít, lười vận động, thường đứng dấu đầu dưới cánh, da vùng đầu xạm màu, ỉa chảy,
phân màu vàng lưu huỳnh…). Trong đó, triệu chứng điển hình nhất là gà ỉa chảy,
phân màu vàng lưu huỳnh, da vùng đầu xanh xám, thậm chí xanh đen (Mc Dougald
L. R., 2008 [46]).
12
Chẩn đoán xét nghiệm: Lấy phân màu lưu huỳnh của gà ốm, làm xét nghiệm,
nếu quan sát dưới kính hiển vi tìm thấy trứng của giun kim sẽ giúp cho việc chẩn
đoán dễ dàng hơn.
* Mổ khám gà
Phương pháp chẩn đoán chính xác nhất là phương pháp mổ khám, kiểm tra
bệnh tích kết hợp xét nghiệm tìm đơn bào H. meleagridis ký sinh ở các cơ quan nội
tạng như gan, manh tràng.
Tiến hành mổ khám gà mắc bệnh, quan sát thấy gan và manh tràng bị tổn
thương nặng, gan to gấp 2 - 3 lần, bề mặt gan có những ổ hoại tử lỗ chỗ như đá hoa
cương hoặc ổ hoại tử hình hoa cúc màu trắng hoặc vàng nhạt.
Lấy bệnh phẩm manh tràng và gan của gà vừa chết hoặc vừa mổ khám, phết
mềm nhũn, nhiều ổ viêm hoại tử màu trắng hình hoa cúc trên bề mặt gan. Các ổ hoại
tử hình tròn, đặc và lõm ở giữa, rìa mép có hình răng cưa.
- Bệnh Marek
Dạng Marek nội tạng thường thấy ở gà 3 - 9 tháng cũng có các khối u phát
triển ở gan, thận, lách, dạ dày tuyến, ruột. Vì vậy cần phân biệt bệnh do H.
meleagridis với bệnh Marek.
- Bệnh cầu trùng (Eimeriosis)
Khi gà mắc bệnh cầu trùng do chủng E. tenella trong một số trường hợp cũng
biến đổi giống như các biến đổi bệnh do H. meleagridis gây ra. Thành ruột ở bệnh
cầu trùng thấy rõ các nốt đỏ xen lẫn các điểm trắng. Khi bổ đôi manh tràng thấy
chất chứa lẫn máu hoặc toàn máu đông, thậm chí máu tươi, trong khi chất chứa do
đơn bào H. meleagridis gây ra giai đoạn giữa của bệnh cũng rất giống bệnh cầu
trùng: chất chứa có màu nâu, đỏ lẫn máu, nhớt như máu cá. Giai đoạn sau chất chứa
tạo thành kén màu trắng rắn chắc, gạt lớp phủ niêm mạc manh tràng thấy niêm mạc
manh tràng bị viêm hoại tử rất nặng, thành manh tràng dày lên và rắn chắc, lòng
manh tràng hẹp lại rất nhiều so với bình thường.
- Bệnh do Trichomonas
Các triệu chứng và các biến đổi bệnh lý do Trichomonas gây ra trong một số
trường hợp cũng rất giống bệnh đầu đen. Chỉ khác là bệnh do Trichomonas gây ra,
ngoài các biến đổi ở manh tràng còn luôn kèm theo các biến đổi ở 1/3 đoạn cuối
ruột non. Các ổ viêm hoại tử trên bề mặt gan có kích thước nhỏ hơn và lồi lên khỏi
14
bề mặt gan giống như các ổ lao gà. Trong khi các ổ viêm loét, hoại tử ở bệnh đầu
đen lại bị lõm ở giữa (tâm của ổ viêm loét do bệnh đầu đen lõm xuống).
- Bệnh lao gà
Các ổ lao quan sát được không chỉ ở gan mà còn thấy ở lách, ruột và tủy
xương. Bệnh lao gà chỉ quan sát thấy ở gà ta, gà tây lớn tuổi, nhưng không thấy ở
gà con và gà dò. Trong bệnh lao gà không có các biến đổi tạo kén ở manh tràng như
trong bệnh đầu đen.
cho gà như sau:
Phác đồ 1:
Tiêm bắp T. avibrasin 1 ml/5 kg gà 1 lần/ngày, tiêm 2 - 3 ngày.
Cho uống: T. cúm gia súc: 1,5 - 2 gam; T. coryzine: 1,5 - 2 gam; Super Vitamin 2
gam. Cả 3 loại trên pha vào 1 lít nước, cho gà uống liên tục 3 - 4 ngày đêm.
Phác đồ 2:
Tiêm bắp Macavet 1 ml/ 6 - 8 kgTT/lần. Sau 48 giờ tiêm mũi thứ 2
Cho uống: T. cúm gia súc: 1,5 - 2 gam; T. coryzine: 1,5 - 2 gam; T. flox - C
1,5 gam. Cả 3 loại trên pha vào 1 lít nước, cho gà uống liên tục 3 - 4 ngày đêm.
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Lê Văn Năm (2010) [1] bắt đầu đề cập đến căn bệnh này tại một số tỉnh phía
Bắc (trong đó có huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang). Tác giả kết luận rằng, nguyên
nhân cơ bản gây nên hiện tượng chết hàng loạt gà thịt tại thời điểm đó là do sự cảm
nhiễm, xâm nhập và nhân lên nhanh chóng của đơn bào H. meleagridis trong cơ thể
gà, thông qua tình trạng nhiễm trứng giun kim có đơn bào này. Theo tác giả, H.
meleagridis là một loại đơn bào đa hình thái: hình trùng roi (4 roi), hình amip và
hình lưới hợp bào, tùy thuộc vào giai đoạn phát triển để có hình dạng tương ứng
phù hợp,… H. meleagridis với hình amip có kích thước 8 - 30 μm, với hình roi thì
có kích thước 20 - 30 μm, kích thước nhỏ nhất khi H. meleagridis ở thể lưới: 5 - 10
μm, nhưng ở thể hợp bào (bao gồm nhiều H. meleagridis thể hình lưới) thì chúng có
kích thước cực đại (60 - 80 μm). Trong các dạng hình thái thì hình roi là phổ biến
nhất và dễ nhận biết nhất bởi chúng có 2 nhân (1 nhân to và 1 nhân nhỏ), từ nhân to
mọc ra 4 roi, H. meleagridis vận động theo hai phương thức: xoắn hoặc theo kiểu
làn sóng.
Theo Lê Văn Năm (2011) [2], đơn bào H. meleagridis có sức đề kháng kém. Sau
khi theo phân ra ngoài môi trường, ở nhệt độ thấp hơn nhiệt độ cơ thể gia cầm, đơn bào
này chỉ sống được vài phút hoặc vài giờ tùy thuộc vào nhiệt độ bên ngoài. Trong đó,
16
đàn gà mái 8 tuần tuổi. Trong cả hai vụ dịch, H. meleagridis gây bệnh đều thuộc
chủng A.
Lollis L. và cs. (2011) [40] đã thực hiện phản ứng PCR trên vùng ITS- rDNA
với 2 primer ITS1 và ITS2 trên 28 đơn bào H. meleagridis trong các mẫu mô thu
thập từ nhiều loài gia cầm nuôi ở các vị trí địa lý khác nhau để nghiên cứu sự đa
dạng di truyền của H. meleagridis. Kết quả cho thấy, trình tự vùng rDNA 5,8 S và
ITS của H. meleagridis không có sự biến động. Như vậy, không có sự khác biệt về
chủng H. meleagridis gây bệnh giữa các loài gia cầm nuôi ở các vị trí khác nhau.
Klodnicki M. E. và cs. (2013) [37] đã tiến hành phân tích bộ gen của H.
meleagridis. Các dữ liệu thu được từ các thí nghiệm đã xác định được 3425 gen.
Khi nghiên cứu sức đề kháng của H. meleagridis trong hoặc trên một số vật
liệu nhân tạo bị ô nhiễm trong chuồng nuôi gà ở nhiệt độ phòng (22 + 2
o
C), Lotfi A.
R. và cs. (2012) [41] thấy rằng, đơn bào sống 1 giờ trên gỗ, cao su và kim loại; 3
giờ trên khay trứng, vỏ trứng và gạch; 6 giờ trên rơm, lông gà tây và thức ăn; và 9
giờ trong nước máy và phân. Vì vậy, nước bị ô nhiễm, phân tươi, hoặc cả hai có thể
là nguyên nhân truyền H. meleagridis trong và giữa các chuồng gà với nhau.
* Nghiên cứu phương thức truyền lây của Histomonas meleagridis
H. meleagridis sinh sản bằng hình thức phân đôi (trực phân), lây truyền bằng 2
con đường: truyền trực tiếp và truyền gián tiếp.
Horton - Smith và Long (1955, 1956) [32] đã phát hiện ra rằng, đơn bào H.
meleagridis sống sót với tỷ lệ thấp khi đi qua đường tiêu hóa do độ pH thấp. Tác giả
tiến hành các thí nghiệm như sau: cho gà bị bỏ đói 18 giờ uống huyễn dịch manh
tràng của gà bị bệnh nặng, tác giả nhận thấy tỷ lệ nhiễm bệnh của gà thấp. Tiếp tục
nghiên cứu gây nhiễm qua đường tiêu hóa của gà bị bỏ đói 18 giờ, tác giả đã nâng độ
pH lên rất cao bằng cách bổ sung 1 gam hỗn hợp gồm: canxi cacbonat 40 %, magie
trisilicate 17 % và cao lanh 43 %. Tác giả nhận thấy, tỷ lệ nhiễm H. meleagridis ở gà
tăng lên. Kết quả, H. meleagridis có thể sống sót ở nồng độ pH cao.