Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào do Leucocytozoon spp. gây ra ở gà nuôi tại huyện Phú Bình, trại gà tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh - Pdf 29

74 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM



LÊ THÁI HỌC Tên đề tài:
"NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH ĐƠN BÀO DO
LEUCOCYTOZOON SPP. GÂY RA Ở GÀ NUÔI TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH,
TRẠI GÀ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN VÀ
THỬ NGHIỆM PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Thú y
Khoa : Chăn nuôi Thú y
Khoá học : 2009 - 2013 Hệ đào tạo :

Chính quy
Chuyên ngành

:

Thú y
Khoa :

Chăn nuôi Thú y
Khoá học :

2009 - 2013

Giảng viên hướng dẫn: TS. Đỗ Quốc Tuấn
Th.S Dương Thị Hồng Duyên

Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Thái Nguyên, 2013
66

67

LỜI NÓI ĐẦU

Thực hiện phương châm "Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với
thực tiễn sản xuất", thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng của chương
trình đào tạo ở các trường Đại học nói chung và trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên nói riêng. Giai đoạn thực tập đóng vai trò rất quan trọng đối với
mỗi sinh viên trước khi ra trường. Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng
cố và hệ thống hóa những kiến thức đã học, đồng thời làm quen với phương
pháp nghiên cứu khoa học và tiếp cận thực tiễn sản xuất. Qua đó, giúp sinh
viên nâng cao lý luận chuyên môn và kinh nghiệm cho bản thân.
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y, sự hướng dẫn tận tình của
thầy giáo TS. Đỗ Quốc Tuấn, cô giáo ThS. Dương Thị Hồng Duyên và sự
tiếp nhận của Trạm thú y huyện Phú Bình, tôi tiến hành thực hiện đề tài:
"Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào do Leucocytozoon spp. gây ra ở
gà nuôi tại huyện Phú Bình, trại gà tại trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên và thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh”.
Do bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học nên bản
khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Tôi kính mong
nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để
khóa luận của tôi hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

68

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bình 41
Hình 4.4: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon theo tháng của gà tại trại gà
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 43
Hình 4.5: Biểu đồ tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tuổi 45
Hình 4. 6: Biểu đồ so sánh tỷ lệ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà giữa các
phương thức chăn nuôi khác nhau 48
70

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Cs : Cộng sự
C : Culicoides
H : Huyện
L : Leucocytozoon
Nxb : Nhà xuất bản
n : Dung lượng mẫu
S : Simulium
spp : species
VSTY : Vệ sinh thú y
71

MỤC LỤC

Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU
1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

3.4.2. Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh Leucocytozoon ở gà tại một số xã
thuộc huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên và trại gà trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên. 27
3.4.3. Nghiên cứu phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoon cho gà tại 27
3.5. Phương pháp nghiên cứu 28
3.5.1. Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm
Leucocytozoon ở gà tại một số xã thuộc huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên
và trại gà tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 28
3.5.2. Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm
Leucocytozoon ở gà theo tháng trong năm 30
3.5.3. Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm
Leucocytozoon ở gà theo tuổi gà 30
3.5.4. Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm
Leucocytozoon ở gà theo phương thức chăn nuôi 31
3.5.5. Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm
Leucocytozoon theo tình trạng vệ sinh thú y 31
3.5.6. Bố trí theo dõi và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm
Leucocytozoon ở gà theo loại gà 32
3.5.7. Phương pháp đánh giá hiệu lực và độ an toàn của 3 phác đồ điều trị
bệnh Leucocytozoon trên gà thí nghiệm 32
Phần 4
:
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
34
4.1. Thành phần loài đơn bào Leucocytozoon gây bệnh ở gà tại một số xã
thuộc huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên và trại gà tại trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên 34
4.2. Đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà tại một số xã thuộc
huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên và trại gà tại trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên 35

5.2. Đề nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
I. Tài liệu tiếng Việt 58
II. Tài liệu tiếng Anh 59
III. Tài liệu mạng 61
1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề
Ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng đang chiếm
một vị trí quan trọng và luôn được quan tâm hàng đầu. Là nguồn cung cấp
thịt, trứng, phân bón, lông,… cho ngành công nghiệp chế biến, ngành nông
nghiệp, là ngành cung cấp thực phẩm cần thiết và chủ yếu cho xã hội. Thịt và
trứng gia cầm là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, tương đối đầy đủ và
cân bằng về các loại axit amin thiết yếu, đồng thời dễ chế biến, dễ ăn, ngon
miệng và phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng ở mọi lứa tuổi.
Chính vì vậy, chăn nuôi gia cầm ngày càng có những bước phát triển
vượt bậc về cả số lượng và chất lượng, đóng vai trò không thể thiếu trong sự
phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện kinh tế gia đình, góp phần vào việc xóa
đói giảm nghèo tại các địa phương.
Huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên là một huyện miền núi với gần 80%
dân số làm nông nghiệp. Sự phát triển nhanh của đàn gà huyện Phú Bình - tỉnh
Thái Nguyên trong những năm gần đây đã góp phần quan trọng trong việc nâng
cao hiệu quả kinh tế và cải thiện đời sống của nhiều hộ chăn nuôi trong huyện.
Tuy nhiên trong nhiều năm qua, dịch bệnh vẫn thường xuyên xảy ra. Theo Phạm
Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2002)[10], ngành chăn nuôi gia cầm nước ta còn gặp
một số trở ngại do dịch bệnh thường xuyên xảy ra, trong đó trước hết phải kể
đến bệnh ký sinh trùng. Đàn gia cầm thường nhiễm ký sinh trùng với tỷ lệ và

Kết quả của đề tài là cơ sở để khuyến cáo người chăn nuôi gà áp dụng
các biện pháp phòng trị bệnh đơn bào Leucocytozoon, nhằm hạn chế tỷ lệ
nhiễm Leucocytozoon cho gà, hạn chế thiệt hại do Leucocytozoon gây ra, góp
phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi gà nói riêng và
chăn nuôi gia cầm nói chung phát triển.
3

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Tình hình chăn nuôi gà trên thế giới và trong nước
2.1.1. Tình hình chăn nuôi gà trên thế giới
Theo thống kê của tổ chức Nông lương thế giới - FAO năm 2011 số
lượng gà là 20.708,003 triệu con, đây là một con số không nhỏ đóng góp vào
nền chăn nuôi thế giới. Hiện nay các quốc gia có số lượng gà lớn nhất thế giới
được tổng hợp như sau :
Xếp hạng

Tên quốc gia Số lượng gà (triệu con)
1 Trung Quốc 5.230,000
2 Hoa Kỳ 2.080,000
3 Indonesia 1.427,161
4 Brazin 1.268,209
5 Ấn Độ 942,000
(Nguôn: FAOSTAT - 2013)
Với số lượng vật nuôi như trên, tổng sản lượng thịt sản xuất năm 2009
của thế giới trên 281 triệu tấn trong đó thịt gà chiếm 79,5 triệu tấn góp phần
không nhỏ vào sản lượng thịt của toàn thế giới.
Trứng gia cầm: Tổng sản lượng toàn thế giới năm 2011 là 65,18 triệu
tấn. Tám quốc gia có sản lượng trứng đứng đầu thế giới là:

chăn nuôi gắn liền với tự nhiên đang được đặt ra cho thế kỉ 21 là không chăn
nuôi gà công nghiệp trên lồng tầng và không chăn nuôi heo trên nền xi măng.
Tuy nhiên năng suất của chăn nuôi hữu cơ thấp làm cho giá thành sản phẩm
thường cao là mâu thuẫn với chăn nuôi quy mô công nghiệp, quy mô lớn do đó
đang là thách thức của nhân loại trong mở rộng và phổ cập chăn nuôi hữu cơ.
Như vậy, chăn nuôi gà trên thế giới có xu hướng phát triển mạnh, đóng
góp một phần không nhỏ vào nền chăn nuôi toàn cầu. Ngày nay, chăn nuôi gà
đang phát triển theo hướng đảm bảo kinh tế cao nhưng đảm bảo phát triển
theo xu thế chất lượng cao, an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường.
2.1.2. Tình hình chăn nuôi gà tại Việt Nam
Căn cứ vào các di chỉ khảo cổ khai quật được, nhiều nhà khoa học
khẳng định rằng nghề nuôi gà ở Việt Nam đã xuất hiện cách đây khoảng
3200 - 3500 năm trước và vùng nuôi gà sớm nhất là vùng giữa núi Ba Vì và
núi Tam Đảo. Bên cạnh nghề chăn nuôi gà truyền thống từ năm 1974 Việt
Nam đã dần hình thành ngành chăn nuôi gà công nghiệp. Mặc dù chưa phát
5

triển tới trình độ cao, song nó đã sản xuất đạt tới 25,6 % số lượng gà tại
Việt Nam. Sau ngành chăn nuôi lợn, ngành chăn nuôi gà chiếm vị trí số hai
(gần 19 %) tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi. Chính vì lẽ đó có thể
nói chăn nuôi gà là ngành kinh tế không thể thiếu trong nền sản xuất nông
nghiệp ở Việt Nam.
Theo thống kê số lượng gà theo 6 vùng trên cả nước (năm 2012) cho
thấy hai vùng nuôi gà lớn nhất là Đồng bằng Sông Hồng và khu vực Trung du
và miền núi phía Bắc.
Tên vùng Số lượng gà ( triệu con)
Đồng bằng sông Hồng 59,9
Trung du và miền núi phía Bắc 53,7
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 46,1
Tây Nguyên 11,8

trùng) (Dương Công Thuận, 1995) [20].
Bệnh do đơn bào Leucocytozoon gây ra có ở nhiều nước trên thế giới. Tỷ
lệ lưu hành Leucocytozoon trên đàn gà ở một số nước Châu Á khá cao: ở Trung
Quốc (7,1%), Thái Lan (13 - 18%), Malaysia (15 - 31%). Leucocytozoon ký sinh
trong hồng cầu gà, đôi khi ký sinh trong bạch cầu (tùy theo loài), làm tan vỡ
hồng cầu, gây bần huyết và gây chết gà với tỷ lệ cao, ảnh hưởng đến thu nhập
của người chăn nuôi gà. Bệnh cũng được phát hiện ở nhiều loài chim hoang dã.
2.2.1. Đặc điểm của đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở gà
2.2.1.1. Vị trí của đơn bào Leucocytozoon trong hệ thống phân loại động vật
Đơn bào nói chung là những nguyên sinh động vật không có khí quan di
động, thân thể khi thì trần và có thể biến dạng được, khi thì có màng bọc và có
hình dạng nhất định. Đơn bào sống ký sinh ở các tế bào, các mô hay dịch thể, có
thể suốt đời hoặc những giai đoạn đầu của nó. Chúng tự nuôi dưỡng bằng cách
thẩm thấu dinh dưỡng chiếm đoạt của ký chủ qua bề mặt cơ thể.
Các loài đơn bào thuộc giống Leucocytozoon ký sinh trong máu của
nhiều loài gia cầm, thủy cầm, chim và nhiều loài chim hoang dã. Gà là vật
chủ cảm thụ đơn bào Leucocytozoon mạnh nhất. Bệnh được Ziemann phát
hiện lần đầu tiên vào năm 1898. Từ đó đến nay, trên thế giới đã có nhiều công
trình nghiên cứu về bệnh.
Theo Levine N. D. (1985) [28], Leucocytozoon gây bệnh cho gà có vị
trí trong hệ thống phân loại như sau:
7

Ngành Protozoa
Lớp Sporozoa
Bộ Haemosporidia
Họ Leucocytozoidae
Giống Leucocytozoon
Loài Leucocytozoon caullergyi (Mathis et Leger, 1909)
Leucocytozoon sabrazeis (Mathis et Leger, 1910)

Theo Phạm Sỹ Lăng và Tô Long Thành (2006) [12]; Phạm Sỹ Lăng và
cs (2008) [16], hai loài L. caullergyi và L. sabrazeis có hình dạng gần giống
nhau, chỉ khác về tính chất gây bệnh. Chúng có dạng hình cầu, hình bầu dục,
hình lưỡi liềm; kích thước 20 x 5 µm, không có sắc tố khi nhuộm Giemsa, ký
sinh ở hồng cầu của gà, gà rừng.
2.2.1.3. Vòng đời của Leucocytozoon ở gà
Saif Y. M. (2003) [36] cho rằng: giai đoạn sinh bào tử diễn ra trên vật
chủ trung gian và có thể được hoàn thành sau 3 - 4 ngày. Noãn nang phát triển
và có thể tìm thấy trong đường tiêu hóa của dĩn (véc tơ trung gian truyền
bệnh) trong vòng 12 giờ sau khi dĩn hút máu. Sau đó các noãn nang này di
chuyển đến tuyến nước bọt của dĩn, có thể tìm thấy noãn nang ở tuyến nước
bọt dĩn sớm nhất sau khi dĩn hút máu gà bệnh 18 ngày.
Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [11] cho biết: các loài Leucocytozoon có
vòng đời rất phức tạp, cần vector trung gian truyền bệnh là các loài dĩn thuộc
giống Simulium spp. và Culicoides spp. Tùy đặc điểm thời tiết, khí hậu của
từng vùng sinh thái khác nhau mà thành phần loài dĩn cũng thay đổi.
Sau khi mầm bệnh xâm nhập vào dĩn do dĩn hút máu gà bệnh, các tiểu
thể (Merozoite) phát triển qua một số giai đoạn ở vách dạ dày của dĩn thành
noãn nang và cuối cùng thành thể bào tử (Sporozoite). Thể bào tử chuyển lên
tuyến nước bọt của dĩn sau thời gian phát triển khoảng 25 ngày. Khi dĩn hút
máu các loài vật chủ (gà, các loài gia cầm khác và chim hoang dã) sẽ truyền
mầm bệnh vào máu của vật chủ.
Các bào tử từ máu xâm nhập vào các tế bào nội quan như: gan, lách,
phổi, thận, tổ chức cơ để trở thành giao tử (Schizont). Các giao tử vào hồng
cầu phát triển thành tiểu thể (Merozoite), giao tử thể (Gametocyte), đại giao tử
(Marcrogametocyte) và tiểu giao tử (Mircrogametocyte).
Khi dĩn hút máu gia cầm bệnh, vào cơ thể dĩn, các tiểu thể lại phát triển
thành noãn nang (Oocyste), rồi bào tử (Sporozoite) trong vách dạ dày dĩn và
vòng đời lại được lặp lại.
9

vào hồng cầu khác và tiếp tục phát triển theo chu kỳ tương tự.
Sau một số chu kỳ, có những Merozoite tiếp tục xâm nhập vào hồng
cầu, nhưng không tạo thành các thể Merozoite nữa mà phát triển thành thể có
10

giới tính: Gametocyte (Macrogametocyte - giao tử cái và Microgametocyte -
giao tử đực). Sau đó giao tử đực và giao tử cái kết hợp với nhau tạo thành hợp
tử (Zygote), gây phá vỡ hồng cầu và di chuyển trong máu.
Khi ký chủ trung gian là dĩn hút máu gia cầm, mầm bệnh sẽ vào ký chủ
trung gian và tiếp tục vòng đời.
Trong ký chủ trung gian, hợp tử nở ra và phát triển thành dạng trưởng
thành (thoi trùng). Chúng di chuyển lên tuyến nước bọt của dĩn và cư trú ở đó.
Khi dĩn hút máu gia cầm, các thoi trùng theo tuyến nước bọt vào máu
của gia cầm và bắt đầu vòng đời mới.


bào máu và theo máu đi khắp cơ thể. Từ đây, chúng phát triển theo hai hướng:
Hướng thứ nhất: Chúng chui vào và ký sinh trong các tế bào máu, sinh
trưởng và phát triển theo phương thức tự nhân đôi để tạo ra các thể phân lập thế
hệ 1 (Schizont - 1). Các Schizont thế hệ 1 này lớn lên nhanh chóng và tiết ra một
chất làm tan hồng cầu, chất đó được gọi là chất kháng hồng cầu (anti -
erythrocyte). Dưới tác động cơ học của nhiều thể phân lập đã sinh ra trong mỗi
12

hồng cầu, và dưới tác động của chất kháng hồng cầu, một số lượng lớn hồng cầu
bị phá vỡ và giải phóng ra nhiều thể phân lập thế hệ 1, đây là nguyên nhân chính
dẫn đến thiếu máu, tăng Hemobilirubin, máu trở nên loãng, nhớt và khó đông.
Các thể phân lập thế hệ 1 lập tức tấn công và ký sinh tiếp vào các tế bào hồng
cầu mới, chúng lớn lên và lại nhân đôi để hình thành thể phân lập thế hệ 2
(Schizont - 2), cứ tiếp tục như vậy chúng hình thành thể phân lập thế hệ 3
(Schizont - 3) thì dừng lại và bắt đầu hình thành các giao tử (Gametocyte). Giao
tử đực có kích thước nhỏ gọi là Microgametocyte và giao tử cái có kích thước
lớn hơn gọi là Macrogametocyte. Kết thúc giai đoạn sinh sản vô tính và bắt đầu
giai đoạn sinh sản hữu tính.
Giai đoạn sinh sản hữu tính xảy ra trong các tế bào hồng cầu. Giao tử
đực chui vào giao tử cái để thụ tinh và hình thành nên hợp tử. Hợp tử được bọc
bởi một màng và được gọi là bào tử, có kích thước trung bình 14,5 - 5,5 µm.
Sau đó, chúng phát triển thành các bào tử hình thoi, có kích thước lên đến 45
µm. Chỉ có các thoi trùng này mới có khả năng lây truyền thông qua côn trùng
hút máu gia cầm bệnh và truyền thoi trùng gây bệnh cho gia cầm khỏe.
Hướng thứ hai: Sau khi các thoi trùng theo máu di hành khắp các nơi
trong cơ thể, một phần chúng cư trú tại các cơ quan như lách, thận, phổi, gan,
dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, buồng trứng, ống dẫn trứng và não. Tại
đây, chúng lột xác và chui vào ký sinh trong các tế bào nội mô, tế bào lưới và
đại thực bào của các cơ quan kể trên của gia cầm thụ cảm. Trong các tế bào
đó chúng bắt đầu sinh trưởng, lớn lên và sinh sản theo phương thức tự nhân

Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [11] cho rằng: gà bị bệnh đơn bào
đường máu Leucocytozoon ở thể cấp tính có thể chết đột ngột do xuất
huyết các nội quan và thiếu máu cấp. Gà mái giảm đẻ hoặc ngừng đẻ, kém
ăn, giảm tăng trọng và gầy yếu nhanh. Gà mắc bệnh sẽ chết sau 3 - 6 ngày
với tỷ lệ tới trên 50% số gà bị bệnh.
Lê Văn Năm (2011) [16] cho biết: tại một số địa phương như Bắc
Giang, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hải Dương, Vĩnh Phúc, bệnh đơn bào
Leucocytozoon xuất hiện ở hầu hết các đàn gà nuôi thả vườn với tỷ lệ dao
động từ 40 - 70%, gây thiệt hại vô cùng to lớn cho người chăn nuôi.
2.2.2.2. Dịch tễ học bệnh Leucocytozoon ở gà
Lê Đức Quyết và cs (2009) [18] cho biết: tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon
phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố như: tuổi gia cầm, giống, địa hình, vùng sinh
thái, phương thức chăn nuôi…
Theo Lê Văn Năm (2011) [16], bệnh do Leucocytozoon gây ra có tính
chu kỳ rõ rệt, phụ thuộc vào mùa sinh sản và phát triển của côn trùng hút máu
truyền bệnh.
14

Loài gây bệnh và động vật mắc bệnh
Trong tự nhiên, gà, gà rừng, chim trĩ và các loài chim thuộc bộ gà
(Galliformes) đều có thể bị bệnh. Bệnh từ gà nhà có thể truyền lây sang gà
rừng qua ký chủ trung gian và ngược lại.
Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) [11]; (2010) [15] cho rằng: có 4 loài đơn
bào giống Leucocytozoon chủ yếu ký sinh và gây bệnh cho gà:
* Leucocytozoon caulleryi (Mathis et Leger, 1909)
Loài này ký sinh và gây bệnh cho gà nhà, gà rừng ở các nước thuộc
Đông và Đông Á: Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam, các bang thuộc
khu vực Bắc Mỹ.
Véc tơ truyền Leucocytozoon caulleryi cho gà là các loài dĩn thuộc
giống Culicoides như: C. arakava, C. circumscriptus, C. odibilis.

trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn tới khả năng nhiễm bệnh Leucocytozoon
của gà. Điều này có liên quan mật thiết với sự tồn tại và phát triển của các loài
dĩn hút máu - Véc tơ truyền bệnh.
Yếu tố stress: các yếu tố strees như chuồng trại chật chội, khí hậu ẩm,
thấp, thức ăn kém dinh dưỡng đóng vai trò thúc đẩy mức độ và tốc độ lây
lan bệnh Leucocytozoon ở gà.
2.2.2.3. Cơ chế sinh bệnh của bệnh Leucocytozoon
Bệnh lây truyền từ gà bệnh sang gà khoẻ qua đường máu nhờ vật chủ
trung gian là các loài dĩn thuộc họ Culicoides spp. và Simulium spp Dĩn hút
máu của gà bệnh có đơn bào ký sinh trong máu. Vào cơ thể dĩn, đơn bào phát
triển qua 3 giai đoạn, cuối cùng thành bào tử nằm ở tuyến nước bọt của dĩn.
Khi dĩn mang mầm bệnh hút máu gà khoẻ, bào tử sẽ được truyền cho gà khoẻ
và gây bệnh cho gà.
Các bào tử xâm nhập vào các tế bào nội quan như: gan, lách, phổi,
thận, tổ chức cơ để trở thành bào tử (Schizont); các bào tử vào hồng cầu phát
triển thành tiểu thể (Merozoite), giao tử thể (Gametocyte), đại giao tử
(Marcrogametocyte) và tiểu giao tử (Mircrogametocyte). Chúng phát triển,
phá huỷ tế bào hồng cầu và gây hoại tử các cơ quan tổ chức, đặc biệt là lách
và gan. Đồng thời chúng tiết ra chất antierythrocyte làm tan hồng cầu.
2.2.2.4. Triệu chứng và bệnh tích bệnh Leucocytozoon
* Triệu chứng bệnh Leucocytozoon
Orlov F. M. (1975) [17] cho biết: gà tây thường mắc bệnh trước 12 tuần
tuổi. Gà bệnh bỏ ăn, suy yếu toàn thân, ít vận động, rối loạn vận động. Gà tây bắt
đầu chết từ 2 - 3 ngày sau khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên.

Trích đoạn Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoo nở gà theo tình trạng vệ sinh Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo loại gà an toàn của ba phác đồ điều trị bệnh đơn bào Leucocytozoon Đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào đường máu Leucocytozoo nở gà
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status