NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, ỨNG DỤNG KIT CHẨN ĐOÁN BỆNH TIÊN MAO TRÙNG DO TRYPANOSOMA EVANSI GÂY RA Ở TRÂU, BÒ MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ - Pdf 13



i

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
ĐỖ THỊ VÂN GIANG

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, ỨNG DỤNG KIT CHẨN
ĐOÁN BỆNH TIÊN MAO TRÙNG DO TRYPANOSOMA
EVANSI GÂY RA Ở TRÂU, BÒ MỘT SỐ TỈNH MIỀN NÚI
PHÍA BẮC VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ LUẬN ÁN TIẾN SĨ THÚ Y

LUẬN ÁN TIẾN SĨ THÚ Y
Người hướng dẫn khoa học: 1. GS. TS. Nguyễn Thị Kim Lan
2. TS. Nguyễn Quốc Doanh

THÁI NGUYÊN - 2014

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chúng tôi. Các số liệu và
kết quả nghiên cứu trong luận án này là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố
trong bất kỳ công trình nào khác. Mọi thông tin trích dẫn trong luận án đều được chỉ
rõ nguồn gốc.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu và
hoàn thành Luận án đều đã được cảm ơn.

Thú y Trung Ương, TS. Phạm Thị Tâm - Phó chủ nhiệm khoa Công nghệ Sinh học -
Viện Đại Học Mở đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn các em sinh viên Khóa 39, 40, 41 chuyên ngành
Thú y và Chăn nuôi Thú y đã giúp tôi thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa cùng các thầy,
cô Khoa Kỹ thuật Nông Lâm - trường CĐ Kinh tế - Kỹ thuật - ĐH Thái Nguyên đã tạo
mọi điều kiện giúp đỡ để tôi được theo học và hoàn thành chương trình đào tạo.
Tôi vô cùng biết ơn các thành viên trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã
luôn ở bên tôi, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận án.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013
NGHIÊN CỨU SINH iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

- : Đến
% : Tỷ lệ phần trăm
CS : Cộng sự
Nxb : Nhà xuất bản
TMT : Tiên mao trùng
ĐC : Đối chứng
SGN : Sau gây nhiễm
EPC : Kháng thể đối chứng dương
ENC : Kháng thể đối chứng âm
mg : Miligam
kg TT : kg thể trọng
TP. : Thành phố
spp. : species plural

68

Bảng 3.5.
Tỷ lệ phát bệnh tiên mao trùng ở trâu theo mùa vụ
69

Bảng 3.6.
Kết quả định danh, sự phân bố và tần suất xuất hiện
các loài ruồi, mòng hút máu
71

Bảng 3.7.
Tỷ lệ loài ruồi, mòng trong số mẫu thu thập
ở các địa phương nghiên cứu
78

Bảng 3.8. Quy luật hoạt động theo tháng của các loài ruồi, mòng hút máu
81

Bảng 3.9.
Quy luật hoạt động của các loài ruồi, mòng hút máu
82

Bảng 3.10.

Thời gian T. evansi xuất hiện trong máu chuột bạch sau gây nhiễm
84

Bảng 3.11.


93

Bảng 3.17.

Thời gian xuất hiện và triệu chứng lâm sàng chủ yếu ở thỏ gây nhiễm

95

Bảng 3.18.

Bệnh tích đại thể chủ yếu của thỏ bị bệnh TMT do gây nhiễm
96

Bảng 3.19.

Thời gian T. evansi bắt đầu xuất hiện và th
ời gian trâu gây nhiễm
có biểu hiện lâm sàng
97

Bảng 3.20.

Triệu chứng lâm sàng chủ yếu ở trâu gây nhiễm
101

Bảng 3.21.

Sự thay đổi một số chỉ tiêu sinh lý máu trâu sau gây nhiễm
102


Thời gian sạch T. evansi trong chuột khi sử dụng thuốc trypanosoma
111

Bảng 3.28.

Thời gian sạch T. evansi trong chuột khi sử dụng thuốc azidin
112

Bảng 3.29.

Thời gian sạch T. evansi trong chuột
khi sử dụng thuốc trypamidium samorin
113

Bảng 3.30.

Thời gian sạch T. evansi trong chuột khi sử dụng thuốc diminavet

114

Bảng 3.31.

Hiệu lực của 3 phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò
116

vi


Biểu đồ tỷ lệ các loại bạch cầu của trâu gây nhiễm T. evansi
so với trâu đối chứng
105

Hình 3.8
Biểu đồ về hiệu lực của 3 phác đồ điều trị bệnh TMT cho trâu, bò 116

vii

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……………………………………………………………………………1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu đề tài 3
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
4. Những đóng góp mới của đề tài 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1.1. Đặc điểm hình thái, cấu trúc và phân loại tiên mao trùng 4
1.1.2. Dịch tễ học bệnh tiên mao trùng 8
1.1.3. Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh 14
1.1.4. Chẩn đoán bệnh tiên mao trùng 17
1.1.5. Phòng, trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò, ngựa 22
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH TIÊN MAO TRÙNG 27
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 27
1.2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 31
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 46

2.4.9. Một số quy định trong nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh tiên mao trùng 60
2.5. Phương pháp xử lý số liệu 60
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 61
3.1. NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH TIÊN MAO TRÙNG Ở TRÂU,
BÒ TẠI 4 TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC 61
3.1.1. Định danh loài tiên mao trùng phân lập từ trâu, bò ở 4 tỉnh miền núi phía Bắc 61
3.1.2. Tình hình nhiễm tiên mao trùng ở trâu, bò tại 4 tỉnh miền núi phía Bắc 62
3.1.3. Nghiên cứu về ruồi, mòng hút máu truyền bệnh tiên mao trùng 71
3.2. KHẢ NĂNG GÂY BỆNH CỦA T. EVANSI TRÊN MỘT SỐ ĐỘNG VẬT
GÂY NHIỄM 84
3.2.1. Khả năng gây bệnh của T. evansi trên chuột bạch 84
3.2.2. Khả năng gây bệnh của T. evansi trên thỏ 91
3.2.3. Khả năng gây bệnh của T. evansi trên trâu 97
3.3. ỨNG DỤNG KIT TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH TIÊN MAO TRÙNG Ở CÁC
ĐỊA PHƯƠNG 107
3.3.1. Tỷ lệ phát hiện của kit trong số mẫu huyết thanh dương tính 107
3.3.2. Ứng dụng kit trong chẩn đoán bệnh tiên mao trùng 109
3.4. XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG MẪN CẢM CỦA T. EVANSI VỚI MỘT SỐ LOẠI
THUỐC TRÊN CHUỘT BẠCH 110 ix

3.4.1. Xác định khả năng mẫn cảm của T. evansi với thuốc trypanosoma trên chuột
bạch . …………………………………………………………………………….110
3.4.2. Xác định khả năng mẫn cảm của T. evansi với thuốc azidin trên chuột
bạch ………………………………………………………………………………112
3.4.3. Xác định khả năng mẫn cảm của T. evansi với thuốc trypamidium samorin
trên chuột bạch ………………………………………………………………… 113
3.4.4. Xác định khả năng mẫn cảm của T. evansi với thuốc diminavet trên chuột

Cũng theo báo cáo của các tác giả trên, tỷ lệ mắc Trypanosoma evansi ở gia
súc vùng núi và trung du cao hơn các vùng đồng bằng và ven biển. Trong khi đó, ở
nước ta, chăn nuôi gia súc nhai lại để cung cấp sức kéo, thịt, sữa lại tập trung chủ
yếu ở các tỉnh miền núi và trung du - là các vùng có điều kiện tự nhiên thích hợp để
chăn nuôi gia súc nhai lại, nhưng cơ sở hạ tầng phục vụ công tác chẩn đoán và điều
trị tại địa phương còn yếu kém, dẫn tới hệ quả là bệnh tiên mao trùng trở nên phổ
biến hơn, nghiêm trọng hơn và gây thiệt hại lớn hơn.
Hiện nay, các phương pháp chẩn đoán bệnh tiên mao trùng được sử dụng ở
nước ta gồm: phương pháp chẩn đoán lâm sàng, tiêm truyền động vật thí nghiệm,
phương pháp chẩn đoán huyết thanh học, phương pháp chẩn đoán sinh học phân tử. 2

Trong đó, phương pháp chẩn đoán huyết thanh học được đánh giá là có độ nhạy và
độ đặc hiệu cao, cho kết quả nhanh, có khả năng chẩn đoán với số lượng mẫu lớn
trong thời gian ngắn.
El Rayah I. E. và cs. (1999) [75] đã thử nghiệm khả năng điều trị bệnh tiên
mao trùng của suramin, một loại thuốc đã không được sử dụng ở Sudan kể từ năm
1975. Kết quả cho thấy khả năng điều trị bệnh tiên mao trùng của Suramin không
cao. Kết quả nghiên cứu của Payne R. C. và cs. (1994) [138], Laha R. và Sasmal N.
K. (2008) [101], Desquesnes M. và cs. (2011) [69]… đều thấy, có sự tái nhiễm bệnh
sau khi sử dụng một số loại thuốc trị tiên mao trùng. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến
hiệu quả điều trị của thuốc không cao, trong đó khả năng kháng thuốc của tiên mao
trùng là điều mà nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm.
Khả năng phát sinh và phát triển bệnh tiên mao trùng phụ thuộc vào điều kiện
thời tiết, khí hậu, tập quán chăn nuôi và chế độ làm việc của gia súc. Sự thay đổi các
điều kiện trên ảnh hưởng đến khả năng gây bệnh cũng như đặc điểm dịch tễ bệnh.
Hiện nay, việc mở cửa thương mại, phát triển du lịch cũng dẫn tới sự du nhập các
tác nhân gây bệnh mới, hoặc có thể tạo nên các biến chủng gây bệnh mới làm cho

trâu, bò phát triển.
4. Những đóng góp mới của đề tài
- Là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về đặc điểm dịch tễ, bệnh học,
chẩn đoán và biện pháp phòng trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò ở một số tỉnh
miền núi phía Bắc Việt Nam.
- Xác định được khả năng mẫn cảm của T. evansi với một số loại thuốc diệt
tiên mao trùng.
- Xác định được hiệu quả của kit huyết thanh trong chẩn đoán bệnh tiên mao
trùng cho trâu, bò.
- Bước đầu đề xuất biện pháp phòng trị bệnh tiên mao trùng cho trâu, bò có
hiệu quả, khuyến cáo áp dụng rộng rãi tại các địa phương.
4

Chương I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Bệnh tiên mao trùng được Blanchard (1888) phát hiện đầu tiên ở Việt Nam. Sau
đó, bệnh được thấy phổ biến ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước. Bệnh do loài tiên
mao trùng Trypanosoma evansi gây ra. Trâu, bò, ngựa mắc bệnh bị thiếu máu, suy
nhược, giảm hoặc mất khả năng sinh sản và sức sản xuất, nếu mắc bệnh nặng súc vật
dễ chết.
1.1.1. Đặc điểm hình thái, cấu trúc và phân loại tiên mao trùng
1.1.1.1. Phân loại tiên mao trùng ký sinh ở gia súc
Theo Levine (1980) (dẫn theo Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương, 1997) [9],
vị trí của tiên mao trùng trong hệ thống phân loại nguyên bào (Protozoa) như sau:
Ngành Sarcomastigophora

Loài Trypanosoma (P) suis
Giống phụ Trypanosoma Gruby, 1843
Loài Trypanosoma rotatorium
Trong các loài tiên mao trùng trên, có 3 loài được tổ chức dịch tễ thế giới
(OIE) thông báo là có khả năng gây bệnh cho người và động vật có vú, đó là: T.
rhodesiense, T. cruzi, T. gambiense.
1.1.1.2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của tiên mao trùng Trypanosoma evansi
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (1999) [11]: đặc điểm hình thái, cấu tạo của
tiên mao trùng như sau: Cơ thể có hình thoi, dài 18 - 34 m. Giữa có một nhân, phía
cuối cơ thể có một roi, roi này chạy dọc theo thân và tạo thành nhiều màng rung động,
cuối cùng roi lơ lửng ở phần đầu và thành roi tự do. Tiên mao trùng di chuyển được là
nhờ roi và màng rung động. Trên tiêu bản máu tươi, tiên mao trùng di chuyển nhanh
trong huyết tương. Khi phết kính, nhuộm Giemsa thấy nguyên sinh chất của tiên mao
trùng bắt màu xanh nhạt, nhân bắt màu hồng.
Phạm Sỹ Lăng và Lê Văn Tạo (2002) [18] cho biết: tiên mao trùng có kích
thước: 18 - 34 x 2,5 μm, có hình mũi khoan, di động được trong máu nhờ một roi tự
do xuất phát từ phía sau thân, chạy vòng quanh thân tạo thành một màng rung. Khi
rung động, roi tự do vung ra phía trước và màng rung chuyển động giúp cho tiên mao
trùng di chuyển nhanh trong máu vật chủ.
Cấu trúc cơ bản của T. evansi cũng giống như cấu trúc của các loài tiên mao
trùng khác thuộc họ Trypanosomatidae. Cấu trúc từ ngoài vào trong được chia thành
3 phần chính: 6

Vỏ: Ngoài cùng là lớp vỏ dày 10 - 15 nm, vỏ được chia làm 3 lớp (lớp ngoài,
lớp giữa và lớp trong; lớp ngoài và lớp trong tiếp giáp với nguyên sinh chất dày hơn
lớp giữa). Lớp vỏ ngoài cùng được cấu tạo từ các phân tử glycoprotein luôn biến
đổi (Variant Glycoprotein Surface -VGS). Tiếp giáp với lớp trong cùng là 9 cặp vi

7

Nhờ kháng thể đặc hiệu được đánh dấu mà Vickerman và Luckins (1969) đã
phát hiện ra sự biến đổi của lớp kháng nguyên bề mặt. Cross (1975) đã mô tả lớp áo
bề mặt của tiên mao trùng có thành phần là glycoprotein bao phủ toàn bộ bề mặt tế
bào bằng một lớp phân tử giống nhau (mỗi tiên mao trùng có 107 phân tử). Lớp áo
bề mặt này kích thích cơ thể vật chủ tạo ra kháng thể đặc hiệu với từng type kháng
nguyên biến đổi VAT (Variable Antigen Type). Chỉ có kháng nguyên biến đổi mới
có khả năng kích thích vật chủ tạo miễn dịch chủ động. Người ta ước lượng rằng,
một con tiên mao trùng có ít nhất vài trăm hoặc vài nghìn VSG, nghĩa là 5 - 10% số
gen của tiên mao trùng được biểu hiện ở kháng nguyên bề mặt này.
- Cơ chế di truyền của kháng nguyên biến đổi
Khi kháng thể đặc hiệu kết hợp với phân tử của kháng nguyên bề mặt (VSG),
làm tiêu tan tiên mao trùng thì đó cũng là nguyên nhân chính thúc đẩy sự hoạt hoá
của gen. Kết quả là các phân tử kháng nguyên VSG được thay đổi hoàn toàn bằng
các phân tử VSG mới. Lúc này, kháng thể đặc hiệu lúc trước đã không còn tác dụng
đối với kháng nguyên mới này.
Theo Barry J. D. và Tumer C. M. R. (1991) [49], Vanhamme và cs. (1995)
[165], các VSG được mã hoá nhờ các gen chuyên biệt. Mỗi gen VSG được hoạt hoá
một cách chọn lọc, dẫn đến tổng hợp ra một loại kháng nguyên VSG. Mỗi gen VSG
mới tạo ra một loại kháng nguyên VSG mới. Trong bộ gen của tiên mao trùng tồn tại
một số lớn gen VSG, các gen này có nhiều cơ chế sắp xếp khác nhau, do vậy ở gia
súc bị bệnh mãn tính tiên mao trùng có thể tạo ra nhiều VSG khác nhau. Cơ chế biến
đổi kháng nguyên theo 2 cách: cách thứ nhất là, sử dụng lần lượt các điểm biểu hiện
khác nhau, không có sự sắp xếp của AND. Các điểm biểu hiện khác nhau sẽ mang
các gen VSG khác nhau, sự luân phiên này dẫn đến sự thay đổi type kháng nguyên.
Cơ chế nói trên quan sát được chủ yếu ở giai đoạn đầu của quá trình cảm nhiễm. Có
lẽ ở giai đoạn đầu chưa có đáp ứng miễn dịch của vật chủ đối với VSG, điều này
không gây ra một cản trở hoạt hoá tự nhiên của các điểm biểu hiện gen này. Cách thứ
hai là, tập hợp các đoạn AND khác nhau để tái tổ hợp gen, mà việc tái tổ hợp này cho

lệ chết cao nhất lại là ở ngựa và ít hơn ở trâu, bò (Manuel M . F., 1998 [108]).

Mekata H. và cs. (2009) [109] đã phân lập được 10 chủng T. evansi gây bệnh
cho trâu tại Philippines và cho biết, độc lực của mỗi chủng là khác nhau khi gây
bệnh cho chuột thí nghiệm.
Ở Việt Nam, bệnh tiên mao trùng thấy ở hầu hết các vùng sinh thái khác nhau:
miền núi, trung du, đồng bằng và ven biển. Theo Phạm Sỹ Lăng (1982) [15], bệnh
tiên mao trùng có ở tất cả các tỉnh miền Bắc (Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái
Nguyên, Ninh Bình và Hà Tây). Trâu, bò nhiễm bệnh với tỷ lệ cao và khác nhau giữa
các vùng khác nhau. 9

1.1.2.2. Vật chủ và côn trùng môi giới truyền bệnh tiên mao trùng
* Vật chủ:
Trong tự nhiên, tiên mao trùng ký sinh ở hầu hết các loài thú nuôi và thú
hoang, thấy nhiều hơn ở trâu, bò, ngựa, trâu rừng, bò rừng, hươu, nai, hổ, báo, sư tử,
chó, mèo, lạc đà, voi, thỏ, chuột cống, chuột lang, chuột bạch Trâu, bò mọi lứa
tuổi đều nhiễm tiên mao trùng. Theo tổ chức dịch tễ thế giới, tiên mao trùng T.
evansi và một số loài khác còn ký sinh ở người (Phạm Sỹ Lăng và cs., 2008 [19]).
Mặc dù đều là vật chủ của T. evansi, song các loài có đặc điểm sinh học khác nhau
rất nhiều. Sau đây là đặc điểm sinh học của một số loài vật chủ được nghiên cứu
trong đề tài:
- Đặc điểm sinh học của trâu:
Trâu Việt Nam thuộc nhóm trâu đầm lầy. Về cơ bản trâu nội thuộc một giống,
nhưng tuỳ theo điều kiện nuôi dưỡng của từng nơi mà trâu được phân hoá thành hai
loại hình và quen được gọi theo tầm vóc là trâu ngố (to) và trâu gié (nhỏ hơn). Tuy
nhiên sự phân biệt này cũng không có ranh giới cụ thể.
Trâu có ngoại hình vạm vỡ, đầu hơi nhỏ; trán và sống mũi thẳng, có con hơi

rộng; bắp thịt nở nang. Bụng to, tròn nhưng không sệ. Bốn chân thanh, cứng cáp; 2
chân trước thẳng, 2 chân sau đi thường chạm kheo.
Bò nội có nhược điểm là tầm vóc nhỏ: khối lượng sơ sinh khoảng 14 - 15 kg,
lúc trưởng thành con cái nặng 160 - 200 kg, con đực nặng 250 - 280 kg. Tuổi phối
giống lần đầu khoảng 20 - 24 tháng. Tỉ lệ đẻ hàng năm khoảng 50 - 80 %, khả năng
cho sữa thấp (chỉ đủ cho con bú) nhưng tỷ lệ mỡ sữa rất cao (5 - 5,5 %). Bò Vàng
có khả năng làm việc dẻo dai ở những chân đất nhẹ, có tốc độ đi khá nhanh.
Bò Vàng có ưu điểm nổi bật là có khả năng thích nghi tốt, khả năng chống
bệnh tật cao.
- Đặc điểm sinh học của chuột bạch:
Chuột bạch thuộc loài chuột nâu Rattus norvegicus và thường có bộ lông màu
trắng. Chuột bạch tính hiền, khả năng sinh sản rất tốt nên được nuôi và nhân đàn
một cách dễ dàng. Chuột bạch được sử dụng phổ biến trong các thí nghiệm khoa
học về lĩnh vực y học, sinh học và thú y do đặc tính mẫn cảm với các mầm bệnh của
loài này. Chuột bạch còn được dùng để thử tác dụng bảo hộ và tác dụng phụ của
vắc-xin, thử tác dụng chữa bệnh của thuốc, của các tia xạ, tác dụng và ảnh hưởng
của một loại thức ăn…
- Đặc điểm sinh học của thỏ:
Thỏ là loài vật nhạy cảm với các tác nhân ngoại cảnh, ở nước ta nhiệt độ môi
trường thích hợp nhất với thỏ là 20 - 29
0
C. Tần số hô hấp của thỏ là 60 - 90 lần/
phút. Nhịp đập tim thỏ rất nhanh và yếu, trung bình từ 100 - 120 lần/ phút. Thỏ ít
tuyến mồ hôi dưới da, nếu nhiệt độ không khí cao, thỏ thải nhiệt chủ yếu qua đường 11

hô hấp. Nếu nhiệt độ không khí tăng nhanh và nóng kéo dài trên 35
0

Hình 1: Cơ chế lây truyền bệnh tiên mao trùng 12

- Vị trí của một số loài ruồi, mòng trong hệ thống phân loại động vật học
Giới Animalia
Ngành Arthropoda
Lớp Insecta
Bộ Diptera
Họ Tabanidae
Giống Tabanus
Loài Tabanus rubidus Wiedemann, 1821
Loài Tabanus kiangsuensis Krober, 1933
Loài Tabanus flavistriatus Schuurmans Stekhoven, 1926
Loài Tabanus fumifer Walker, 1856
Loài Tabanus striatus Fabricius, 1787
Họ Muscidae

13

John B. Campbell (2006) [95] cho rằng, họ Stomoxys phát sinh từ châu Phi,
trên thế giới có 18 loài thuộc giống Stomoxys.
Don Rutz và cs. (2007) [74] cho biết, thời gian hoàn thành vòng đời của
Stomoxys calcitrans là 21 ngày, tuổi thọ khoảng 20 - 30 ngày.
- Thành phần loài ruồi, mòng hút máu ở nước ta:
Theo Phan Địch Lân (1974) [20], (2004) [23], phần lớn các loài mòng tập trung
ở khu vực miền núi và trung du. Trong 53 loài mòng thì có tới 44 loài phân bố ở vùng
rừng núi có độ cao dưới 1.000 mét so với mặt nước biển, càng lên cao số loài càng ít
dần (độ cao trên 1.000 mét chỉ có 26 loài). Ở vùng trung du (rừng thưa, độ cao không
quá 500 mét so với mặt nước biển có 27 loài; vùng đồi trọc chỉ có 9 - 11 loài; vùng
rừng núi ven biển chỉ phát hiện được 8 loài. Những loài mòng phổ biến ở tất cả các
vùng là: Tabanus rubidus, T. striatus, Chrysops dispar, Chrysozoma assamensis.
Những loài mòng chỉ gặp ở vùng núi là: Tabanus flavistriatus, Tabanus fumifer,
Chrysops vander.
Miền Bắc nước ta có 4 loài ruồi hút máu, 2 loài phổ biến ở tất cả các vùng là
Stomoxys calcitrans và Liperosis exigua; 2 loài chỉ thấy ở những vùng sinh cảnh đặc
biệt: loài Bdellolarynx sanguinolentus (chỉ xuất hiện ở vùng có độ cao dưới 1.000
mét), loài Stomoxys indica (chỉ thấy ở vùng núi Cẩm Thuỷ - Thanh Hoá).
- Vai trò truyền bệnh tiên mao trùng của ruồi, mòng:
Phạm Sỹ Lăng (1982) [15] cho rằng, thời gian xâm nhập của tiên mao trùng càng
lâu thì tỷ lệ gây bệnh càng giảm, điều này có thể do thời gian càng lâu thì số lượng và
độc lực của Trypanosoma evansi trong ruồi, mòng càng giảm dần.
Phan Địch Lân (2004) [23] cho biết: hình thái tiên mao trùng khi ở trong vòi
ruồi, mòng biến đổi theo thời gian: từ 1 - 34 giờ có hình thái, kích thước bình
thường; 35 - 45 giờ: tiên mao trùng có hình dạng thay đổi, tăng kích thước chiều
rộng và thô dần; 46 - 53 giờ: tiên mao trùng trương to, duỗi thẳng, mất khả năng di
động và ngừng hẳn hoạt động.
- Thời gian hoạt động của ruồi, mòng hút máu:

kháng thể đặc hiệu với chúng.
Tiên mao trùng phát triển nhanh trong máu, tiêu thụ glucose và các chất đạm,
chất béo và chất khoáng trong máu ký chủ bằng phương thức thẩm thấu qua bề mặt
cơ thể để duy trì hoạt động và sinh sản. Ở gia súc bị bệnh, trong 1 ml máu có thể có
10.000 - 30.000 tiên mao trùng. Với số lượng nhiều như vậy, tiên mao trùng chiếm
đoạt dinh dưỡng nhiều, làm cho súc vật bệnh gầy còm, thiếu máu và mất dần khả
năng sản xuất sữa, thịt, mất dần khả năng sinh sản và giảm sức đề kháng với các
bệnh khác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status