Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý bệnh tiên mao trùng do trypanosoma evansi gây bệnh thực nghiệm trên mèo - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM


HOÀNG THỊ MINH NGUYỆT
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ BỆNH
TIÊN MAO TRÙNG DO TRYPANOSOMA EVANSI
GÂY BỆNH THỰC NGHIỆM TRÊN MÈO LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI – 2014

PGS.TS. PHẠM NGỌC THẠCH

HÀ NỘI – 2014

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công
trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ
rõ nguồn gốc. Mọi sự giúp đỡ đã được cảm ơn.

Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Minh Nguyệt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii

MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục bảng vii

Danh mục hình viii

MỞ ĐẦU 1

1. Đặt vấn đề 1

2. Mục tiêu của đề tài 2

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu Tiên mao trùng, bệnh Tiên mao trùng do
Trypanosoma evansi 3

1.1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu Tiên mao trùng trên thế giới 3


1.7.1. Phân bố địa lý của Tiên mao trùng 18

1.7.2. Những nghiên cứu về loài động vật mắc bệnh Tiên mao trùng 19

1.7.3. Các nghiên cứu về côn trùng môi giới truyền bệnh Tiên mao trùng 20

1.8. Chẩn đoán bệnh Tiên mao trùng 21

1.8.1. Chẩn đoán lâm sàng 21

1.8.2. Chẩn đoán thí nghiệm 22

1.8.2.1. Phương pháp phát hiện Tiên mao trùng trực tiếp 22

1.8.2.2. Phương pháp tập trung Tiên mao trùng 22

1.8.2.3. Phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm 22

1.8.2.4. Phương pháp chẩn đoán huyết thanh học 23

1.8.2.5. Phương pháp phát hiện ADN của Tiên mao trùng bằng
phản ứng PCR (Polymerase Chain Reaction) 24

1.9. Một số nghiên cứu về phòng trị bệnh Tiên mao trùng 24

1.10. Xây dựng và thực hiện quy trình phòng bệnh Tiên mao trùng cho
trâu, bò 26
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1. Đối tượng nghiên cứu 28
2.2. Địa điểm nghiên cứu 28


3.3. Thân nhiệt, tần số hô hấp, tần số tim mạch của mèo sau gây nhiễm
Trypanosoma evansi 35

3.3.1.Thân nhiệt của mèo sau gây nhiễm T.evansi 35

3.3.2 Tần số hô hấp của mèo sau gây nhiễm Trypanosoma evansi 37

3.3.3. Tần số tim mạch (lần/phút) 38

3.4. Một số chỉ tiêu sinh lý máu ở mèo sau gây nhiễm T.evansi 39

3.4.1. Số lượng hồng cầu 39

3.4.2. Tỷ khối huyết cầu 41

3.4.3. Thể tích bình quân của hồng cầu mèo sau gây nhiễm T.evansi 41

3.4.4. Hàm lượng huyết sắc tố, lượng huyết sắc tố trung bình của hồng cầu 42

3.4.4.1. Hàm lượng huyết sắc tố 42

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi

3.4.4.2. Lượng huyết sắc tố trung bình của hồng cầu 43

3.4.5. Số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu 44

3.4.5.1. Số lượng bạch cầu 44

STT Tên bảng Trang

Bảng 3.1. Sự phát triển của Tiên mao trùng do Trypanososma evansi
trong máu mèo sau gây nhiễm 32
Bảng 3.2. Biểu hiện lâm sàng của mèo sau gây nhiễm T.evansi 34
Bảng 3.3. Thân nhiệt, tần số hô hấp, tần số tim mạch của mèo sau gây
nhiễm T.evansi. 36
Bảng 3.4. Số lượng hồng cầu, tỷ khối hồng cầu, thể tích bình quân
của hồng cầu mèo sau gây nhiễm T. evansi 40
Bảng 3.5. Hàm lượng huyết sắc tố và lượng huyết sắc tố trung bình của
hồng cầu mèo sau gây nhiễm T. evansi 43
Bảng 3.6. Số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu ở mèo sau gây nhiễm
T. evansi 48
Bảng 3.7. Hàm lượng đường huyết và độ dự trữ kiềm trong máu mèo 51
sau gây nhiễm T.evansi 51
Bảng 3.8. Hàm lượng Protein huyết thanh và các tiểu phần protein huyết
thanh của máu mèo sau gây nhiễm T. evansi. 56
Bảng 3.9. Bệnh tích đại thể của mèo được gây nhiễm Tiên mao trùng
T.evansi 56
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii

DANH MỤC HÌNHSTT Tên hình Trang

Hình 1.1: Cấu tạo của Trypanosoma evansi 9
Hình 3.1: T.evansi trong máu mèo 33
Hình 3.2: Viền mắt, mắt của mèo mắc T.evansi có dử 57

dụng vào mục đích cày kéo, nhưng nhu cầu sử dụng thịt, sữa, da, sừng, lại ngày
một tăng cao thúc đẩy đàn trâu, bò không ngừng tăng nhanh về số lượng mà còn cả
về chất lượng. Tuy nhiên ngành chăn nuôi trâu, bò vẫn gặp nhiều khó khăn, bên
cạnh các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm thì các bệnh ký sinh trùng vẫn tồn tại gây
tác động xấu tới vật nuôi. Chúng thường làm giảm khả năng sinh trưởng và phát
triển, giảm chất lượng thực phẩm, phẩm chất da lông, giảm sức cày kéo, giảm sản
lượng sữa,
Bệnh Ký sinh trùng thường không gây chết ngay mà thường dai dẳng làm
con vật gầy còm ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng vật nuôi. Chính vì bệnh
thường biểu hiện dạng mạn tính, dai dẳng nên người ta thường ít quan tâm đến nó.
Trên thực tế bệnh ký sinh trùng đã gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi đặc biệt là
bệnh ký sinh trùng đường máu. Trong những năm 1960 - 1970, cứ qua vụ Đông
Xuân giá rét, các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc bộ mỗi năm có khoảng từ 15 đến
20 nghìn trâu bò chết do bệnh Tiên mao trùng. Các địa phương thường gọi là trâu
bò đổ ngã vụ Đông Xuân hoặc "trâu ngã nước" vì bệnh này thường nhập trâu bò từ
trung du và miền núi về đồng bằng. Theo điều tra của Viện thú y Quốc gia, thì tỷ lệ
bò vùng đồng bằng có tỷ lệ nhiễm bệnh khoảng 10 đến 15%.
Bệnh tiên mao trùng trâu, bò (Trypanosomiasis) là bệnh ký sinh trùng
đường máu do Trypanosoma evansi gây ra. Chúng tiết độc tố Trypanotoxin vào
máu. Loài ruồi, mòng là các môi giới trung gian truyền mầm bệnh Trypanosoma
evansi, khi vào cơ thể gia súc chúng sinh sản nhanh, làm vỡ hồng cầu, con vật bị
thiếu máu trầm trọng, làm thay đổi một số chỉ tiêu huyết học, ảnh hưởng đến chức
năng sinh lý. Chúng làm mức tăng trưởng giảm, sức đề kháng của cơ thể yếu đi tạo
cơ hội cho một số bệnh truyền nhiễm kế phát. Trâu, bò ở mọi lứa tuổi đều có thể
bị bệnh, ảnh hưởng rất lớn đến sức sản xuất của đàn trâu bò.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2

Theo số liệu của Phạm Sỹ Lăng (1982), Phan Địch Lân và cộng sự (2004),

Page 3

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu Tiên mao trùng, bệnh Tiên mao trùng do
Trypanosoma evansi
1.1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu Tiên mao trùng trên thế giới
Trypanosoma đã được các nhà khoa học phát hiện rất sớm: năm 1837, Done
phát hiện một loài Trypanosoma trong ruột người, năm 1841 Valetin tìm ra con
trùng roi (Trypanosoma) đầu tiên trong máu một loài cá. Sau đó nhiều loài Tiên
mao trùng khác đã được phát hiện trong máu nhiều loài động vật, trong các loài
được phát hiện thì loài Trypanosoma evansi ký sinh, gây bệnh cho động vật đóng
vai trò đặc biệt quan trọng.
Năm 1843, Gruby đã phát hiện thấy con Tiên mao trùng trong máu ếch, đặt
tên là Eryganosoma sanguinis. Tiếp sau đó nhiều loài Tiên mao trùng khác thuộc
giống Trypanosoma Gruby lần lượt được phát hiện ký sinh, gây bệnh cho động vật
có vú và người.
Đến năm 1880, Griffilt Evans tìm thấy loài Tiên mao trùng gây bệnh trong
máu ngựa và lạc đà ở bang Punjap - Ấn Độ. Nó được xác định là một thủ phạm gây
ra bệnh chung cho ngựa, la, lạc đà, trâu ở Ấn Độ được gọi chung là bệnh "Sura".
Năm 1885, Steel phát hiện ra Trypanosoma trong máu la Miến Điện, mô tả
hình thái ký sinh trùng, đặt tên Spirochaete evansi sau đổi thành Trypanosoma
evansi (T.evansi).
Một năm sau (1886), Branchard cũng thông báo tìm thấy Tiên mao trùng trên
máu của loài la nhập nội vào Bắc bộ Việt Nam. Tác giả mô tả rất tỷ mỉ hình thái ký
sinh trùng và những biểu hiện lâm sàng trên vật mắc bệnh.
Năm 1906, Lavera và Mesnil trong tác phẩm kinh điển nói về Tiên mao
trùng, những bệnh do Tiên mao trùng (Trypanosoma và Trypanosomiasis - Paris
1911) đã trình bày về bệnh lý học do Trypanosoma evansi gây ra cho các loài động
vật, vai trò ký chủ trung gian của một loài ruồi hút máu họ Stomoxydinae, loài mòng

ta. Năm 1886, Blanchard phát hiện ra Tiên mao trùng đầu tiên trong máu của la
nhập nội vào miền Bắc Việt Nam và ông đặt tên cho loài này là Tannamese laveran,
sau đổi thành Trypanosoma evansi. Tiếp đó ở Nha Trang cũng tìm thấy Tiên mao
trùng, sau đó lần lượt cở các tỉnh như: Hà Tuyên.
Năm 1906, Bodin thấy ngựa ở Nam Định bị mắc bệnh Trypanosoma evansi.
Cùng năm đó Brau nghiên cứu triệu chứng bệnh ở bò, ngựa vùng Sài Gòn.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5

Năm 1911, một ổ dịch làm chết nhiều ngựa ở hang Hít (Thái Nguyên), nhiều
trường hợp chết tại chuồng ngựa của Công ty Khai thác rừng Hà Nội.
Từ năm 1922 - 1926 ở Nam Bộ ngựa, chó mắc bệnh Tiên mao trùng đã chết
hàng trăm con.
Năm 1925, bệnh Tiên mao trùng xảy ra ở hầu hết các tỉnh Bắc bộ như Cao
Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Lai Châu, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La,
Bắc Giang, Băc Ninh, Phú Thọ, Hà Đông, làm chết hàng trăm ngựa, bò.
Theo Phạm Sĩ Lăng (1995) đến nay ba loài Tiên mao trùng ký sinh ở động
vật có vú đã được tìm thấy ở nước ta:
Trypanosoma evansi steel 1885.
Trypanosoma theileri Laveran 1902.
Trypanosoma newisi kant 1880.
Ở Việt Nam hiện nay, bệnh Tiên mao trùng do Trypanosoma evansi gây ra
rất phổ biến ở các tỉnh miền núi phía bắc như: Thái Nguyên, Bắc Cạn, Hòa Bình,
Cao Bằng, Ninh Bình, Sơn La, Lạng Sơn
1.2. Nguyên nhân gây bệnh Tiên mao trùng ở trâu, bò

Theo Trịnh Văn Thịnh (1982), hàng năm khi mùa đông tới trâu, bò ở các tỉnh
miền Bắc nước ta thường bị đổ ngã. Theo dõi ở các tỉnh Trung du miền núi thấy
hàng năm trâu, bò vẫn bị chết, tỷ lệ chết phụ thuộc vào thời tiết năm đó, giá rét kéo

Lớp : Zoomastigophoze
Bộ : Kinetoplastid
Phân bộ : Trypanosomatin
Họ : Trypanozomatidae
Giống : Trypanosoma
Loài : Trypanosoma evansi
Giống Trypanosoma bao gồm rất nhiều loài đã được phát hiện ở động vật có
xương sống thuộc lớp cá, lớp bò sát, lớp ếch, lớp động vật có vú, lớp chim. Việc
phân biệt các loài Tiên mao trùng của các lớp động vật khác nhau thì tương đối dễ.
Nhưng việc phân biệt các loài Tiên mao trùng trong lớp động vật có vú thì phức tạp
hơn nhiều.
Phạm Sỹ Lăng (1982), cho biết: 1943 Neveu - Lemarie, đã chia các loài
thuộc giống Trypanosoma ký sinh ở động vật có vú và người thành năm nhóm căn
cứ theo đặc tính hình thái học, sinh vật học của chúng. Các nhóm đó là nhóm
Lewisi, nhóm Evansi, nhóm Vivax, nhóm Congolense, nhóm Brucei.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7

Theo đề nghị của Lapage, nhóm Evansi thuộc nhóm Brucei gồm bảy loài,
nhóm này lại chia làm ba nhóm phụ, nhóm phụ Suis có một loài Trypanosoma suis,
nhóm phụ Evansi có 4 loài Trypanosoma brucei, Trypanosoma evansi,
Trypanosoma gambiense, Trypanosoma rhodesiense.
1.3.2. Đặc điểm hình thái của Trypanosoma evansi
Chen Quijun (1992) cho biết T.evansi được xếp vào loại đơn hình thái.
Trypanosoma evansi hình suốt chỉ hay hình thoi, ở giữa có nhân, không có
Cytochrome. Cuối thân có kinetoplast và kinetosome, màng rung động rộng, gấp
nếp rõ. Trong nguyên sinh chất có những hạt nhỏ bắt màu trắng.
Vickerman, K (1974) cho biết: về cơ bản cấu tạo của các loài Tiên mao trùng
của họ Trypanosomatidae giống nhau. Tế bào có hình con suốt là nhờ các vi ống

hình gậy, từ đó xuất phát mội cái roi chưa thành hình kết thúc ở giữa thân.
4. Thể Trypanosoma: trong côn trùng có hình dạng bình thường, nhưng có roi
dính vào thân, chạy thẳng lên phía trước, không tạo thành màng rung.
1.3.3. Đặc điểm cấu trúc của Trypanosoma evansi
Cấu trúc của T.evansi cũng giống như các loài Tiên mao trùng khác thuộc họ
Trypanosomadiae, từ ngoài vào trong được chia thành 3 phần chính:
+ Vỏ: ngoài cùng là lớp vỏ dày 10 - 15 nm, vỏ được chia làm 3 lớp (lớp
ngoài và lớp trong cùng tiếp giáp với nguyên sinh chất dầy hơn lớp giữa). Lớp vỏ
ngoài cùng được cấu tạo từ các phân tử glycoprotein luôn biến đổi (Vanant
Glycoprotein Surface - VGS). Tiếp giáp với lớp trong cùng là 9 cặp vi ống xếp song
song dọc theo chiều dài thân Tiên mao trùng. Chính nhờ sự sắp xếp của các cặp vi
ống nên Tiên mao trùng có dạng hình suốt chỉ mảnh (Hoare, 1972; Phạm Sỹ Lăng,
1982; Nguyễn Quốc Doanh,1998)
+ Nguyên sinh chất: gồm lớp trong và lớp ngoài. Trong nguyên sinh chất có
chứa các nội quan: ribosome có màu thẫm xen kẽ vùng không bào màu sáng,
kinetoplast 244 (thể cơ động), mitochrondno, reticulum (lưới nội bào) và mạng
lưới golgi.
+ Nhân: nhân Tiên mao trùng có chứa ADN, hình bầu dục hoặc hình trứng.
Nhân thường nằm ở vị trí trung tâm hoặc gần vị trí trung tâm cơ thể. Ngoài nhân, vế
phải cuối thân còn có thể kinetoplast chứa AND (KADN). Từ kinetoplast có một roi
chạy vòng quanh thân lên đầu và ra phía ngoài cơ thể thành một roi tự do. Roi của
Tiên mao trùng có lớp vỏ ngoài cùng giống lớp vỏ của thân. Trong roi có 9 cặp vi
ống ở xung quanh và một cặp ở trung tâm, xếp song song dọc chiều dài roi (Hoare,

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9

1972; Nguyễn Quốc Doanh, 1998).

Hình 1.1: Cấu tạo của Trypanosoma evansi

1.4. Những nghiên cứu về bệnh lý lâm sàng của vật chủ
1.4.1. Triệu chứng bệnh Tiên mao trùng do Trypanosoma evansi gây ra ở trâu, bò
Theo Phạm Sỹ Lăng (1982), đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm theo dõi
các triệu chứng lâm sàng của bệnh Tiên mao trùng trên trâu, bò. Triệu chứng lâm
sàng của bò nhiễm T.evansi ở thể cấp tính: sốt cao, gián đoạn, thiếu máu, suy
nhược, chảy nước mắt, bại liệt chân sau, thủy thũng dưới mõm, ức, phần bụng sau,
đôi khi bị kéo dài tới 6 tháng. Một số trường hợp bò nhiễm Trypanosoma evansi thể
cấp tính chết nhanh, chỉ trong vòng vài ngày.
Theo Verma, B.B. Gautam, O.P (1988), cho biết trâu, bò nhiễm
Trypanosoma evansi thể hiện rất rõ trạng thái bệnh lý, chết trong khoảng 22 - 96
ngày sau khi gây nhiễm. Một số bò lại khỏi bệnh tự nhiên trở thành vật mang trùng.
Ở nước ta, Phạm Sỹ Lăng (1982), Hồ Văn Nam (1963), Đoàn Văn Phúc (1985),
Trịnh Văn Thịnh (1982), cũng đã phát hiện thấy trâu bị bệnh cấp tính rất nặng, sốt cao,
bỏ ăn, điên loạn, chết nhanh. Trâu nhiễm bệnh thể mãn tính thường sốt gián đoạn, gầy
còm, thiếu máu kéo dài, viêm giác mạc, phù thũng ở bụng, liệt chân sau, chết do kiệt
sức. Đối với bệnh Tiên mao trùng ở bò có những biểu hiện lâm sàng gần giống như ở
trâu, ít thấy các trường hợp cấp tính, con vật sốt gián đoạn, chậm chạp, hạch lâm ba
trước đùi sưng, một số con thủy thũng ở vùng hàm, vùng cổ nhưng không đau, gần
chết thì bại liệt.
Nguyễn Văn Duệ và cs. (1995), quan sát triệu chứng lâm sàng của bò nhiễm
bệnh Tiên mao trùng miêu tả như sau: một số bò nhiễm bệnh Tiên mao trùng cơ thể
gầy còm, tiêu chảy dai dẳng, niêm mạc nhợt nhạt, chảy nước mắt, nước mũi liên
tục, viêm kết mạc, giác mạc, có hiện tượng thủy thũng, bại liệt chân sau. Bò thường
sốt ngắt quãng, sốt rất cao vào buổi sáng, niêm mạc nhợt nhạt, lông xù, đi khập
khiễng đôi lúc còn có triệu chứng thần kinh, run rẩy, sẩy thai, lồng lên trước khi
chết. Ở ngựa bệnh thường thể hiện cấp tính, rất nặng so với trâu, bò, sốt cao, phù
thũng ở dịch hoàn, trước ngực, chân bại liệt nặng nhưng vẫn ăn cho đến khi chết.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11

Khi nghiên cứu thành phần hữu hình trong máu, Tarkhede M. L et al.(1993),

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12

cho biết: số lượng hồng cầu của trâu trưởng thành bình quân 6,7 triệu/mm
3
, hàm
lượng hemoglobin 9,5 g%, số lượng bạch cầu 13-15 nghìn/mm
3
. Công thức bạch
cầu: bạch cầu ái kiềm 0,5%, bạch cầu ái toan 4,5%, bạch cầu đa nhân trung tính
40%, lâm ba cầu 52%, bạch cầu đơn nhân 3%. Số lượng bạch cầu thay đổi theo điều
kiện địa lý, khí hậu, giống, tuổi, tính biệt, mùa vụ trong năm.
Tốc độ huyết trầm của máu trâu trung bình 3,58 ± 0,12, mùa hè tốc độ lắng
máu nhanh hơn mùa đông. Sức đề kháng tối đa, tối thiểu của hồng cầu là 0,438 ±
0,003 và 0,637 ± 0,003% NaCl.
Protein huyết thanh ở trâu tăng theo tuổi, cao nhất giai đoạn 8 - 10 tuổi: 6,26
- 8,12. Bằng phương pháp điện di trên giấy phân tích protein huyết thanh thành 4
thành phần: albumin, α globulin,β globulin, γ globulin ở một số trường hợp khác α
globulin lại tách ra làm hai phần nhỏ khác nhau về tốc độ nhuộm màu.
Theo Lê Doãn và cs. (1978), lượng Protein huyết thanh theo các khoảng thời
gian trong ngày là tương đối ổn định.
Theo Đái Duy Ban (1980), sự thay đổi các chỉ tiêu sinh lý, huyết học, đặc
biệt là các chỉ tiêu về số lượng và chất lượng hồng cầu, các chỉ tiêu protein huyết
thanh là triệu chứng của suy dinh dưỡng, thiếu máu và tổn thương gan do các bệnh
truyền nhiễm, ký sinh trùng gây ra cho động vật.
Hồ Văn Nam và cs. (1984); Nguyễn Thị Đào Nguyên (1993) đã nghiên cứu
hàm lượng các chất vô cơ: canxi, photpho, natri, kali, clo trong máu trâu, tỷ khối
hồng cầu khi trâu, bò bị Tiên mao trùng cho biết các chỉ tiêu về chất lượng hồng

lượng hồng cầu trâu giảm còn 4,12 triệu/mm
3
, hàm lượng huyết sắc tố giảm 8,24%,
bò số lượng hồng cầu giảm còn 4,04 triệu/mm
3
, hàm lượng huyết sắc tố giảm
8,08%, mức độ giảm còn phụ thuộc vào chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, quá trình tiến
triển của bệnh, nhưng số lượng bạch cầu tăng cao.
1.6. Những nghiên cứu về miễn dịch Tiên mao trùng

Theo Đặng Đức Trạch và cs. (1987), khi có bất kỳ virus, ký sinh trùng xâm
nhập vào cơ thể có thể chống lại chất lạ tạo ra miễn dịch cho cơ thể khi chất lạ xâm
nhập lần sau. Thể hiện dưới hai hình thức đáp ứng miễn dịch: miễn dịch dịch thể và
miễn dịch qua trung gian tế bào.
Miễn dịch của đơn bào khác với miễn dịch của virus, vi khuẩn. Với đơn bào,
chúng có đặc tính chung là luôn luôn thay đổi kháng nguyên bề mặt, do vậy khi cơ
thể sản xuất kháng thể tương ứng đủ để trung hòa kháng nguyên thì kháng nguyên
bề mặt lại biến đổi tạo ra loại kháng nguyên khác, làm cho cơ thể rất khó tạo ra
miễn dịch hoàn toàn bền vững, chống lại đơn bào.
Weir, C. et al. (1986), đã nhận thấy những động vật mẫn cảm, thời gian sinh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14

kháng thể kháng Tiên mao trùng chậm hơn những động vật ít mẫn cảm, tới khi Tiên
mao trùng đã xuất hiện khắp nơi trên cơ thể mà vẫn chưa xuất hiện kháng thể Tiên
mao trùng, khi gây nhiễm Trypanosoma brucei, lần thứ nhất chỉ xuất hiện IgG, gây
nhiễm lần thứ hai mới thấy xuất hiện IgG1, IgG2. Các yếu tố vật lý cũng có vai trò
trong kháng bệnh tự nhiên. Hàm lượng kẽm trong huyết thanh của loài động vật
mẫn cảm cao hơn của loài động vật không mẫn cảm với Tiên mao trùng. Giả thiết

kháng nguyên bề mặt của Tiên mao trùng không chuyển động được. Kháng thể
cùng với chất tiết của thế bào (cytotoxit) có thể giết chết Tiên mao trùng. Mặt khác,
kháng thế có thể ức chế hoạt động của các men tham gia vào quá trình sinh sản của
Tiên mao trùng (sao chép). Song bản thân Tiên mao trùng cũng có cơ chế để
chống lại đáp ứng miễn dịch của vật chủ rất mạnh. Nhưng cách thức hoạt động
của nó chưa được làm sáng tỏ, một số quan điểm cho rằng: Tiên mao trùng cũng
có khởi động sự phát triển của những tế bào ức chế (Supperesser cell) hoặc hệ
thống tế bào lympho B. Trong khi đó một số nhà nghiên cứu lại cho rằng: Tiên
mao trùng giải phóng ra các yếu tố ức chế miễn dịch, Tiên mao trùng còn có 2
phương thức lẩn tránh đáp ứng miễn dịch rất có hiệu quả. Thứ nhất là trở thành
tính kháng nguyên thấp (hypoantigenis) hoặc không có tính kháng nguyên
(nolmmunogenie). Cách thức thứ hai là có khả năng thay đổi kháng nguyên bề mặt
rất mạnh, giữ được kháng nguyên cũ. Trypanosoma theilieri ở trâu, bò,
Trypanosoma lewisi ở chuột, cả hai loài này đều là Trypanosoma không gây bệnh.
Cho nên chúng có thể sống được trong máu của các động vật bị nhiễm. Bởi vì
chúng được bao phủ bởi một lớp protein huyết thanh của vật chủ, do đó chúng
không được nhận biết như là một vật lạ.
Trong điều kiện thí nghiệm, Tiên mao trùng phát triển trong môi trường nuôi
cấy tế bào, cũng cho ta thấy những trường hợp biến đổi kháng nguyên lẻ tẻ. Bằng
kính hiển vi điện tử có thể quan sát thấy sự biến đối kháng nguyên, hình thành một
lớp bao phủ trên bề mặt của Tiên mao trùng. Khi sự thay đổi kháng nguyên xảy ra,
các protein ở lớp bao phủ cũ mất đi, được thay thế bởi loại protein có tính kháng
nguyên khác. Sự phân tích di truyền của quá trình này chỉ ra rằng: Tiên mao trùng
có một số lượng gen rất lớn để chỉ huy tổng hợp loại protein đó, sự biến đổi tính
kháng nguyên xảy ra là do kết quả của việc gen sắp xếp lại, chọn lọc.
Chính vì những lý do trên, việc chẩn đoán Tiên mao trùng còn gặp nhiều khó
khăn nhất là trong thời kỳ Tiên mao trùng không xuất hiện ở mạch máu ngoại vi.
Bởi vậy, việc tìm ra một phương pháp chẩn đoán chính xác, nhanh nhạy đang là

Trích đoạn Nh ữ ng nghiên c ứ u v ề loài độ ng v ậ t m ắ c b ệ nh Tiên mao trùng Thân nhiệt, tần số hô hấp, tần số tim mạch của mèo sau gây nhiễm .3 Protein tổng số và các tiểu phần protein trong huyết thanh Một số bệnh tích của mèo được gây nhiễm Trypanosoma evans Lê Doãn và cs (1978) Protein c ơ s ở c ủ a s ự s ố ng, t ậ p 1, Nhà xu ấ t b ả n khoa h ọ c và kỹ thuật.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status