Đề Tài: Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý chủ
yếu của bệnh cúm gia cầm
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Với những lợi thế như vốn đầu tư thấp, chu kì sản xuất ngắn, tạo ra sản
phẩm thực phẩm giàu dinh dưỡng phù hợp với xu thế tiêu dùng hiện nay …. Ngành
chăn nuôi gia cầm nước ta ngày càng phát triển, chiếm vị trí quan trọng trong sản
xuất chăn nuôi nói chung. Hàng năm chăn nuôi gia cầm cung cấp khối lượng thực
phẩm đứng thứ 2 sau chăn nuôi lợn, chiếm 17% tổng số thịt hơi các loại. Trong
những năm gần đây (2001 – 2004) tổng đàn gia cầm tăng đều hàng năm với tốc độ
tăng trưởng bình quân 6,5% năm. Chăn nuôi gia cầm đã trở thành nguồn thu nhập
quan trọng với các hộ nông dân và là một trong những nghề có tác dụng xóa đói
giảm nghèo nhanh, hiệu quả góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông
nghiệp.
2
Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay sự bùng phát của dịch cúm gia cầm
(Avian Influenza) đang thực sự là trở ngại, gây thiệt hại to lớn cho sản xuất chăn
nuôi gia cầm của nước ta.
Cùng với hàng loạt quốc gia và vùng lãnh thổ, trong 2 năm 2004 – 2005 đại
dịch cúm gia cầm ở Việt Nam xảy ra trên diện rất rộng. Về mặt dịch tễ học quá
trình dịch được chia làm 3 đợt. Đợt dịch thứ nhất từ tháng 12/2003 đến 30/3/2004,
đợt dịch thứ 2 từ 4/2004 đến 11/2004 và đợt dịch thứ 3 từ 12/2004. Trong đó đợt
dịch thứ nhất xảy ra ở mức độ cao và và địa dư phân bố rộng nhất với 2574 xã
phường (24,6% số xã phường) 381 huyện thị (60% số huyện thị) thuộc địa bàn
57/64 tỉnh thành có dịch. Theo báo cáo của Ban chỉ đạo Quốc Gia phòng chống
dịch cúm gia cầm, thiệt hại trực tiếp của 3 đợt dịch ở Việt Nam là rất lớn lên đến
3.500 tỷ đồng, trong đó thiệt hại do gia cầm chết và tiêu hủy là hơn 1.300 tỷ đồng.
Dịch cúm gia cầm đã làm giảm tăng trưởng GDP quốc gia đến 0,5%, ngoài ra còn
độc lực chủng virus gây bệnh và các điều kiện ngoại cảnh mà biểu hiện bệnh lí ở
gia cầm mắc bệnh có sự thay đổi tương đối lớn. Với chủng có độc lực cao HPAI
(Highly Pathgenic Avian Influenza) thường gây biển hiện bệnh lí trầm trọng với tỉ
lệ chết có thể lên tới 100% gia cầm nhiễm bệnh sau vài giờ đến vài ngày lây
nhiễm. Vì thế tổ chức dịch tễ thế giới (OIE) đã xếp Cúm gia cầm vào nhóm A –
nhóm những bệnh nguy hiểm nhất. Bên cạnh đó đã xác định được căn nguyên gây
cúm gia cầm cũng có thể gây bệnh cúm ở người và một số động vật có vú khác, vì
4
thế hơn bao giờ hết bệnh cúm gia cầm đang ngày càng trở nên nguy hiểm hơn cho
sức khỏe con người và sản xuất chăn nuôi nói chung.
2.2. LỊCH SỬ BỆNH CÚM GIA CẦM VÀ TÌNH HÌNH DỊCH CÚM GIA
CẦM TRONG GIAI ĐOẠN 2003 – 2005
2.2.1. Lịch sử bệnh cúm gia cầm
Bệnh cúm gia cầm được Porroncito mô tả lần đầu tiên khi nghiên cứu ổ dịch
trên gia cầm tại Italia vào năm 1878 với tên gọi là dịch tả gà. Do bệnh gây ra tỉ lệ
tử vong rất cao ở gia cầm nên Porroncito đã nhận định rằng đây là bệnh rất nguy
hiểm và quan trọng trong tương lai. Tuy nhiên phải tới năm 1901, Cettai và
Sawnozzi mới xác định được yếu tố gây bệnh là căn nguyên siêu nhỏ có khả năng
qua lọc (Fillter agent). Qua một thời gian rất dài, đến năm 1955 Achafer mới xác
định được chính xác nguyên nhân gây bệnh cúm gia cầm là do virus cúm typ A
thông qua kháng nguyên bề mặt H7N7 và H7N1. Năm 1963 virus cúm typ A đã
được phân lập từ gà tây ở Bắc Mỹ do loại thủy cầm di trú dẫn nhập vào.
Bệnh cũng được Beard. C.W mô tả tương đối kỹ vào năm 1971 qua đợt dịch
cúm khá lớn trên gà tây ở Mỹ. Các năm tiếp theo bệnh tiếp tục được phát hiện ở
Nam Mỹ, Bắc Mỹ, Nam Phi, Trung Cận Đông, Châu Âu, Châu Úc và Châu Á.
Đã có rất nhiều báo cáo về các đợt dịch cúm trầm trọng có liên quan đến các
virus cúm typ A trong 20 năm qua nhưng đã không được quan tâm một cách đầy
đủ. Theo thống kê của Alexander có thể kể đến các ổ dịch lớn: ở Australia (1975 –
1985), Anh (1979), Mỹ (1983 – 1984), Ireland (1983 – 1984), Mexico (1994). Đặc
biệt ở Hồng Kông (1997). Cúm gia cầm đã gây nên đại dịch trong chăn nuôi gia
50 con tại tỉnh Sukhothai.
-Campuchia: Dịch H5N1 xảy ra từ ngày 24/01/2004. Ổ dịch gần đây nhất
xảy ra ngày 24/03/2005 tại tỉnh Kompot làm chết 19 gà thả vườn.
-Lào: Dịch H5N1 bắt đầu xuất hiện từ 27/01/2004 đến 13/02/ 2004 ở 3 tỉnh,
đã tiêu hủy hơn 155 ngàn gà.
6
-Indonesia: Dịch cúm gia cầm H5N1 xuất hiện vào tháng 1/2004, đến tháng
11/2004 đã có 101 huyện thuộc 16/33 tỉnh có dịch. Gần đây, ngày 23/3/2005 dịch
tiếp tục lây lan ở nam dảo Sulawesi làm nhiễm bệnh khoảng 128 ngàn gà ở 4 tỉnh,
trong đó ổ dịch lớn nhất ở tỉnh Sidrap làm 101.400 gà nhiễm bệnh. Tính từ khi có
dịch đến nay dã có 16,23 triệu gia cầm bị chết, trong đó có 8,17 triệu con ở trung
tâm đảo Java (Indonesia không thực hiện chính sách tiêu hủy đàn mắc bệnh).
-Trung quốc: Ổ dịch H5N1 đầu tiên phát hiện ra ngày 27/01/2004 ở tỉnh
Quảng Tây, sau đó lan ra 15 tỉnh khác đặc biệt các tỉnh có biên giới với Việt Nam
đều có dịch. Từ ngày 28/7/2004, Trung Quốc không phát hiện thêm ổ dịch mới. Số
gia cầm tiêu hủy là hơn 5,6 triệu gà; hơn 1,7 triệu vịt và 16 ngàn chim cút và các
loại chim khác.
-Malaysia: Ổ dịch H5N1 đầu tiên được phát hiện ngày 19/8/2004 ở tỉnh
Kalantan, ổ dịch cuối cùng ngày 22/11/2004; số gia cầm tiêu hủy hơn 18 ngàn
con.
-Vùng lãnh thổ Hồng Kông (thuộc Trung Quốc): Dịch H5N1 xảy ra ngày
26/1/2004, ca bệnh gần đây nhất được xác định vào ngày 10/02/2005.
Ngoài các ổ dịch do virus cúm H5N1 nêu trên, còn có 7 nước và vùng lãnh
thổ khác có dịch cúm gia cầm và các chủng khác là Pakistan, Hoa Kỳ, Canada,
Nam Phi, Ai Cập, Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên và Đài Loan.
-Đài Loan (thuộc Trung Quốc): Dịch cúm gia cầm H5N2 xảy ra ngày
20/1/2004, kết thúc ngày 05/03/2004.
-Pakistan: Dịch cúm do H7N3 và H9N2 xảy ra trên gà tây từ tháng 11/2003
đến tháng 3/2004, số gia cầm chết và tiêu hủy là 1,7 triệu con.
-Canada: Đã xảy ra 2 ổ dịch cúm gia cầm H7N3 (chủng virus độc lực thấp)
phân chia thành 6-8 phân đoạn (segment), trong đó mỗi phân đoạn là một gene
chịu trách nhiệm mã hóa cho một protein của virus.
Khác với cá nhóm virus trong họ, do virus cúm typ A có nhiều biến chủng
khác nhau. Cộng với khả năng thích ứng rộng rãi trên nhiều loại vật chủ và tính
kháng nguyên luôn biến đổi, nhờ sự sắp xếp tái tổ hợp các phân đoạn gene nên
cúm typ A được coi là nhóm virus nguy hiểm nhất trong họ Orthomyxoviridae.
Trong lịch sử chính những virus cúm typ A là thủ phạm gây nên những đợt dịch
cúm kinh hoàng ở người và gia cầm.
Hạt virus (virion) có cấu trúc hình khối kéo dài đường kính trung bình
khoảng 80 – 120nm. Vỏ virus là những protein có nguồn gốc từ màng tế bào mà
virus đã lây nhiễm, bao gồm một số protein được glycosyl hóa và một số protein
dạng trần không được glycosyl hóa. Protein bề mặt có cấu trúc từ các loại
glycoprotein là các gai mấu có độ dài 10 – 14nm, đường kính 4 – 6nm.
Khi nghiên cứu sâu hơn về cấu trúc hệ gene virus cúm typ A, Murphy và
webster (1996) [46] cho thấy, tất cả các thành viên của nhóm virus cúm A đều có
hệ gene là RNA một sợi có độ dài 13.500 nucleotid chứa 8 phân đoạn kế tiếp nhau
mang mật mã cho 10 loại protein khác nhau của virus, 8 phân đoạn của sợi RNA
có thể tách và phân biệt rõ ràng nhờ phương pháp điện di.
9
-Phân đoạn gene từ 1 - 3 mã hóa cho protein PB
1
, PB
2
và PA là các protein
có chức năng của enzyme polymerase, có vai trò bảo vệ sự sao chép và biên dịch
RNA của virion (Biswas và Nayak, 1996) [30].
-Phân đoạn 4 mã hóa cho protein Hemagglutinin (HA) có chức năng bám
dính vào thụ thể tế bào.
Theo Bosch và cộng sự (1979) [31], Very và cộng sự (1992) [49], HA là một
polypeptide gồm hai chuỗi HA
-Phân đoạn 8, với độ dài tương đối ổn định sẽ mã hóa cho 2 tiểu phần
protein không cấu trúc NS
1
và NS
2
có các chức năng: chuyển RNA từ nhân ra kết
hợp với M
1
, kích thích phiên mã, chống Interferon (luong và Palese, 1992) [44].
2.3.2.Đặc tính kháng nguyên của virus cúm typ A
Kháng nguyên của virus cúm diễn biến hết sức phức tạp do hiện tượng tái tổ
hợp các thành phần cấu trúc của chủng này với chủng khác hoặc biến đổi từ chủng
vô độc thành chủng có đọc lực cao hơn và gây bệnh. Sự đột biến của từng thành
phần và loại hình kháng nguyên trong từng chủng virus cúm cũng góp phần tạo
nên cấu trúc kháng nguyên mới, tạo các loại biến chủng mới với các đặc tính gây
bệnh mới.
Các loại protein kháng nguyên: Protein nhân (Nucleoprotein-NP), Protein
đệm (matrix protein – M
1
), Protein hemagglutimin – HA, Protein enzyme cắt thụ
thể (Neutraminidase – NA) là những protein kháng nguyên được nghiên cứu nhiều
nhất.
Một trong đặc tính kháng nguyên quan trọng của virus cúm là khả năng gây
ngưng kết hồng cầu của nhiều loài động vật mà thực chất là sự kết hợp giữa mấu
lồi kháng nguyên HA trên bề mặt của virus với thụ thể có trên bền mặt hồng cầu
làm cho hồng cầu ngưng kết với nhau tạo mạng ngưng kết qua các cầu nối virus.
Từ đặc tính kháng nguyên này có thể sử dụng các phản ứng ngưng kết hòng
cầuHA và ngăn trở ngưng kết hồng cầu HI (Hemagglutination inhibitory test) trong
chẩn đoán cúm gia cầm.
11
x
do biến dị ngẫu nhiên tạo nên tính thích ứng với từng loài vật chủ khác
nhau và mức độ độc lực gây bệnh khác nhau ở chính mỗi loại hình tái tổ hợp HA
và NA. (Suarez và cộng sự, 1998)[48].
Bên cạnh hiện tượng Drift, sự biến đổi hệ gene của virus cúm A còn được
diễn ra nhờ hiện tượng tái tổ hợp gene – hiện tượng thay ca (Shift) ít xảy ra hơn,
hiện tượng này chỉ xảy ra khi hai hay nhiều virus cúm cùng nhiễm vào tế bào. Tuy
nhiên chỉ xuất hiện với tần xuất rất thấp nhưng khi hiện tượng tái tổ hợp gene (thay
ca) xảy ra sẽ gây ra dịch lớn cho người và động vật, với mức độ nguy hiểm không
thể lường trước được. Hiện tượng Shift ở virus cúm A cho thấy nguy cơ của sự lưu
hành đồng thời nhiều loại virus cúm với số lượng lớn trong cùng một không gian
và thời gian kéo dài.
Một điều không thể không nói đến trong nghiên cứu về đặc tính khang
nguyên của virus cúm là giữa các biến thể tái tổ hợp và biến chủng subtyp về huyết
thanh học không hoặc rất ít có phản ứng chéo. Vì thế đực điểm này sẽ gây một trở
ngại lớn cho các nghiên cứu nhằm tạo ra vaccine cúm cho người và động vật.
(Kawaoka, 1992) [42], (Ito và cộng sự, 1998) [41].
Về mặt lý thuyết, khi xâm nhập vào cơ thể động vật, virus cúm A sẽ tạo nên
sự hình thành của các kháng thể đặc hiệu, trong đó quan trọng hơn cả là kháng thể
12
kháng HA, chỉ có loại kháng thể này mới có thể trung hòa virus cho bảo hộ miễn
dịch. Một số kháng thể khác có tác dụng kìm hãm sự nhân lên của virus: Kháng thể
kháng NA có tác dụng ngăn cản giải phóng virus, kháng thể kháng M
2
có tác dụng
ngăn cản chức năng protein M
2
không cho quá trình bao gói virus xảy ra (Lu và
cộng sự, 1999) [43], (Seo và Webster, 2000) [47].
2.3.3.Thành phần hóa học và sức kháng của virus
chất và tiếp tục di chuyển đến sát màng tế bào ở vị trí có sự biến đổi đặc hiệu với
virus.
Song song với quá trình trên, một phần các sợi RNA thông tin của virus sau
khi được sao chép trong nhân sẽ di chuyển ra nguyên sinh chất để điều khiển
ribosome của tế bào tổng hợp nên protein cấu trúc và protein nguyên liệu. Tiếp đó
tất cả các protein cấu trúc này sẽ được vận chuyển xuyên qua hệ thống võng mạc
nội mô (RE) và hệ thống Golgi rồi được cắm lên màng tế bào nhiễm.
Sự kết hợp cuối cùng của tổ hợp Nucleriboprotein và các protein cấu trúc
HA, NA và M
2
sẽ tạo nên hạt virus hoàn chỉnh mới và theo hình thức “nảy chồi”
các hạt virion sẽ được giải phóng ra khỏi tế bào nhiễm.
2.3.5.Độc lực của virus
Độc lực của virus cúm gia cầm có sự dao động lớn, phụ thuộc vào nhiều yếu
tố mà trước hết là protein HA. Các nghiên cứu ở mức độ phân tử cho thấy khả
năng lây nhiễm virus bị ảnh hưởng cởi tác động của men protease của vật chủđến
sự phá vỡ liên kết hóa học sau khi dịch mã của phân tử ngưng kết. Mà thực chất là
sự cắt đôi protein HA thành hai tiểu phần HA
1
và HA
2
và nhờ thế virus có thể xâm
nhập vào tế bào. Tính thụ cảm của ngưng kết tố và sự phá vỡ liên kết của enzyme
protease lại phụ thuộc vào các acid amin cơ bản tại điểm bắt đầu phá vỡ liên kết.
Các enzyme giống như trypsine chỉ có khả năng phá vỡ liên kết khi chỉ có một
phân tử Arginin, trong đó khi enzyme protease lại có thể phá vỡ nhiều acid amin
của liên kết.
Để giám định độc lực của virus bên cạnh một số phân tích khác, việc phân
tích được trình tự nucleotid của gene HA có vai trò cực kì quan trọng.
14
độc lực thấp trở nên độc hơn và gây bệnh nghiêm trọng hơn. Nguyên nhân là do
các vi khuẩn bội nhiễm sản sinh enzyme protesae phá vỡ các liên kết của ngưng
kết tố ngay cả khi không có acid amin cơ bản.
Thực tế chứng minh rằng các chủng có độc lực thấp trong quá trình lưu hành
trong thiên nhiên và đàn thủy cầm sẽ có đột biến gene hoặc các đột biến tái tổ hợp
để trở thành các chủng HPAI. (Mo và cộng sự, 1997) [44], (Harimoto và Kawaoka,
2001) [37], (Collins và cộng sự, 2002) [34].
2.4.Dịch tễ học bệnh cúm gia cầm
Virus cúm gia cầm phân bố khắp thế giới trong các loại gia cầm, dã cầm và
động vật có vú. Nhìn chung sự lưu hành và phân bố của virus cúm rất khó xác định
chính xác và bị ảnh hưởng bởi các loài vật nuôi hoang dã, tập quán chăn nuôi gia
cầm, đường di trú của dã cầm, mùa vụ và ngay cả chủ quan của con người như hệ
thống báo cáo, nghiên cứu, giám sát dịch bệnh.
Virus được phân lập ở hầu hết các loài chim hoang dã: vịt trời, thiên nga, hải
âu, mong biển và các loại vẹt, diều hâu v.v….Tuy nhiên tần xuất và số lượng phân
lập được ở các loài thủy cầm trong đó phải đặc biệt kể đến vịt trời đều cao hơn các
loài khác. Một số nghiên cứu cho thấy vịt từ khi nhiễm cho đến khi bắt đầu thải
virus trong vòng 30 ngày và tiếp tục tồn tại trong số đông vịt trời cho đến mùa sinh
sản tiếp theo để truyền cho con non qua đường tiêu hóa do virus bài thải qua phân
gây ô nhiễm ao hồ. Những virus này không độc với vật chủ, được nhân lên ở
đường ruột và trở thành nguồn reo rắc virus cho loài khác đặc biệt là gia cầm. (Bùi
Quang Anh, Văn Đăng Kỳ, 2004) [2].
Về loài mắc bệnh: gà, vịt, ngan, chim cút, vẹt, bồ câu và chim hoang đều có
nguy cơ mắc cúm. Ngoài ra nhiều loài động vật có vú như lợn, ngựa, chồn, hải cẩu,
và thú hoang dã khác cũng có thể bị mắc bệnh do một số subtyp của cúm typ A gây
nên.
16
Trong chăn nuôi, theo Lê Văn Nam (2004) [16], bệnh thường xảy ra ở gia
cầm 4 – 66 tuần tuổi. Gia cầm dễ mắc bệnh và có tỉ lệ chết cao ở những nơi bệnh
phát ra đầu tiên ở gia cầm có độ tuổi sắp đẻ hoặc đang trong thời kì đẻ trứng cao
C
và vài ngày ở nhiệt độ thường.
Theo Webster và cộng sự (1992) [49], trong nước ao hồ virus có thể duy trì
đặc tính gây bệnh tới 4 ngày ở 22
o
C và trên 30 ngày ở 0
o
C.
Có thể phân lập được virus cúm gia cầm từ nước hồ nơi có thủy cầm nhiễm
bệnh (Hinshaw và cộng sự, 1979) [38].
Ở thể HPAI, các nghiên cứu cho thấy chỉ 1 gram phân gà nhiễm bệnh có thể
chứa một lượng virus đủ lây nhiễm cho 1 triệu gà. Như vậy từ các nguồn thức ăn,
nước uống, chất thải, vật dụng, dụng cụ bị ô nhiễm, virus cúm có thể tồn tại một
thời gian nhất định, tùy thuộc vào nhiệt độ môi trường và đây chính là nhuồn bệnh
nguy hiểm tiềm tàng để không những gia cầm mà các động vật khác cũng có thể
nhiễm bệnh.
Về tính mùa vụ, bệnh cúm có thể xảy ra quanh năm nhưng cũng chịu sự tác
động thúc đẩy bởi nhiều yếu tố stress như thay đổi đột ngột về thời tiết, thức ăn,
nước uống, quản lí chăm sóc .v.v…
Thực tế bệnh thường hay xảy ra vào mùa có khí hậu lạnh, độ ẩm cao, thời
tiết thay đổi đột ngột do làm ảnh hưởng đến hệ miễn dịch của cơ thể. Ở Việt Nam,
qua quan sát trong 3 năm 2003 – 2005 cho thấy bệnh xảy ra mạnh vào vụ đông
xuân vì đây là lúc thời tiết có nhiều bất lợi cho sức khỏe đàn gia cầm và tạo điều
kiện cho sự tồn tại của virus ngoài môi trường lạnh và ẩm. Về mặt xã hội đây cũng
là khoảng thời gian mà mật độ chăn nuôi, các hoạt động buôn bán, giết mổ gia cầm
diễn ra cao nhất trong năm.
2.5.TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG CỦA BỆNH CÚM GIA CẦM
Thời kì ủ bệnh thường ngắn, từ vài giờ tới 3 ngày, tùy theo số lượng, độc lực
của virus, đường nhiễm bệnh, loài cảm nhiễm virus gây bệnh. Một số nghiên cứu
cho thấy thời gian ủ bệnh trong nhiều trường hợp có thể dài hơn đến 7 ngày và lâu
các triệu chứng lâm sàng cũng dần nặng hơn.
2.6.BỆNH TÍCH
Cũng như triệu chứng lâm sàng, mức độ bệnh tích đại thể của bệnh cúm gia
cầm cũng rất đa dạng, phụ thuộc rất nhiều vào độc lực của virus và quá trình diễn
biến của bệnh.
Các biến đổi đặc trưng về tổ chức học bao gồm: phù nề, xung huyết, xuất
huyết và thâm nhập limpho đơn nhân cơ vân, cơ tim, lách, phổi, mào tích, gan,
thận, tổ chức thần kinh.Ngoài sự thâm nhiễm tế bào limpho đơn nhân còn có các tế
bào đặc trưng cho phản ứng viêm hoại tử.
Đi sâu nghiên cứu, nhiều tác giả đã nêu lên một số khác biệt về đặc điểm
bệnh tích do từng chủng virus cúm gây ra. Khi bị nhiễm H9N5, có hoại tử nặng ở
hệ lâm ba và xuất hiện đốm hoại tử ở lách nhưng khi nhiễm H5N2, H5N1 lại
không có hoại tử ở hệ lâm ba. Hay hoại tử ở cơ tim, viêm cơ tim thường thấy ở các
gia cầm mắc chủng H5N3. Những chủng virus gây ra các triệu chứng thần kinh thì
bệnh tích thấy mạch vành xưng, hoại tử các tế bào thần kinh mà ít thấy tụ huyết,
xuất huyết ở các mô thần kinh.
2.7.CHẨN ĐOÁN BỆNH CÚM GIA CẦM
Việc chẩn đoán cúm gia cầm do nhiễm virus typ A chủ yếu là phải phân lập
và định danh virus kết hợp với chẩn đoán dựa trên triệu chứng lâm sàng, xác định
bệnh tích đại thể, vi thể, dịch tễ học và một số phản ứng huyết thanh học.
Theo chẩn đoán thường quy của Trung tâm chẩn đoán thú y Trung ương –
Cục thú y, sơ đồ chẩn đoán phòng thí nghiệm của bệnh cúm hiện nay như sau:
20
-ELISA
-AGP
-HI
-Subtype H -Subtype -Subtype N
-Subtype N
Giám định
Phân lập virus:
. Tiến hành quan sát bệnh tích tế bào CPE hàng ngày.
Có thể thu hoạch dịch nổi trong chai tế bào đã cấy virus sau 1 - 7 ngày để
kiểm tra bằng phản ứng HA. Nếu âm tính có thể cấy chuyển trên tế bào thêm 2 – 3
lần. Mẫu phân lập trên tế bào được bảo quản trong tủ -70
o
C.
*Phân lập virus trên phôi trứng
Sư dụng trứng gà 9 – 11 ngày tuổi để phân lập virus. Mỗi mẫu bệnh phẩm
tiêm cho 3 trứngvà được ấp ở 37
o
C trong 7 ngày.
Trước khi thu hoạch nước trứng phải cất trứng vào tủ lạnh 4
o
C trong 4h hoặc
để ở tủ âm trong 20 phút ở nhiệt độ -20
o
C. Nước trứng (nước niệu mô phôi trứng)
được cho vào ống nghiệm 10ml và bảo quản ở tủ -70
o
C.
Mẫu phân lập được kiểm tra bằng phản ứng HA, nếu âm tính có thể cấy
chuyển trên phôi trứng gà thêm 2 – 3 đợt
*Định danh virus
22
Sau khi phân lập được virus từ môi trường tế bào hoặc trên phôi trứng gà, có
thể giám định virus bằng các HI test để giám định subtyp H; NI test để xác định
subtyp N hoặc bằng phương pháp RT-PCR để xác định subtyp H, N.
Phản ứng huyết thanh học được dùng để nhận biết các kháng thể có từ 7 – 10
ngày sau khi nhiễm virus. Tính đa dạng của kháng nguyên bề mặt của virus cúm
typ A đã ảnh hưởng rất lớn đến việc áp dụng các phương pháp huyết thanh học
- Thay đổi môi trường sống: thực hiện an toàn sinh học, ngăn chặn tác
nhân gây bệnh xâm nhập môi trường.
Cụ thể hoạt động kiểm soát cúm gia cầm bao gồm một số điểm cơ bản:
Xây dựng chính sách về kiểm soát bệnh mà thực chất là ban hành khung
pháp lý để đảm bảo hoạt động phòng chống dịch có hiệu quả. Đó là việc
áp dụng các biện pháp ngăn chặn sự xâm nhập của virus cúm thông qua
đường thương mại với các nước khác và thực hiện việc giết hủy hàng loạt
gia cầm nhiễm bệnh.
Áp dụng các biện pháp an toàn sinh học nghiêm ngặt nhằm khống chế sự
lây nhiễm virus cúm gia cầm xâm nhập ban đầu.
Thực hiện chiến lược tiêm phòng vaccine hợp lý cho đàn gia cầm.
* Phòng bệnh
Hiện nay chưa có thuốc đặc hiệu để trị bệnh cúm gia cầm. Việc sử dụng
Amantadin hydrochorid và Rimantadine hydrochorid tuy có làm giảm tỷ lệ chết
nhưng không thay đổi tỷ lệ nhiễm và gia cầm vẫn tiếp tục bài thải virus. Ngoài các
thuốc điều trị cơ bản trê, người ta còn sử dụng các biện pháp điều trị hỗ trợ khác
như chống suy hô hấp, dùng kháng sinh để giảm tác động của vi khuẩn cộng
nhiễm. Tuy nhiên trong thực tế nhìn chung những thuốc chống virus trên đều bị
kháng tương đối nhàn và còn có nhiều tác dụng phụ kể cả những thuốc chống cúm
24
mới nhất là những loại có tác dụng ức chế Neuraminadase như Tamiflu hay
Zanamivir.
Chính vì thế, một trong những chính sách phòng bệnh có tính chủ động hiện
nay là việc sử dụng vaccine tiêm phòng cho gia cầm đã đem lại những kết quả khả
quan trong phòng bệnh:
- Tạo được kháng thể cho gia cầm, có tác dụng làm giảm số nhiễm và số chết
nhờ việc làm giảm tình trang mẫn cảm của gia cầm với chủng virus gây
bệnh.
- Giảm bài thải virus 1.000 lần so với gia cầm không tiêm và ngừng hẳn sự
bài thải virus sau 13 – 18 ngày tiêm phòng, nhờ vậy làm giảm khả năng lây