Đề tài : Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái nhện đỏ nâu hại chè (oligonychus coffeae nietner) và biện pháp phòng trừ tại ba vì hà nội - Pdf 12


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây chè là một trong những cây trồng quan trọng của Việt Nam nói
chung, cho các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc nói riêng. Cây chè không
chỉ góp phần quan trọng vào giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông lâm sản
hàng năm của Việt Nam mà còn là cây xóa đói giảm nghèo, cây cho thu nhập
cao, ổn định cho hàng triệu hộ lao động nông thôn. Với vai trò quan trọng nêu
trên. Nhà nước hết sức quan tâm đến việc mở rộng diện tích, đầu tư khoa học
kỹ thuật để nâng cao năng suất và chất lượng. Vì vậy sản phẩm chè ngày càng
khẳng định được uy tín của mình, đã có mặt ở trên 110 quốc gia và vùng lãnh
thổ. Tính đến năm 2005, cả nước có tổng số 123.742ha chè, diện tích chè kinh
doanh là 102.000ha, sản lượng đạt 133.350 tấn chè khô. Cả nước có khoảng
260 doanh nghiệp xuất khẩu chè, kim ngạch đạt 96.887.000 USD.
Hiện nay Việt Nam đã trở thành nước thứ 5 trên thế giới về xuất khẩu
chè, hàng năm thu được nhiều triệu đô la cho đất nước, cây chè Việt Nam
chắc chắn sẽ còn nâng cao vị thế của mình trong những năm tới. Tuy nhiên
sản phẩm chè còn nhiều điểm yếu, trong đó dư lượng nhiều độc tố quá mức
cho phép do sử dụng tràn lan thuốc bảo vệ thực vật và phân hóa học là một
trong những điểm yếu quan trọng nhất. Do đó uy tín sản phẩm chè của Việt
Nam trên thị trường thế giới chưa cao, giá bán thấp và chưa thâm nhập được
nhiều vào các thị trường khó tính như Mỹ, EU và Nhật Bản.
Ba Vì, Hà Nội có diện tích trồng chè là 1700 ha, cây chè đã và
đang đóng góp vai trò quan trọng trong nền kinh tế của huyện, cây giải quyết
công ăn việc làm, ổn định chính trị xã hội cho vùng ven đô đang bị công
nghiệp hóa và đô thị hóa mất dần đất canh tác. Tuy nhiên các loài dịch hại
như bọ trĩ, rầy xanh, bọ xít muỗi, nhóm nhện nhỏ… đang là những trở ngại

2
chính cho năng suất và chất lượng chè của địa phương, trong đó nhện đỏ nâu

nhện đỏ nâu hại chè (Oligonychus coffeae Nietner) và biện pháp phòng trừ
tại Ba Vì - Hà Nội"
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài:
2.1. Mục đích
Trên cơ sở xác định một số loài nhện nhỏ quan trọng hại chè, đặc điểm
sinh học và một số yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến phát sinh phát triển của
nhện đỏ nâu (Oligonychus coffeae Nietner), từ đó đề xuất biện pháp phòng
trừ nhện đỏ nâu bằng thuốc bảo vệ thực vật hợp lý, hiệu quả và thân thiện với
môi trường
2.2. Yêu cầu.
- Xác định thành phần loài nhện nhỏ hại chè tại Ba Vì, mức độ gây hại của
nhện đỏ nâu và thực trạng công tác phòng trừ loài nhện đỏ nâu tại Ba Vì.
- Xác định được một số đặc điểm sinh học, một số yếu tố sinh thái ảnh hưởng
đến phát sinh và gây hại của nhện đỏ nâu tại vùng chè Bà Vì, Hà Nội làm cơ
sở nghiên cứu và đề xuất biện pháp phòng chống.
- Đề xuất biện pháp phòng trừ nhện đỏ nâu bằng việc sử dụng hợp lý, hiệu
quả một số loại thuốc bảo vệ thực vật phục vụ sản xuất chè an toàn.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
3.1. Ý nghĩa khoa học.
- Bổ sung dẫn liệu khoa học về một số loài nhện nhỏ hại chè và sự
phát sinh gây hại của loài nhện đỏ nâu hại chè tại Ba Vì, Hà Nội.

4
- Cung cấp dẫn liệu mới về một số đặc điểm sinh học, một số yếu tố sinh
thái của loài nhện đỏ nâu Oligonychus coffeae Nietner trong điều kiện sinh
thái vùng chè Ba Vì, Hà Nội.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn.
- Xây dựng và thực hiện biện pháp phòng trừ nhện đỏ nâu hại chè theo
hướng quản lý dịch hại tổng hợp bằng việc sử dụng hợp lý, hiệu quả một số
loại thuốc bảo vệ thực vật, góp phần hạn chế sự bùng phát, gây hại của chúng,

khác, quá trình phát triển số lượng quần thể và khả năng gây hại của chúng
vẫn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các yếu tố môi trường và tác động của con
người thông qua các hoạt động canh tác trên vườn chè. Như vậy, để phòng trừ
nhện đỏ nâu một cách có hiệu qủa phải có những hiểu biết đầy đủ về chính nó
và vai trò của các yếu tố ngoại cảnh.
Với điều kiện đất đai màu mỡ, thời tiết thuận lợi và trình độ thâm
canh cao, hoạt động chuyển đổi cơ cấu cây trồng đang diễn ra mạnh mẽ,
nhưng trong thực tế việc phòng trừ nhện đỏ nâu ở các vùng chè thuộc khu vực
Ba Vì - Hà Nội chủ yếu vẫn dựa vào thuốc hoá học và đã gây nhiều bất cập.
Chứng tỏ cần phải có những hiểu biết sâu hơn về qui luật phát sinh, phát triển

6
của nhện đỏ nâu ở khu vực này và nội dung biện pháp phòng trừ tổng hợp
chắc chắn có những điểm khác biệt, không thể áp dụng như đối với vùng
trồng chè khác hoặc lúa và các cây trồng ngắn ngày.
Xuất phát từ luận điểm trên, đáp ứng yêu cầu của sản xuất hiện nay và lâu
dài, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài nhằm thu thập các dẫn liệu khoa học
liên quan đến đặc điểm sinh học và tình hình phát sinh gây hại của nhện đỏ
nâu ở các vườn chè, làm cơ sở để phát triển các biện pháp phòng trừ có hiệu
quả, thích hợp với điều kiện sinh thái và canh tác vùng chè Ba Vì - Hà Nội.
1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1.Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới
Sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới trong những năm gần đây nhìn
chung có chiều hướng ngày càng gia tăng. Hiện nay đã có trên 100 nước trên
thế giới uống chè, trên 40 nước trồng và sản xuất chè.
Ngày nay chè là thứ đồ uống rộng rãi trên thế giới với những sản phẩm
được chế biến rất đa dạng, phong phú, tùy theo tập quán và thị hiếu của các
nước khác nhau.
Theo FAO (1993) cây chè trên thế giới phát triển với tốc độ nhanh từ
thế kỷ 18 trở lại đây, nhất là trong 3 thập niên gần đây nhất. theo Hiệp hội chè

kinh doanh là 102.000ha, sản lượng đạt 133.350 tấn chè khô. Cả nước có
khoảng 260 doanh nghiệp xuất khẩu chè, kim ngạch đạt 96.887.000 USD.
Việc phát triển sản xuất chè đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng kinh
tế xã hội ở Trung du và miền núi, khai thác tiềm năng đất đai, tạo việc làm

8
cho nhiều lao động, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ môi trường, môi
sinh. [13]
1.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc.
1.3.1.Nghiên cứu ngoài nước.
Từ xưa đến nay cây chè là một trong những cây trồng mang lại hiệu quả
kinh tế cao cho sản xuất nông nghiệp của nhiều quốc gia trên thế giới, hiện
nay cây chè đã và đang tiếp tục được phát triển ở khoảng 60 nước trên khắp
năm châu. Các vấn đề về kỹ thuật chọn tạo giống, kỹ thuật canh tác, đặc biệt
là vấn đề sâu bệnh hại chè nói chung và nhện đỏ hại chè nói riêng cũng như là
thiên địch của chúng cũng đã luôn được quan tâm nghiên cứu.
1.3.1.1. Thành phần loài nhện hại chè
Sự đa dạng, phong phú về thành phần loài côn trùng và nhện nhỏ hại
cây chè đã được nhiều tác giả nghiên cứu. Theo các tài liệu đã công bố, có tới
42 loài bọ cánh tơ, 13 loài nhện nhỏ, 6 loài bọ xít muỗi là sâu hại chè
(Barboka, 1994)[30].
Nhóm nhện hại là các đối tượng gây hại nghiêm trọng trên nhiều loại
cây trồng ở nhiều vùng trên thế giới, đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa
học. Nhiều công trình nghiên cứu đã xác định thành phần các loài nhện hại
trên cây trồng khá phong phú. Theo Neyda Rodriguez (1980), nhóm nhện hại
thuộc lớp Arachnida; lớp phụ Acarina gồm 3 bộ. Trong số đó có tổng số trên
10 họ nhện hại thường gặp trên nhiều loại cây trồng. Tuy nhiên, chỉ có 4 họ
có các đại diện có thể gây hại nặng hơn cả, bao gồm họ nhện chăng tơ thật
(Tetranichidae), họ nhện chăng tơ giả (Tenuipalpidae), họ nhện u sần
(Eriophytidae) và họ Tarsonemidae (Jeppson et. al., 1975, Meyer 1981) [39].

chúng.
Ở Ấn Độ, nhện đỏ được ghi nhận ở hầu hết các vùng trồng chè và có thể
là loài dịch hại nguy hiểm nhất đối với cây chè. Ngoài cây chè, nhện đỏ cũng
gây hại một số cây trồng khác như cây đay, xoài, cà phê… Vòng đời của nhện
đỏ đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và chỉ ra rằng khoảng thời
gian vòng đời của nhện đỏ thay đổi tùy thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm. Trong
tháng 5 và tháng 6 vòng đời có thể hoàn thành trong khoảng 9,4 – 12 ngày
trong điều kiện tự nhiên nhưng khi nhiệt độ thấp có thể kéo dài đến 28 ngày.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng ở điều kiện phòng thí nghiệm thì nhện đỏ cái có
thể sống tối đa là 29 ngày trong khi nhện đỏ đực chỉ khoảng 4 – 5 ngày và con
cái có thể sinh sản đơn tính và sản sinh ra tất cả nhện đực.
Các tác giả cũng đã chỉ ra rằng nhện thường tấn công gây hại nặng trong
điều kiện khô hạn, nhiệt độ cao, khi đó hầu hết các lá non bị nhện đỏ tấn công
gây ra hiện tượng lá biến màu đỏ đến màu đồng và cuối cùng có thể khô và
rụng. Một số lượng nhỏ nhện có thể sống ở các lá già phía dưới gốc trong
điều kiện không thuận lợi, chúng cuốn rìa lá lại và nằm trong đó, khi gặp điều
kiện thuận lợi chúng nhân lên nhanh chóng và tiếp tục tấn công gây hại cho
cây [34].
Nhện đỏ nâu (Oligonychus coffeae Nietner) thuộc nhóm ve bét
Acariformes, trong nhóm phụ Prostigmata, họ Tetranycnidae. Chúng có mặt ở
nhiều nước trên thế giới, gây hại trên khoảng 34 loại cây thuộc 15 họ khác
nhau (Borror, et al. 1989) [32]. Ở Bănglades nhện đỏ nâu là loài gây hại nặng
cho cây hoa hồng với mật độ cao và kìm hãm sự sinh trưởng của cây. Các nhà
khoa học ở đây cũng đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài này và
cho thấy rằng thời gian từ trứng đến trưởng thành chỉ mất 5,3 ngày ở nhiệt độ

11
30,28
0
C, độ ẩm 76% vào tháng 6, khi nhiệt độ giảm xuống 19,8

được mô tả chi tiết và hiệu đính bởi nhiều tác giả như Pritchard và Baker
(1955) [43], Wang (1984) [47]. Theo mô tả của các tác giả này nhện cái có
màu đỏ tối, cơ thể hình ô van có nhiều lông nhỏ, kích thước trung bình 0,36 x
0,28mm. trên đốt chày 1 có 7 lông xúc giác và 1 lông cảm giác.

12
Các nghiên cứu về cây ký chủ của nhện đỏ nâu cho thấy ký chủ chính
của chúng là cây chè và cây cà phê, ngoài ra còn gặp nhện đỏ nâu gây hại trên
một số cây ký chủ phụ khác như cây đay, bông, sắn, long não, dâu tằm, cọ
dầu, bạch đàn, đào lộn hột…[33]
Nhện đỏ nâu (Oligonychus coffeae Nietner) cũng đã được tìm thấy trên
cây xoài và cây chè tại đảo Ryuky, miền Nam Nhật Bản. Các nhà khoa học đã
nghiên cứu so sánh sự nhạy cảm đối với hóa chất trừ nhện giữa trứng và nhện
trưởng thành. Kết quả cho thấy trứng có khả năng chống thuốc cao hơn so với
nhện trưởng thành, điều này chứng tỏ việc phòng trừ đạt hiệu quả cao hơn
trên nhện trưởng thành [37].
1.3.1.3. Biện pháp phòng trừ nhện đỏ nâu hại chè
Việc phòng trừ nhện đỏ cũng như các loài sâu bệnh khác trên chè đã dẫn
đến tình trạng tồn dư thuốc hóa chất bảo vệ thực vật trong các sản phẩm chè,
điều này đã gây ra nhiều khó khăn cho việc mở rộng thị trường chè xuất khẩu
cho các nước trồng chè, đặc biệt là các thị trường khó tính như Mỹ hay EU.
Để khắc phục điều này các nhà khoa học đã nghiên cứu các biện pháp giảm
thiểu việc sử dụng thuốc hóa học trên cây chè, theo đó có rất nhiều nghiên
cứu về các loài thiên địch, các chể phẩm sinh học… được quan tâm nghiên
cứu để có thể sử dụng trong phòng trừ sinh học các loài dịch hại trên cây chè.
Nghiên cứu về các loài thiên địch cho thấy nhện đỏ nâu có nhiều loài
thiên địch. CABI đã giới thiệu danh sách một số loài thiên địch của nhện đỏ
nâu trên chè. Ở Ấn Độ có các loài nhện Agistemus, Amblyseius herbicolus,
Cuxana, Euseus ovali, Geocoris ochropterus, Neoseiulus longispenosus…
chúng tấn công vào hầu hết các giai đoạn phát triển của nhện đỏ nâu, đặc biệt

chủng HF1 có khả năng ký sinh gây chết 65% số lượng nhện đỏ trong điều
kiện phòng thí nghiệm. Điều này cho thấy khả năng sử dụng loài nấm này
trong phòng trừ sinh học đối với nhện đỏ hại chè là rất lớn.

14
Các nhà khoa học của Ấn Độ cũng đã nghiên cứu khả năng ký sinh nhện
của nấm Paecilomyces fumosoroseus (Wise) và hiện nay đã sản xuất được chế
phẩm dạng bột thấm nước có tên thương mại là “Mycomite” để phòng trừ
nhện đỏ.
Ngoài biện pháp sinh học thì biện pháp canh tác cũng đã được quan
tâm nghiên cứu. V. Sudoi (1992) [45] đã nghiên cứu tính kháng của một số
dòng chè đối với nhện đỏ nâu. Theo tác giả một vài dòng chè có khả năng làm
giảm khả năng sinh sản và giảm tỷ lệ phát triển của nhện đỏ nâu như các dòng
BBLK 152, dòng số 6/8 và dòng số 7/9.
Theo K. Thirugnanasuntharan và D. Amarasinghe (1990) [46] tại
Srilanca cũng có một số dòng chè kháng nhện đỏ nâu. Theo tác giả việc sử
dụng các dòng chè kháng này sẽ làm giảm đáng kể sự phát triển của tập đoàn
nhện và giảm tác hại của chúng trên cây chè.
Theo L. R. Jeppson và các cộng sự (1975) [39] nhận định rằng sau thời
kỳ thu hoạch tất cả các giai đoạn sinh trưởng của nhện đỏ nâu còn lại trên các
lá già và các lá nhỏ ở gốc cây chè, do đó việc loại bỏ các lá này sẽ làm giảm
đáng kể nguồn nhện gây hại cho vụ tiếp theo.
Bên cạnh các biện pháp phòng trừ trên thì không thể thiếu biện pháp
hóa học, biện pháp hóa học thường mang lại hiệu quả nhanh và cao. A. Ali và
các cộng sự (1994)[29] cho thấy thuốc Dicofol phòng trừ có hiệu quả cao đối
với nhện đỏ nâu trên cây chè tại Bănglađet.
Ở Trung Quốc, M. Lu (1993) [40] đã rất thành công khi sử dụng các
thuốc trừ nhện như: Dithan WP, Pyridaben E, Quinalphos và Bifenthrin để trừ
nhện đỏ nâu trên cây chè.
Theo S. K. Senapati và S. Ghose (1994) [44] ở Ấn Độ đã sử dụng


16
- Có hại nhưng không thường xuyên: Bệnh phồng lá chè, sâu cuốn lá, bọ
trĩ, rệp trắng, rệp đen.
- Có hại nhưng hiếm thấy: Bọ nẹt, bệnh sợi nấm, bệnh thối rễ đỏ.
- Ít hại nhưng thường xuyên: Sâu kèn, bệnh chấm xám, ốc sên, bọ
ngứa….
- Ít hại, ít thấy: Bọ xít muỗi, bệnh chấm nâu, rệp xanh, ruồi.
Tác giả cũng đã đưa ra 1 bảng danh mục các loài sâu, bệnh hại chè tại
Phú Hộ, gồm có 38 loài, trong đó có 25 loài sâu, 11 loại bệnh và 2 loại tầm
gửi. Trong số các loài sâu hại thì sâu chùm, bọ xít hoa, rầy xanh, nhện đỏ và
sâu đục thân là những loài gây hại quan trọng (Dẫn theo Nguyễn Văn Thiệp,
1994) [18].
Tiếp tục các nghiên cứu về sâu hại chè, năm 1967 – 1968 sau đợt tổng
điều tra côn trùng hại nông nghiệp, Viện Bảo vệ thực vật đã công bố danh
mục côn trùng hại chè gồm 34 loài thuộc 6 bộ khác nhau.
Năm 1976, kết quả điều tra cơ bản sâu bệnh hại ở miền Nam đã thu
thập được 32 loài côn trùng và 3 loài nhện gây hại trên chè. Tác hại của sâu
bệnh hại chè chiếm 15 – 20% sản lượng búp chè.[1].
Phạm Thị Vượng và Nguyễn Văn Hành (1989) [27] lại xác định được
có 21 loài sâu hại chè thuộc 6 bộ côn trùng và 2 loài nhện gây hại trên chè ở
vùng sông Cầu, tỉnh Bắc Thái.
Nguyễn Văn Thiệp (1993) [19] đã xác định thành phần sâu hại chè ở
vùng Phú Hộ gồm 32 loài, trong 7 bộ côn trùng và 3 loài nhện hại. Tác giả
cũng đã khẳng định rầy xanh và nhện đỏ nâu là những loài gây hại quan trọng
trên chè tại đây.
Theo kết quả điều tra tập đoàn nhện hại các cây trồng vùng Hà Nội của
tác giả Nguyễn Văn Đĩnh (1993)[2] cho thấy trên cây chè có 3 loài nhện hại là

17

Cũng theo tác giả Nguyễn Văn Hùng [8], theo dõi vòng đời của nhện
đỏ nâu hại chè trong điều kiện ẩm độ 85% với các ngưỡng nhiệt độ khác nhau
cho thấy trong điều kiện nhiệt độ 30
0
C khá thích hợp với sự phát triển của
nhện đỏ nâu, các pha phát triển của nhện đỏ nâu rút ngắn hơn so với điều kiện
nhiệt độ 25
0
C, thời gian rút ngắn được 0,4 ngày. Đặc biệt là vòng đời của
nhện đỏ nâu rút ngắn rất nhiều trong điều kiện nhiệt độ cao, ở 30
0
C vòng đời
là 11,2 ngày nhưng ở 25
0
C vòng đời là 12,8 ngày. Ngược lại thời gian sống
của nhện trưởng thành và thời gian các pha phát dục kéo dài hơn trong điều
kiện nhiệt độ thấp. Sức sinh sản của nhện đỏ nâu cũng chịu ảnh hưởng của
các điều kiện nhiệt độ và độ ẩm. Trong điều kiện ẩm độ từ 80 – 85% với nhiệt
độ 30
0
C tốc độ đẻ trứng và số lượng trứng của nhện cái thường cao và nhiều
hơn trong điều kiện 25
0
C khá rõ rệt. Mỗi nhện cái thường đẻ 80 – 105 trứng,
trung bình 79-88 trứng. Tuy vậy tốc độ đẻ trứng của nhện đỏ cũng theo qui
luật, trong vòng 10 ngày đầu tiên sau khi hóa trưởng thành, nhất là ngày thứ 3
– 7 sau khi bắt đầu đẻ, bình quân trong những ngày này thường đạt trên 5
quả/con. Có những ngày cao điểm có những con có thể đẻ đến 10 quả. Sau
ngày thứ 10, tốc độ đẻ trứng bắt đầu giảm đi đáng kể.
Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thái Thắng, 2000 [17] cho thấy

Nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Văn Tạo
(2006) [8] cũng đã chỉ ra rằng khi mật độ nhện hại tăng cao lên từ 4 - 6
con/lá thì tỷ lệ các lá bị hại tăng lên tới 20 - 40% làm cho toàn lô chè hơi
biến vàng, các ổ nhện riêng lẻ đã có sự liên kết với nhau, lác đác đã có
những lá chè biến màu đồng hun, xác nhện trắng nằm rải rác trên bề mặt lá.
Bắt đầu có những biểu hiện ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của cây và suy

20
giảm năng suất búp. Đây chính là thời điểm sử dụng thuốc hóa học có hiệu
quả kinh tế nhất hay nói cách khác nên tiến hành phun thuốc trừ nhện đỏ nâu
khi điều tra thấy mật độ nhện bình quân 4 – 6 con/lá với tỷ lệ lá bị hại tương
ứng trên dưới 30%.
Tác giả Lê Thị Nhung (1996) [11] cũng cho những kết quả tương tự,
mật độ nhện đỏ nâu trong và ngoài bóng cây che bóng có sự sai khác rõ rệt,
tương ứng là 1,05 và 2,31 con/lá.
Nghiên cứu ảnh hưởng của giống đối với sự phát sinh quần thể nhện đỏ,
Nguyễn Văn Đĩnh (1994) [4] đã nhận xét trên 5 giống chè là PH1; 1A; Trung
du; Tham vè và Gia vài thì sự phát triển quần thể nhện đỏ khác nhau không
đáng kể.
Cũng nghiên cứu về ảnh hưởng của giống đến sự phát sinh gây hại của
nhện đỏ nâu, tác giả Nguyễn Thái Thắng (2000) [17] đã điều tra, đánh giá
mức độ gây hại của nhện đỏ nâu trên 6 giống chè là Trung du, PH1, TRI 777,
1A, TH3, LDP1. Kết quả cho thấy hai giống Trung du và PH1 là có mức độ
nhiễm nhện nặng nhất, sau đó đến giống TRI 777 và giống TH3. Hai giống
còn lại có mức nhiễm nhện nhẹ với mật độ trung bình dưới 1 con/lá.
Nhện đỏ nâu (Oligonychus coffeae Nietner) là một trong những đối tượng
gây hại nguy hiểm trên cây chè ở hầu hết các vùng trồng chè của Việt Nam
cũng như trên thế giới. Đặc điểm hình thái và một số đặc điểm sinh học, sinh
thái của nhện đỏ nâu cũng đã được nghiên cứu theo dõi và mô tả từ nhiều năm
nay tại các vùng trồng chè chính của Việt Nam như Phú Thọ, Thái Nguyên,

Hoàng Thị Hợi (1996) [6] cũng đã khảo nghiệm một số thuốc như
Dipterex, Wofatox, Bi 58, Monitor, Bassa, Trebon và Marvik để trừ nhện đỏ.

22
Kết quả nhận thấy các thuốc Dipterex, Wofatox, Bassa có hiệu quả thấp và
nhanh chóng mất hiệu lực sau phun 5 – 7 ngày.
Bên cạnh biện pháp hóa học thì biện pháp sinh học và phòng trừ tổng
hợp IPM đối với nhện đỏ nâu hại chè cũng đã được quan tâm nghiên cứu.
Nguyễn Văn Đĩnh (1993) [3] đã nghiên cứu sử dụng các loài nhện
Amblyseius indicus, Amblyseius anonymus, Phytoseiulus persimilis nhập từ
Hà Lan để kìm hãm sự phát triển của nhện đỏ. Theo tác giả loài Phytoseiulus
persimilis là có tác dụng kìm hãm mạnh nhất sự phát triển của quần thể nhện
đỏ trên đồng ruộng.
Theo Lê Thị Nhung và Nguyễn Mai Thắng (1994) [10], đã tiến hành
nghiên cứu phòng trừ tổng hợp đối với một số loài sâu hại nguy hiểm trên chè
trong đó có nhện đỏ. Kết quả đã nghiên cứu đề ra ngưỡng phòng trừ của nhện
đỏ như sau: Phải phun thuốc khi mật độ nhện điều tra vượt quá 5 con/lá.
Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nếu phun theo ngưỡng mật độ kinh
tế cần phòng trừ sẽ giảm được số lần phun thuốc, giảm lượng thuốc phun và
tăng năng suất rõ rệt búp chè tươi. Ngoài ra việc trồng cây bóng mát trên các
đồi chè có tác dụng làm giảm mật độ của rầy xanh, nhện đỏ, bọ cánh tơ và
bệnh chấm xám, đồng thời cũng làm tăng mật độ và thành phần các loài
thiên địch có ích. Tuy nhiên, ngoài tác động của thời tiết khí hậu ở từng
vùng, sự phát triển số lượng quần thể của nhện đỏ còn liên quan đến vai trò
hoạt động của quần thể các loài ký sinh và bắt mồi ăn thịt ngoài tự nhiên.
Nhằm hướng tới phát triển biện pháp sinh học trong phòng chống nhện đỏ,
một số tác giả đã tập trung nghiên cứu xác định thành phần thiên địch và khả
năng lợi dụng chúng.
Để xây dựng biện pháp phòng trừ nhện đỏ nâu có hiệu quả cao và bền
vững cho từng vùng cụ thể, cần phải tiếp tục nghiên cứu các vấn đề liên quan

giá ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật canh tác đến sự phát sinh phát
triển của nhện đỏ nâu (Oligonychus cofeae Nietner).

25
2.2.4- Nghiên cứu phòng trừ nhện đỏ nâu hại chè bằng việc sử dụng một số
loại thuốc bảo vệ thực vật (thuốc hóa học và thuốc sinh học).
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu.
2.3.1 Nội dung 2.2.1- Điều tra thành phần nhện nhỏ hại chè tại Ba Vì – Hà
Nội, đánh giá mức độ gây hại của nhện đỏ nâu (Oligonychus cofeae Nietner)
trên một số giống chè và thực trạng công tác phòng trừ nhện đỏ nâu hại chè
tại Ba Vì.
- Điều tra thành phần nhện nhỏ hại chè.
Việc điều tra xác định thành phần nhện hại và mức độ phát sinh gây hại
của nhện đỏ theo các giai đoạn sinh trưởng của cây được tiến hành theo
phương pháp điều tra cơ bản dịch hại của Viện Bảo vệ thực vật (1999). việc
định loại thành phần nhện hại chè nhờ sự giúp đỡ của các chuyên gia Viện
Bảo vệ thực vật
Điều tra theo 5 điểm chéo góc, ở mỗi điểm điều tra trên 2m dài theo hàng
chè, quan sát bằng mắt thường kết hợp dùng kính lúp cầm tay, đếm số lượng
cây bị nhện nhỏ hại. Có thể định loại trực tiếp hoặc lấy mẫu và bảo quản mẫu
rồi gửi về phòng côn trùng – Viện Bảo vệ thực vật để giám định các loài chưa
biết.
Mức độ phổ biến của các loài nhện được tính thông qua tần suất xuất
hiện của loài đó trong quá trình điều tra, được tính như sau:
Tổng số điểm điều tra có loài nhện A
Tần suất xuất hiện = x 100
loài nhện A (%) Tổng số điểm điều tra
Dùng dấu + để biểu thị mức độ phổ biến:
+ < 25% số cây có nhện (ít phổ biến)
++ > 25 đến 50% cây có nhện (phổ biến)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status