66
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ HÀ
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH ĐẦU ĐEN DO
HISTOMONAS MELEAGRIDIS GÂY RA TRÊN GÀ NUÔI TẠI HUYỆN
HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG VÀ DÙNG THUỐC ĐIỀU TRỊ BỆNH”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa
Lớp
Khóa học
: Chính quy
: Thú y
: Chăn nuôi thú y
: 41 - TY
: 2009 - 2014
Giảng viên hướng dẫn: TS. Hồ Thị Bích Ngọc
Khoa Chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên - 2013
LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp là một phần quan trọng trong chương trình đào tạo
của nhà trường, là thời gian giúp sinh viên tiếp cận trực tiếp với thực tiễn sản
xuất, hệ thống lại kiến thức, củng cố tay nghề, học hỏi kinh nghiệm, nắm
vững phương pháp nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
vào sản xuất. Đồng thời cũng là khoảng thời gian giúp sinh viên tạo cho mình
khả năng tự lập, khả năng tự tin vào bản thân, lòng yêu nghề, có tác phong
làm việc đúng đắn, có lối sống lành mạnh, có năng lực làm việc để có thể đáp
ứng được nhu cầu của thực tiễn sản xuất.
Được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - Trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, giáo viên hướng dẫn và sự tiếp nhận của cơ
sở thực tập, em đã về thực tập tại 4 xã Danh Thắng, Đức Thắng, Hoàng
Lương, Ngọc Sơn - huyện Hiệp Hòa - tỉnh Bắc Giang thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen do Histomonas meleagridis gây
ra trên gà nuôi tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang và dùng thuốc điều trị
bệnh” .
Trong thời gian thực tập, em đã nhận được sự giúp đỡ của Ban lãnh
đạo địa phương, toàn thể người dân và sự chỉ bảo tận tình của cô giáo
hướng dẫn, cùng sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, em đã hoàn thành khoá
luận tốt nghiệp này.
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng do thời gian có hạn, kinh nghiệm
thực tế còn thiếu, kiến thức chuyên môn còn hạn chế nên trong bản khóa luận
không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong sự đóng góp ý kiến của các
thầy cô giáo, sự đóng góp của bạn bè đồng nghiệp để bản khóa luận hoàn
thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
61
KCTG
Kg
TT
UBND
mm
Nxb
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
Tỷ lệ phần trăm
Nhỏ hơn hoặc bằng
Lớn hơn hoặc bằng
Histomonas meleagridis
Centimet
Cộng sự
Ký chủ trung gian
Kilogram
Thể trọng
Ủy ban nhân dân
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .............................................. 19
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước.....................................................................19
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài .................................................................20
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ............................................................................................... 22
3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu ............................................................. 22
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu........................................................................................22
64
3.1.2. Vật liệu nghiên cứu............................................................................................22
3.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu ................................................................ 22
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu .........................................................................................22
3.2.2. Thời gian nghiên cứu.........................................................................................23
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 23
3.3.1. Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen ở gà tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh
Thái Nguyên .................................................................................................................23
3.3.1.1. Thực trạng công tác phòng bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh đầu
đen nói riêng ở huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang ........................................... 23
3.3.1.2. Nghiên cứu tình hình nhiễm H. meleagridis ở gà qua mổ khám ....... 23
3.3.1.3. Nghiên cứu sự liên quan giữa bệnh đầu đen và bệnh giun kim ở gà . 23
3.3.2. Sử dụng thuốc điều trị bệnh do Histomonas meleagridis ..............................23
3.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 23
3.4.1. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen do H. meleagridis
gây nên ở gà nuôi tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. ..........................................23
3.4.1.1. Phương pháp điều tra công tác phòng chống bệnh ký sinh trùng nói
chung, bệnh đầu đen nói riêng cho gà nuôi tại huyện Hiệp Hòa,
tỉnh Bắc Giang ................................................................................................. 23
3.4.1.2. Bố trí thu thập gà để mổ khám và phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm
4.1.3.3. Tỷ lệ nhiễm H. meleagridis trong số gà không nhiễm giun kim ....... 40
4.1.3.4. Sự ô nhiễm trứng giun kim ở nền chuồng, xung quanh chuồng và
vườn chăn thả gà ............................................................................................. 41
4.2. Sử dụng thuốc điều trị bệnh do Histomonas meleagridis ........................ 43
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................. 49
5.1. Kết luận .................................................................................................... 49
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 48
I. Tài liệu tiếng Việt ........................................................................................ 51
II. Tài liệu tiếng Anh ....................................................................................... 51
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ngành chăn nuôi nước ta đã và đang chiếm một vị trí quan trọng trong
sản xuất nông nghiệp nói riêng và trong cơ cấu nền kinh tế nói chung. Chăn
nuôi với nhiều phương thức phong phú, đa dạng đã góp phần giải quyết việc
làm, nâng cao thu nhập cho người dân, tạo ra các sản phẩm có giá trị cao, phù
hợp với thị hiếu người tiêu dùng.
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn năm 2012, nước
ta có khoảng 310,4 triệu gà.
Việt Nam là nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm có khu hệ
ký sinh trùng phong phú với nhiều giống loài ký sinh gây bệnh cho gia súc,
gia cầm. Bắc Giang là một tỉnh có nhiều địa phương đang phát triển mạnh
nghề chăn nuôi gà. Đặc biệt, trong những năm gần đây, chăn nuôi gà tại
huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đang phát triển khá mạnh. Đây là một huyện
trung du miền núi phía Bắc có điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi gà phát triển.
ở gà.
- Nghiên cứu biện pháp phòng trị và đề xuất quy trình phòng trị bệnh
đầu đen cho gà.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm
dịch tễ bệnh đầu đen do Histomonas meleagridis gây ra trên gà nuôi tại huyện
Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang và dùng thuốc điều trị bệnh.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề ra những biện pháp phòng và trị bệnh một cách có hiệu quả, hạn chế
sự nhiễm Histomonas meleagridis gây ra trên gà, từ đó hạn chế được những
thiệt hại do bệnh gây ra.
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
Theo Lê Văn Năm (2012) [9], bệnh viêm gan ruột truyền nhiễm có tên
khoa học là Hepato-enteritis hay còn gọi là bệnh đầu đen (Black head), hay
bệnh Histomonas avium. Đây là một bệnh ký sinh trùng mới được PGS.TS.
Lê Văn Năm phát hiện ở Việt Nam năm 2010, do một loại đơn bào
Histomonas meleagridis gây ra, làm thiệt hại lớn cho chăn nuôi gà thả vườn
bởi bệnh gây chết tới trên 80% số gà nuôi.
2.1.1. Đặc điểm của đơn bào Histomonas meleagridis ký sinh ở gà
2.1.1.1. Vị trí của đơn bào Histomonas meleagridis trong hệ thống phân loại
động vật nguyên sinh
Trong mô tả đầu tiên của Smith, 1895 [41], H. meleagridis được biết
đến là amip.
màng đơn. Nguyên sinh chất của H. meleagridis chứa ß-glycogen, ribosome
và ARN, một số không bào và hạt nhân. Nhân hình trứng hoặc hình chữ U,
bao gồm một nucleotid. Màng nhân là một màng kép. Trong vùng lân cận của
nhân có bộ máy Golgi.
2.1.1.3. Vòng đời Histomonas meleagridis
Chu trình sinh học của H. meleagridis như sau: trong mô tổ chức của ký
chủ (gà và gà tây), H. meleagridis sản sinh theo phương thức tự nhân đôi
trong tế bào gan, manh tràng và sinh sản mạnh nhất ở giai đoạn thể lưới
(Incistio). Tuy nhiên, H. meleagridis thâm thập, ký sinh vào trong trứng giun
kim và tiếp tục phát triển trong đó như thế nào thì chưa được nghiên cứu kỹ
và chưa có giải đáp thỏa đáng về vấn đề này.
Khi ra khỏi ký chủ, thể hình roi và thể amip chỉ sống được 24 giờ. Điều
kiện khô ráo và nhiệt độ thấp giúp cho H. meleagridis tồn tại lâu trong môi
trường thiên nhiên ngoài cơ thể, khi đó chúng có thể tồn tại hàng năm trong
các trứng của giun kim. H. meleagridis có thể nuôi cấy trong môi trường nhân
tạo, yếm khí, chúng sinh sản bằng hình thức phân đôi (trực phân).
2.1.1.4. Con đường truyền lây
H. meleagridis lây truyền bằng 2 con đường: lây nhiễm trực tiếp và lây
nhiễm gián tiếp qua giun kim.
* Truyền bệnh trực tiếp
Sự lây truyền trực tiếp bệnh đầu đen đã được chứng minh qua thí
nghiệm cho gà khỏe nuốt H. meleagridis. Theo quan điểm của Smith
5
(1895) [41] cũng thí nghiệm cho gà tây khỏe ăn phân và các cơ quan bị tổn
thương của gà bệnh, sau đó theo dõi và nhận thấy gà tây khỏe cũng bị
nhiễm bệnh. Curtice C. (1907) [21] đã làm các thí nghiệm gây nhiễm H.
meleagridis cho gà khỏe theo cách tương tự. Tuy nhiên, các tác giả đều kết
mắc bệnh và tử vong thấp hơn so với gây nhiễm qua lỗ huyệt. Cụ thể, gây nhiễm
qua đường miệng tỷ lệ mắc bệnh là 20%, tỷ lệ chết 2%, trong khi gây nhiễm qua
lỗ huyệt tỷ lệ mắc bệnh 65%, tỷ lệ chết 45%.
Các kết quả trên cho thấy, có thể gây nhiễm bệnh đầu đen cho gà khỏe
bằng 2 đường, qua đường miệng và qua lỗ huyệt. Do ảnh hưởng của axit
đường tiêu hóa nên tỷ lệ nhiễm bệnh không cao khi gây nhiễm qua đường
miệng. Bệnh đầu đen có thể xảy ra bất cứ khi nào lỗ huyệt của gà khỏe tiếp
xúc với phân tươi bị nhiễm mầm bệnh. Ngay sau khi lỗ huyệt gà khỏe tiếp
xúc với phân tươi của gà bệnh, H. meleagridis sẽ di chuyển ngược theo nhu
động ruột vào ký sinh ở manh tràng.
* Truyền bệnh qua giun kim
Trong khi nghiên cứu về bệnh đầu đen, Cushman và cs (1894) [20] đã
nhận thấy, gà và gà tây bị nhiễm bệnh khi chúng được nuôi trên khu vực trước
đó gà và gà tây đã bị mắc bệnh.
Trong thí nghiệm đầu tiên, Curtice C. (1907) [21] đã chứng minh rằng
Histomonas không lây truyền theo chiều dọc từ gà mái đẻ, thông qua trứng,
mặc dù phát hiện gà con sớm bị mắc Histomonosis và chết ở 12 - 14 ngày
tuổi. Tác giả cho rằng, những gà con này đã bị nhiễm bệnh do được nuôi
trong khu đất, nơi mà đàn gà nuôi trước đó đã bị mắc bệnh.
Graybill là người đầu tiên nhận ra mối quan hệ giữa giun tròn Heterakis
và đơn bào Histomonas, khi tác giả cho chim ăn trứng Heterakis mà phôi nghi
là có H. meleagridis.
Jinghuihu (2002) [30] đã đưa ra bằng chứng thuyết phục về hình thái
học của H. meleagridis trong đường sinh sản và trứng của Heterakis dưới
kính hiển vi quang học. Tác giả đã tìm thấy H. meleagridis ở cả giun
Heterakis đực và cái. Trong Heterakis đực, H. meleagridis ở trong lòng ruột,
xâm nhập các tế bào ruột, và trong ống sinh tinh của tinh hoàn, ống dẫn tinh
và túi tinh. H. meleagridis xác định trong tất cả các bộ phận ở đường sinh dục
của Heterakis cái.
Theo Smith (1895) [41], khi gà tây mắc bệnh thì gan và manh tràng là
2 cơ quan bị tổn thương nặng nề nhất. Tác giả đã lấy bệnh phẩm là gan và
manh tràng của gà để nghiên cứu và xác định được nguyên nhân gây bệnh là
8
một sinh vật đơn bào (Amoeba meleagridis). Từ đó, bệnh đã được đặt tên là
bệnh truyền nhiễm Enterohepatitis. Nghiên cứu kỹ hơn, Tyzzer (1920) [42]
đã xác định được nguyên nhân gây bệnh và gọi tên sinh vật đơn bào gây
bệnh đó là H. meleagridis. Từ đó, bệnh cũng được gọi bằng tên khoa học là
Histomonosis. Tuy nhiên, vì lý do tiêu chuẩn hóa đã được đề xuất (năm
1990) về việc sử dụng hậu tố osis cho các bệnh ký sinh trùng, do đó bệnh có
tên khoa học là "Histomonosis" .
Sau sự bùng nổ đầu tiên ở Rhode Island, Histomonosis đã nhanh chóng
lây lan trên đàn gà tây khắp nước Mỹ và gây thiệt hại nhiều nhất trong số các
bệnh gặp trên gà tây.
Một số nước khác ở châu Âu, dịch Histomonosis cũng xuất hiện và đã
được báo cáo ở Áo (Hess và cs, 2006) [26], Bỉ (Bleyen và cs, 2007) [16], và
Ireland (Anonymous, 1894) [14]. Ngày nay, Histomonosis là bệnh phổ biến
trên toàn thế giới (McDougald, 2003) [35].
Ở Việt Nam, bệnh được phát hiện vào tháng 3 năm 2010 (Lê Văn Năm,
2012) [9]. Bệnh gây thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi, làm ảnh hưởng
sâu sắc đến đời sống xã hội của một bộ phận không nhỏ người dân ở nước ta.
Tác giả cũng cho rằng, các trang trại chăn nuôi gà thịt đang bị ô nhiễm nặng
giun kim mà loài giun này được biết đến như 1 vectơ sinh học truyền bệnh
đơn bào H. meleagridis cho gà và gà tây.
2.1.2.2. Những thiệt hại kinh tế do Histomonosis gây ra
Trong những thập kỷ gần đây, Histomonosis đã gây ra thiệt hại nghiêm
trọng cho ngành chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là gà và gà tây. Những năm
Lê Văn Năm (2012) [9], từ sau 2 tuần đến 3 - 4 tháng tuổi, nhưng ở
Việt Nam gà sau 5 tháng vẫn mắc bệnh; ông cho biết thì tuổi gà càng cao
bệnh càng nặng (2 - 5 tháng tuổi).
Theo JingHui Hu (2002) [30], các nghiên cứu cho rằng tuổi của gia
cầm là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới tỷ lệ nhiễm Histomonosis Curtice
(1907) [21] phát hiện ra rằng 90% gà được nuôi mới trong một khu vực đã bị
nhiễm, trong khi chỉ có 20% gà tây được nuôi từ trước trong cùng khu vực đó
bị nhiễm bệnh. Tuy nhiên, Kendall phát hiện ra rằng không có sự khác biệt về
tính nhạy cảm với bệnh ở gà từ 7 tuần đến 20 tháng tuổi khi thực hiện gây
10
bệnh qua trực tràng. Milk (1908) [37] cho rằng, không tìm thấy được căn
nguyên gây bệnh trong gà đã hơn 6 tuần tuổi. Desowitz đã gây nhiễm qua trực
tràng cho gà con và thấy rằng tỷ lệ tử vong cao nhất ở nhóm gà được 21 ngày
tuổi và thấp nhất ở nhóm gà được 34 ngày tuổi.
Kết quả gây nhiễm Histomonosis qua trực tràng cho gà ở các lứa tuổi
khác nhau của Hu J. và cs (2004) [29] một lần nữa chỉ ra được mối quan hệ
giữa tuổi gia cầm với khả năng nhiễm Histomononas. Theo tác giả, gà tuổi
càng cao sức đề kháng với Histomononas càng lớn, trong đó gà ở 3 - 4 tuần
tuổi tỷ lệ mắc bệnh cao nhất.
* Mùa vụ
Gà mắc bệnh ở tất cả các tháng trong năm, nhưng nhiều nhất từ tháng 4
đến tháng 9 hàng năm.
* Điều kiện vệ sinh thú y
Điều kiện vệ sinh thú y đối với chuồng trại và khu vực xung quanh
chuồng trại, dụng cụ và môi trường chăn nuôi là một trong những yếu tố có
ảnh hưởng lớn tới khả năng nhiễm Histomonas meleagridis của gà. Điều này
có liên quan mật thiết với sự tồn tại và phát triển của giun kim - môi giới
sức và chết rất nhanh.
2.1.2.5. Triệu chứng và bệnh tích bệnh đầu đen
* Triệu chứng
Theo Lê Văn Năm (2012) [9], đây là bệnh đặc thù của gà và gà tây
nuôi theo phương thức tập trung thả vườn. Bệnh xuất hiện và mức độ bệnh
phụ thuộc vào tuổi gà và điều kiện vệ sinh môi trường. Thời gian ủ bệnh dài
từ 7 - 28 ngày. Bệnh có 2 thể biểu hiện cấp tính và mãn tính.
* Thể quá cấp và cấp tính
- Bệnh xảy ra đột ngột: gà bỏ ăn, ủ rũ, xù lông, sốt rất cao, rúc đầu vào
nách cánh đứng run hoặc tìm chỗ có ánh sáng, có nhiệt để sưởi (mặc dù trời
rất nóng).
- Tiêu chảy lúc đầu loãng vàng nhiều bọt, sau đó chuyển sang lẫn máu
rất giống bệnh cầu trùng, vài ba ngày sau (sau khi người chăn nuôi dùng
thuốc cầu trùng điều trị) thì phân chuyển sang thành thỏi nâu đỏ nhạt như
gạch non, cuối cùng gà ỉa ra phân loãng đặc có màu trắng lờ lờ như nước vo
gạo đặc hay như nước cháo loãng.
12
- Da mép, da vùng đầu rồi cả mào, tích có màu xám nhạt dần dần
chuyển sang xám xanh (nhìn rõ nhất ở gà tây), hoặc xám xanh thẫm, có lẽ từ
đây bệnh có tên gọi là bệnh đầu đen (Black Head).
Gà bỏ ăn nên rất gầy, do rét nên thường thấy chúng run hoặc co giật,
lúc này thân nhiệt xuống dưới mức bình thường và gà sẽ chết sau 1 - 2 ngày.
Lúc đầu chúng chết rải rác về đêm, sau tăng dần số và chết cả ban ngày. Nếu
không được điều trị gà sẽ chết lên đến 80 - 95% tổng đàn.
* Thể mãn tính
Đây là thể bệnh thường xảy ra ở gà lớn tuổi (trên 5 tháng) với những
biểu hiện như trên, nhưng với cường độ bệnh nhẹ hơn, tỷ lệ chết ít hơn, bệnh
nhỏ hoặc lớn. Vết loét có thể vỡ ra tràn phân và dịch viêm vào xoang bụng
gây viêm dính xoang bụng với ruột. Trong thành ruột khi cắt ngang có những
đám bã đậu trắng.
Theo Roberto (2011) [38], các tổn thương quan sát được sau khi mổ
khám thường là manh tràng dày lên, chứa dịch rỉ viêm màu vàng hoặc ổ
hoại tử.
* Biến đổi ở gan
Gan sưng to gấp 2 - 3 lần, mềm nhũn và nhìn thấy hai quá trình biến
đổi đặc trưng: lúc đầu gan bị viêm, xuất huyết làm cho bề mặt gan lỗ chỗ có
hình hoa cúc, sau đó các điểm xuất huyết này tạo ra các ổ viêm loét hoại tử
thành các ổ bã đậu màu trắng to từ hạt kê đến hạt ngô to, thậm chí đường kính
to 1 - 2 cm, giống ổ lao hoặc khối u của bệnh Marek (Lê Văn Năm, 2012) [9].
Theo Roberto (2011) [38], gan sưng to, xuất hiện các tổn thương trên
gan như: gan viêm xuất huyết hoặc bị hoại tử do có chứa các tế bào chết. Các
tổn thương này cần được chẩn đoán phân biệt với các tổn thương ở bệnh cầu
trùng và Salmonella gây ra trên gà. Để tăng độ chính xác của chẩn đoán cần
mổ khám kiểm tra những gà mới chết và gà còn sống.
2.1.2.6. Chẩn đoán bệnh đầu đen
* Với gà còn sống
- Chẩn đoán lâm sàng: hiện nay, ở các cơ sở chăn nuôi, việc chẩn đoán
đối với gà còn sống chủ yếu dựa vào các triệu chứng của bệnh như gà giảm
ăn, uống nhiều nước, gà run cơ, sốt cao đến khi sắp chết thân nhiệt hạ. Ỉa chảy
phân vàng nhớt hay ỉa ra máu (Nguyễn Trọng Tâm, 2012) [10].
14
- Chẩn đoán xét nghiệm: lấy phân màu lưu huỳnh của gà ốm, làm xét
nghiệm, nếu quan sát dưới kính hiển vi tìm thấy trứng của giun kim sẽ giúp
cho việc chẩn đoán dễ dàng hơn.
trong các cơ quan khác như trong não hoặc tuyến ức …, nơi mà các phương
pháp thông thường không thể chẩn đoán được sự có mặt ký sinh trùng này
(Huber và cs, 2005) [27].
* Chẩn đoán phân biệt với một số bệnh khác
- Bệnh Leucosis
Là bệnh gây ra do một loại đơn bào ký sinh. Sự khác biệt của 2 bệnh
này là: trong bệnh Leucosis gan gà to gấp 4 - 5 lần bình thường, có các khối u
đặc trưng màu trắng, khi bổ đôi khối u ra thì khối u luôn ướt, đồng màu,
không có xuất huyết, không có hoại tử, không có nội chất trên khối u đó.
Khác với bệnh Marek’s khối u trong bệnh Leucosis tập trung chủ yếu ở gan
lách, buồng trứng, túi Fabricius, rất ít khi hoặc hầu như không thấy khối u ở
ruột, màng treo ruột và u dạ dày tuyến, càng không có u ở phổi, cơ, da, mắt,
thần kinh... (Lê Văn Năm, 2004) [8]
- Bệnh Marek’s
Bệnh Marek’s do AND Herpes virus typ B gây ra, bệnh nổ ra rầm rộ,
có nhiều gà bị bệnh với một hoặc ba triệu chứng: thần kinh, ức chế và các
biến đổi ở da và mắt. Trong bệnh Marek’s hầu hết các cơ quan đều có biến
đổi khối u như: khối u ở gan, lách, buồng trứng, thận, tim, dạ dày tuyến, da,
mắt, dây thần kinh ngoại biên… Các khối u này khi bổ đôi quan sát kỹ sẽ
thấy: khối u khô, có màu loang lổ hoặc xuất huyết hoặc hoại tử hoặc có chứa
nội chất khác thường (Lê Văn Năm, 2004) [8].
- Bệnh cầu trùng
Bệnh cầu trùng do Eimeria tenella gây ra cũng có các biến đổi giống
như các biến đổi của bệnh do Histomonas meleagridis gây ra. Nhìn từ ngoài
vào qua thành ruột ở bệnh cầu trùng ta thấy rõ các nốt đỏ xen lẫn các điểm
trắng, khi tách ruột ra thì thấy chất chứa bị lẫn máu hoặc toàn cục máu đông,
thậm chí máu tươi, trong khi đó chất chứa do Histomonas meleagridis gây ra
lúc đầu cũng lẫn máu khó đông giống như bệnh cầu trùng, nhưng về giai đoạn